BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TẠ THỊ HẢI YẾN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHOÁN VƯỜN CÂY CAO SU
CHO HỘ CÔNG NHÂN CỦA CÔNG TY TNHH MTV
CAO SU QUẢNG TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN VĂN HÒA
Huế, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn. Các số liệu và thông tin trích dẫn được nêu trong luận văn này đã được ghi
rõ nguồn gốc.
Huế, ngày 28 tháng 2 năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Thị Hải Yến
ii
Tạ Thị Hải Yến
Chuyên ngành:
Quản trị kinh doanh Niên khóa : 2012- 2014
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN VĂN HOÀ
Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHOÁN VƯỜN CÂY CAO SU CHO HỘ
CÔNG NHÂN CỦA CÔNG TY TNHH MTV CAO SU QUẢNG TRỊ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Trị là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ có nhiều tiềm năng để phát triển cây
công nghiệp, trong đó cao su được xác định là cây trồng chính, cây kinh tế mũi
nhọn của tỉnh. Phát triển cao su là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giúp
cho các hộ nông dân nghèo có điều kiện ổn định sản xuất, phát triển kinh tế gia đình
theo mô hình kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc giao đất, giao khoán vườn cây
lâu dài cho người lao động, Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị đã chú trọng,
triển khai để cho người lao động tự làm chủ trên luống cày của họ. Mặc dù thời gian
qua công ty đã có nhiều cố gắng thành lập Ban giao khoán, xây dựng và triển khai
các phương án khoán cụ thể cho hộ công nhân, tuy nhiên đến nay mô hình khoán
vườn cây cao su cho hộ vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nảy sinh.
Xuất phát từ đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: ”Hoàn thiện công tác khoán
vườn cây cao su cho hộ công nhân của Công ty TNHH MTV cao su Quảng
Trị” làm luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng khoán vườn cây cao su
cho hộ công nhân, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác khoán vườn cây
cao su của hộ công nhân của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị đến năm 2020.
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
- Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giao khoán sản
phẩm trong nông nghiệp và giao khoán vườn cây cao su;
Diện tích
ĐVT
Đơn vị tính
GKVC
Giao khoán vườn cây
GNK
Giao nhận khoán
GNKVC
Giao nhận khoán vườn cây
IRSG
Tập đoàn nghiên cứu cao su quốc tế
KD
Kinh doanh
KTCB
Kiến thiết cơ bản
Tài sản cố định
VRG
Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam
v
MỤC LỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ.....................................................i
Huế, 2014................................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................ii
LỜI CẢM ƠN.........................................................................................................iii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN......................................................................................iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................v
MỤC LỤC............................................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................vii
PHẦN I. MỞ ĐẦU...................................................................................................1
PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU....................................................................5
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHOÁN VƯỜN CÂY CAO SU
CHO HỘ CÔNG NHÂN.........................................................................................5
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHOÁN VƯỜN CÂY CAO SU
CHO HỘ CÔNG NHÂN CỦA CÔNG TY TNHH MTV CAO SU QUẢNG TRỊ
................................................................................................................................. 39
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHOÁN VƯỜN CÂY
CAO SU CHO CÁC HỘ CÔNG NHÂN............................................................103
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................117
Bảng 2.12. Sản lượng, năng suất mủ cao su giao khoán cho hộ CN của Cty giai
đoạn 2010-2012......................................................................................................71
Bảng 2.13. Đơn giá khoán theo từng loại cao su của Cty qua 3.........................73
năm 2010-2012.......................................................................................................73
Bảng 2.14. Định mức các loại vật tư trang bị theo khoán vườn cây của Cty giai
đoạn 2010-2015......................................................................................................73
vii
Bảng 2.15. Định mức dụng cụ cạo mủ giao khoán theo tấn sản phẩm làm được
của Cty giai đoạn 2010-2015.................................................................................74
Bảng 2.16. Kết quả thực hiện khoán vườn cây cao su của Cty qua 3 năm 20102012......................................................................................................................... 75
Bảng 2.17. Thông tin chung về cán bộ công ty được điều tra.............................80
Bảng 2.18. Thông tin chung về các cán bộ công ty được điều tra......................80
Bảng 2.19. Thông tin chung về hộ CN nhận khoán được điều tra.....................83
viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Một trong những cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao của miền
Trung nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng đó là cây cao su. Thật vậy, cao su
thiên nhiên được xem là một trong những nguyên liệu chủ yếu của ngành công
nghiệp hiện đại, chỉ đứng sau dầu mỏ, than đá và sắt thép. Không chỉ mang lại hiệu
quả kinh tế cao, sản xuất cao su còn mang lại hiệu quả xã hội và cải thiện môi
trường sinh thái. Sản phẩm chính của nó là mủ cao su - nguồn nguyên liệu quan
trọng cho ngành công nghiệp, ngành vận tải. Do tính chất lý học và hóa học đặc biệt
của cao su tự nhiên mà cao su nhân tạo không thể thay thế dùng để sản xuất một số
Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất về mục đích Nông nghiệp, Lâm nghiệp trong
các doanh nghiệp nhà nước là cơ sở pháp lý cho việc giao khoán. Chủ trương giao
đất, giao khoán vườn cây lâu dài cho người lao động đã được Công ty TNHH MTV
cao su Quảng Trị chú trọng, tạo bước đột phá, không để tình trạng bao cấp kéo dài
mà phải để cho người lao động tự làm chủ trên luống cày của họ.
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững, hài hòa chia sẽ lợi ích và tối đa hóa
lợi nhuận từ vườn cây cao su của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị, đồng thời
thực hiện đúng chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước về việc tạo công ăn
việc làm góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo giúp các hộ công nhân có cuộc
sống khá giả hơn và có công việc ổn định lâu dài đòi hỏi phải có một mô hình giao
khoán vườn cây cao su kinh doanh hoàn thiện hơn.
Xuất phát từ thực tế đó, qua nghiên cứu tìm hiểu về chủ trương giao khoán
vườn cây lâu dài cho người lao động tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: ”Hoàn thiện
công tác khoán vườn cây cao su cho hộ công nhân của Công ty TNHH MTV
cao su Quảng Trị”
2. Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của công tác khoán trong nông nghiệp nói chung và khoán
vườn cây cao su nói riêng là gì?
- Thực trạng công tác giao khoán vườn cây cao su cho hộ công nhân của
Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị trong những qua như thế nào?
- Những nhân tố chủ yếu nào ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giao khoán
vườn cây cao su cho hộ công nhân của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị?
- Những giải pháp chủ yếu nào nhằm hoàn thiện công tác khoán vườn cây
cao su của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị?
2
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Thông tin số liệu sơ cấp: Đề tài tiến hành chọn khảo sát 180 hộ công nhân
nhận khoán vườn cây cao su của công ty và 60 cán bộ nhân viên công ty, đội
trưởng, đội phó các đội giao khoán nhằm phân tích so sánh ý kiến nhận xét của hai
đối tượng trên (đối tượng giao khoán và đối tượng nhận khoán) về công tác khoán
vườn cây cao su của công ty thời gian qua. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo
danh sách cán bộ và hộ nhận khoán ở các đội của công ty. Phương pháp thu thập
bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp các cán bộ và hộ đã chọn.
5.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích
Phương pháp thống kê mô tả: tất cả các thông tin số liệu thu thập được hệ
thống thành các tiêu chí cụ thể được mô tả qua các biểu bảng, biểu đồ, đồ thị.
Phương pháp phân tổ thống kê: Phân và nhóm các thông tin số liệu thành các
tổ theo các tiêu chí nhất định để phân tích.
Phương pháp thống kê so sánh: nhằm so sánh các chỉ tiêu khác nhau qua
không gian, thời gian để đánh giá nhận xét.
Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Trong quá trình nghiên cứu đề tài,
chúng tôi sẽ tiến hành tham khảo các ý kiến của các cơ quan chức năng như Sở
NN&PTNT; Trung tâm khuyến nông tỉnh, huyện; Phòng nông nghiệp, Phòng thống
kê huyện. Chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến với các chuyên gia có kinh nghiệm của
công ty trong công tác khoán vườn cây cao su đến hộ công nhân.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận và thực tiễn về công tác khoán vườn cây cao su cho hộ
công nhân;
Chương 2. Thực trạng công tác khoán vườn cây cao su cho hộ công nhân của
Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác khoán vườn cây cao
su cho các hộ công nhân của Công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị
Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của
5
cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi
trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là
“Nước mắt của cây” (cao là gỗ, Uchouk là chảy ra hay khóc).
Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn
tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang
Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil. Năm 1898, một đồn điền trồng CS
đã được thành lập tại Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng CS nằm tại
Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới.
Ở Trung Quốc có toàn bộ diện tích (DT) CS 776.000 ha, nằm trong vùng
ngoài truyền thống, riêng tỉnh Vân Nam đã bắt đầu trồng CS từ đầu thập niên 1950
hiện có trên 300.000 ha, trong đó có những vùng CS giáp giới với Việt Nam thuộc
hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Tại Myanma DT CS đã trồng được gần 400,000 ha.
Tại Lào đã trồng được 140.626 ha tập trung chủ yếu vùng Bắc Lào, giáp Tây Bắc
Việt Nam. Như vậy CS vùng núi phía Bắc được bao bọc bởi các vùng CS đã và
đang được phát triển, là kinh nghiệm tốt cho phát triển CS vùng núi phía Bắc của
Việt Nam. Sự phát triển cây CS tại các vùng lân cận khẳng định sự phù hợp của cây
CS về mặt sinh thái trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Ở Việt Nam, năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây CS ở Việt Nam.
Công ty (Cty) CS đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh,
Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và Cty CS ra đời, chủ yếu là của
người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số
đồn điền CS tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Đến năm 1920, miền Đông
Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.
Cây CS được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong
giai đoạn 1960 - 1962, trên những vùng đất có độ cao 400 - 600 m so với mực nước biển,
+ Ngoài nước: Giống Trung Quốc tại vùng Vân Nam, giáp với Lai Châu và
có điều kiện sinh thái vùng tương tự như ở Lai Châu và Sơn La cho thấy các giống
Trung Quốc YITC 77-2 (Yunyan 77-2) và YITC 77-4 (Yunyan 77-4) là các giống
đang được khuyến cáo trồng, có khả năng chống chịu lạnh và cho năng suất khá,
các giống này cũng đã được trồng ở Bắc Lào là cơ sở cho việc xem xét nhập nội.
Đặc điểm cây cao su
Cây CS có thể cao đến 40m, vòng thân cách mặt đất từ 1m đến hơn 5 m, tuổi
thọ có thể đến 100 năm. Rễ trụ dài 3 - 5 m, nhiều rễ ngang, vươn xa 6 – 10 m. Thân
7
thẳng đứng, hình trụ tròn, thường phân cành ở độ cao 2,00 -2,50 m. Lá kép hình
lông chim, ba lá chét, mọc cách, tán gọn. Vỏ thân có 3 lớp, lớp thứ 3 trong cùng là
lớp da lụa, có nhiều mạch mủ. Hoa đơn tính cùng gốc, mọc thành chùm lớn, quả
nang có 3 vỏ, 3 buồng, mỗi buồng có 1 hạt, khi chín quả nứt dọc, bắn tung hạt ra.
Hạt hình tròn hoặc bầu dục, màu nâu co vân.
Tuy nhiên, khi được nhân trồng trong SX, thì đặc điểm như sau:
Chiều cao trung bình: 25 - 30 m
Tuổi thọ trung bình: 30 - 40 năm
Mật độ trung bình: 450 - 555 cây/ha
Nhiệt độ trung bình thích hợp: 250C - 300C, nếu trên 400C và dưới 100C đều
ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và năng suất cho mủ. Ở nhiệt độ 25 - 27 0C là
nhiệt độ tối thích để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Lượng mưa tối thiểu để cây sinh trưởng bình thường 1500 - 2000 mm/năm.
Số ngày mưa thích hợp: 100 – 150 ngày mỗi năm.
Lượng giờ nắng tối thiểu cần thiết: 1600 giờ nắng/năm, là cây ưa sáng, thời
gian và cường độ chiếu sáng càng nhiều giúp cho quá trình quang hợp cây càng
nhiều, ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của cây, tăng sức đề kháng
cho cây.
sự sinh trưởng các tầng lá theo chu kỳ và mọc ra trên thân chính. Đường kính thân
tăng trưởng chậm hơn chiều cao rất nhiều.
Giai đoạn 2: Giai đoạn KTCB
Là khoảng thời gian từ 5 – 7 năm đầu tiên kể từ khi trồng cây, tuỳ vào từng
giống CS. Đây là khoảng thời gian cây CS đạt 50cm đo cách mặt đất 1m. Tùy điều
kiện sinh thái, chăm sóc và giống, như ở miền Trung thì thông thường thời gian
kiến thiết từ 6 – 7 năm.
Tuy nhiên, nếu chăm sóc và quản lý vườn cây đúng quy trình chọn giống và
sử dụng đúng những vật liệu cần thiết thì có thể rút ngắn thời gian KTCB.
Giai đoạn 3: Giai đoạn KD
Đây là giai đoạn dài nhất, bắt đầu từ khi cây có khả năng khai thác mủ đến
lúc cây bị thanh lý. Căn cứ vào sự biến thiên về năng suất hằng năm, người ta chia
thời kỳ này thành 04 giai đoạn: giai đoạn đầu KD, giai đoạn thịnh vượng, giai đoạn
cầm chừng và giai đoạn suy thoái.
9
Giai đoạn đầu KD: Khoảng từ năm thứ 8 - 10: giai đoạn này cây tiếp tục
sinh trưởng mạnh, cành nhánh, chu vi thân (vanh), độ dày vỏ, sản lượng mủ cũng
tăng nhanh.
Giai đoạn thịnh vượng: Khoảng từ năm thứ 11 đến năm thứ 16: giai đoạn này
cây càng tăng trưởng mạnh, sản lượng mủ tăng rất nhanh và đạt mức cao nhất. Tốc độ
tăng sản lượng hàng năm phụ thuộc vào giống, chế độ khai thác và chăm sóc.
Giai đoạn cầm chừng: Khoảng từ năm thứ 17 đến năm thứ 19: giai đoạn này
sản lượng mủ của cây không thể tăng được nữa, vẫn duy trì ở mức sản lượng khá
cao, giai đoạn này lâu hay ngắn tuỳ thộc nhiều vào việc khai thác ở 2 giai đoạn
trước và việc chăm bón phân cho cây.
Giai đoạn suy thoái: Khoảng từ năm thứ 21 đến năm thứ 22: khi vườn cây
có hiện tượng giảm năng suất mủ trong nhiều năm liền thì vườn cây đã bước vào
gió từ 8-13,8m/giây (gió cấp 5- cấp 6) sẽ làm lá non bị xoắn lại, lá bị rách nên sẽ
ảnh hưởng đến việc tăng trưởng và phát triển của cây CS. Bản thân cây CS có tính
giòn, dễ gãy nên gió quá mạnh sẽ làm cây gãy đỗ và bị xóa sổ vườn cây [24].
- Giờ chiếu sáng: Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt cho cây CS bình quân từ
1800-2800 giờ/năm. Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản
lượng cao. Nếu sương mù quá nhiều gây ra một tiểu khí hậu ẩm ướt sẽ tạo cơ hội
cho các loại nấm bệnh phát triển và tấn công cây CS như trường hợp bệnh phấn
trắng trong thời gian qua.
Điều kiện địa hình: Cây CS có khả năng sinh trưởng tốt ở địa hình không
cao so với mực nước biển, thường ở địa hình bằng phẳng hoặc dốc < 5o là tốt nhất.
Nếu có độ dốc cao, sẽ bị rửa trôi lớn, sạt lở và nếu là trong lòng chảo có độ cao thấp
sẽ gây tình trạng ngập úng. Do vậy, cây CS được phân bổ chủ yếu trên vùng đất gò
đồi và núi thấp, có địa hình chia cắt nhẹ, dốc thoải, thoát nước tốt. Nếu điạ hình quá
cao so với mực nước biển thì cây càng chậm lớn và năng suất thấp. Hơn nữa, những
DT ở trên đất dốc sẽ phải có chi phí về hệ thống đê, mương lớn cũng như sẽ gặp
khó khăn trong công tác cạo mủ, thu mủ,vận chuyển mủ về nhà máy chế biến.
Điều kiện về đất đai: Cây CS có thể phát triển trên các loại đất khác nhau, ở
vùng khí hậu nhiệt đới ẩm ướt, nhưng hiệu kinh tế của cây là một vấn đề cần lưu ý khi
nhân trồng CS trên quy mô lớn vì chu kỳ SX và KD kéo dài, đầu tư lớn, nên sẽ rủi ro
cao nếu không có sự tính toán kỹ lưỡng. Do vậy việc lựa chọn các vùng đất thích hợp
cho cây CS là một vấn đề cơ bản cần được đặt ra.
11
- Cao trình: Cây CS thích hợp với các vùng đất có cao trình tương đối thấp.
Càng lên cao càng bất lợi do nhiệt độ thấp dần và gió càng mạnh. Độ cao thích hợp
nhất là 500-600m so với mực nước biển.
- Độ dốc: Đất càng dốc thì độ xói mòn càng lớn, khiến cho chất dinh dưỡng
ở trong đất nhất là lớp đất mặt bị mất đi. Khi trồng cây CS ở vùng đất dốc nên có hệ
Phụ thuộc nhiều vào thời tiết ở địa phương, ở khu vực Nam Đông, do thời
gian mùa mưa đến sớm nên chỉ có thể cạo được 180 ngày (nhát cạo) trong 1 năm.
Độ sâu cạo mủ:
Cạo cách tượng tầng 1,00 - 1,20mm (1mm cho lát cạo xuôi; 1,20 - 1,50mm
cho lát cạo ngược). Độ sâu lát cạo thích hợp nhất là 1,00 - 1,05 mm.
Tóm lại, cạo mủ CS là một công việc đòi hỏi sự khéo léo, trình độ kỹ thuật
và tính kỷ luật cao. Sự khai thác CS hợp lý sẽ tạo nên sự cân bằng giữa hoạt động
tái tạo mủ của các tế bào ống mủ với những hoạt động sinh lý khác trong cây nhằm
đảm bảo thu được lượng mủ cao mà không ảnh hưởng đến đời sống lâu dài của cây
mang lại hiệu quả kinh tế cho cây CS.
1.1.3. Vị trí, vai trò, ý nghĩa kinh tế của cây cao su
Cây CS được nhân trồng với quy mô lớn trên thế giới là nhờ vào sản phẩm
đặc biệt của cây là mủ CS, đó là một nguyên liệu cần thiết trong nhiều ngành công
nghiệp hiện nay. Ngoài ra cây CS còn cho các sản phẩm khác cũng có công dụng
không kém phần quan trọng như: gỗ, dầu hạt... Cây CS còn có tác dụng bảo vệ môi
trường sinh thái, cải thiện vấn đề kinh tế xã hội nhất là các vùng miền núi, góp phần
bảo vệ an ninh quốc phòng tại các vùng biên giới.
Theo các chuyên gia ở Tập đoàn CS Việt Nam, vào năm 2010, DT CS có thể
đạt mức 700.000 ha; trong đó DT khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha và cho sản
lượng trên 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ được ở mức trên 1 tỷ USD.
Đến năm 2015, DT khai thác đạt 520.000 đến 530.000 ha, và sản lượng ước đạt
750.000 - 800.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 1,5 - 1,6 tỷ USD. vị thế của ngành
CS Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định. Trước năm 2005, Việt Nam
là nước SX CS thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan,
Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc).
Năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn
lên hàng thứ 5. Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4,
với sản lượng tăng dần qua các năm, từ 273.400 tấn (năm 2000), lên 308.100 tấn
13
năm. Như vậy mỗi năm có khoảng 20.000 ha CS thanh lý sau khai thác nhựa .
14
Những DT này đưa vào khai thác cho sản lượng bình quân 50m 3 gỗ CS/ha, hàng
năm cung cấp ra thị trường khoảng 1 triệu m3 gỗ để làm hàng mộc xuất khẩu.
Các chuyên gia cũng cho biết, trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành
CS, có cả phần xuất khẩu đồ gỗ CS vào khoảng 190 triệu USD, tức chiếm khoảng
10% trong năm 2006. Triển vọng xuất khẩu đồ gỗ từ cây CS trong tương lai sẽ còn
gia tăng, ước đạt 400-500 triệu USD/năm là hoàn toàn khả thi. Ngoài ra, với việc
cải thiện các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm mủ CS ngày càng hiện đại hơn,
chắc chắn giá trị gia tăng của các ngành hàng CS sẽ còn cao hơn.
Các sản phẩm kinh tế
+ Mủ cao su nguyên liệu
Sản phẩm chủ yếu của CS là mủ CS với các đặc tính hơn hẳn CS tổng hợp về
độ giãn, độ đàn hồi cao, chống đứt, chống lạnh tốt, ít phát nhiệt khi cọ xát, dễ sơ
luyện... Mủ CS là nguyên liệu không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày của
con người. Các sản phẩm CS có thể chia thành các loại chính như: Vỏ, ruột xe; các vật
dụng phục vụ cho công nghiệp, y tế...
+ Gỗ cao su
Khi CS hết niên hạn kinh tế phải thanh lý thì gỗ CS là một sản phẩm rất quan
trọng, một nguồn kinh tế đáng kể. Sản lượng gỗ tùy thuộc vào mật độ cây còn lại trên
vườn và vào độ lớn của cây (đường kính, chiều cao cây...), nếu tính bình quân vườn cây
CS khi thanh lý còn 200 cây với sản lượng gỗ bình quân là 0,25 - 0,3 m3 gỗ/cây thì mỗi
ha CS có được 50 - 60 m3 gỗ và một khối lượng củi ước lượng từ 30 - 40% lượng gỗ. Gỗ
CS đang được giới tiêu thụ trên thế giới ưa chuộng.
+ Dầu hạt cao su
Vườn cây CS trưởng thành (6-7 tuổi trở lên) hàng năm sẽ SX hạt CS với
khối lượng 200-300kg/ha.
thống và chuyên môn hóa cao hơn.
- Khoán vườn cây CS cho hộ CN giúp thu hút được đông đảo CN tham gia,
việc quản lý dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, làm nhiều hưởng nhiều làm ít
hưởng ít.
- Khoán vườn cây CS cho hộ CN tạo điều kiện cho CN ngày nào cũng có
mặt trên cả 2 vườn cây cho nên hạn chế việc bảo quản vườn cây, vật tư.
- Khoán vườn cây CS cho hộ CN tạo điều kiện cho công tác chăm sóc, phòng
cháy, phòng bệnh cho cây CS thuận lợi hơn khoán 2 vườn xa nhau trong thời gian
chờ trút mủ có thể chùi bát, làm cỏ, vệ sinh cho vườn chưa cạo.
16
1.1.4.2. Nguyên tắc giao khoán và đối tượng nhận khoán vườn cây cao su
1.1.4.2.1. Nguyên tắc giao khoán vườn cây cao su
GKVC CS cho hộ CN cần dựa trên các nguyên tắt sau đây:
- Giao khoán lâu dài cho hộ CN với thời hạn 10 năm để CN yên tâm LĐ SX,
hàng năm có tổng kết bổ sung, vợ chồng hoặc con cái của người nhận khoán có
quyền tiếp tục nhận khoán khi có đủ điều kiện theo Cty quy định (là người đã được
đào tạo cạo mủ, được Cty tuyển vào làm hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn).
- Bảo đảm lợi ích của Cty và CN hài hoà trong điều kiện như nhau, phải điều
chỉnh cho mức thu nhập của các phần cây nhận khoán không chênh lệch quá 10 – 15%.
- Bảo đảm quyền giám sát của Cty đối với việc đầu tư khai thác vườn cây
đúng quy trình kỹ thuật.
- Nguyên tắc chung là không áp đặt nhận bao nhiêu cây cạo nhưng tối thiểu 1
người nhận khoán phải từ 1.100 cây cạo trở lên (2 phần cạo).
- Đối tượng nhận khoán: Người nhận khoán phải là CN trực tiếp SX được
Cty hợp đồng LĐ. Đối với CN nhận khoán vườn cây KTCB phải còn đủ thời gian
công tác để chăm sóc CS hết thời gian KTCB, nếu không đủ thời gian công tác để
chăm sóc CS KTCB, thì phải có con thay thế mới được nhận khoán. Khi người CN