Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp về các yếu tố cấu thành văn phòng ảnh hưởng đến hoạt động hành chính văn phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở bình dương - Pdf 38

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................................................3
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu.....................................................................................3
5. Ý nghĩa của đề tài............................................................................................................................4
6. Kết cấu của đề tài............................................................................................................................4
B. PHẦN NỘI DUNG.................................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN PHÒNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG HÀNH CHÍNH VĂN PHÒNG...........................................................................................................5
1.1. Một số quan niệm về văn phòng..................................................................................................5
1.1.1. Sự tồn tại tất yếu khách quan của văn phòng........................................................................5
1.1.2. Khái niệm văn phòng.............................................................................................................5
1.2. Vị trí, vai trò của văn phòng..........................................................................................................6
1.2.1. Vị trí của văn phòng...............................................................................................................6
1.2.2. Vai trò của văn phòng............................................................................................................7
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng............................................................................................8
1.3.1. Chức năng của văn phòng......................................................................................................8
1.3.2. Nhiệm vụ của văn phòng.....................................................................................................10
1.4. Yếu tố con người........................................................................................................................13
1.5. Hệ thống trang thiết bị...............................................................................................................14
1.6. Hệ thống nguyên tắc thủ tục .....................................................................................................15
1.7. Hệ thống nghiệp vụ hành chính văn phòng................................................................................18
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN PHÒNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
HÀNH CHÍNH VĂN PHÒNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Ở
BÌNH DƯƠNG........................................................................................................................................19
2.1. Vài nét khái quát về các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương......19

1


tỉnh, mà đặc biệt là Bình Dương. Bởi vậy, em quyết định lựa chọn đề tài “Phân tích
thực trạng về các yếu tố cấu thành văn phòng ảnh hưởng đến hoạt động hành chính
văn phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình
Dương” làm bài tiểu luận kết thúc môn cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thực tiễn về các yếu tố cấu thành văn phòng ảnh hưởng đến hoạt động
hành chính văn phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở
Bình Dương; phân tích những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại và bất cập.
Từ các kết quả khảo sát thực tế đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác tổ chức của văn phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn phòng
về phương diện lý luận và thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu.
+ Không gian: Các yếu tố cấu thành văn phòng ở Bình Dương.
+ Thời gian: Khảo sát thực tế tại cơ quan từ ngày 03/09/2016 đến 16/09/2016.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp quan sát thực tiễn
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp thu thập tài liệu từ cơ quan.
3


5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đi sâu phân tích và nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn phòng để thấy
được mức độ ảnh hưởng đến hoạt động hành chính văn phòng trong các cơ quan hành
chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận bài tiểu luận được chia thành 3 chương:
+ Chương 1. Cơ sở lý thuyết của các yếu tố cấu thành văn phòng ảnh hưởng đến

1.1.2. Khái niệm văn phòng
Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về văn phòng, ở các góc độ tiếp cận khác
nhau thì khái niệm về văn phòng cũng khác nhau.
Nếu tiếp cận văn phòng theo phương diện tổ chức thì văn phòng là một đơn vị cấu
thành tổ chức để thực hiện một phần chức năng nhiệm vụ của tổ chức.

5


Khi tiếp cận văn phòng theo tiêu chí chức năng thì văn phòng là một thực thể tồn
tại để thực hiện các chức năng tham mưu, tổng hợp, hậu cần cho cơ quan, tổ chức.
Còn tiếp cận văn phòng theo tính chất hoạt động thì văn phòng là một thực thể
tồn tại để thực hiện việc quản lý thông tin phục vụ cho công tác điều hành của nhà
quản trị.
Ngoài ra, nghiên cứu theo góc độ thực tế, văn phòng còn có thể hiểu là phòng
làm việc của nhà lãnh đạo.Văn phòng là trụ sở làm việc của cơ quan, của tổ chức, là
địa điểm của mọi cán bộ, công chức hàng ngày đến đó để thực thi công việc.Văn phòng
là bộ máy điều hành tổng hợp của cơ quan, của tổ chức.
Tóm lại:
Văn phòng là một thực thể tồn tại khách quan trong mỗi tổ chức, là bộ máy điều
hành tổng hợp của cơ quan, là nơi thu thập và xử lý thông tin nhằm hỗ trợ cho hoạt
động quản lý của nhà lãnh đạo, là nơi chăm lo mọi vấn đề về hậu cần và đảm bảo các
điều kiện vật chất cho hoạt động của cơ quan được thông suốt và hiệu quả.
1.2. Vị trí, vai trò của văn phòng
1.2.1. Vị trí của văn phòng
Văn phòng là cửa ngõ của một cơ quan, một tổ chức bởi vì văn phòng luôn luôn
có mối quan hệ đối nội, đối ngoại thông qua hệ thống văn bản đi, văn bản đến, văn bản
nội bộ. Đồng thời các hoạt động tham mưu, tổng hợp, hậu cần cũng liên quan trực tiếp
đến các bộ phận, phòng ban, đơn vị khác trong tổ chức. Chính vì thế với vị trí hoạt
động đa dạng đó mà văn phòng còn được gọi là “phòng văn”, “phòng vệ”, “phòng ở”

thông tin, dữ liệu thu thập được trong quá trình hoạt động của mình sau đó sẽ báo cáo
lại cho lãnh đạo. Ngoài ra, văn phòng còn là nơi lưu chuyển các văn bản dưới các
quyết định của nhà lãnh đạo đến các bộ phận, phòng ban cấp dưới và giúp thủ trưởng
thực hiện các mục tiêu đề ra.
Văn phòng là trung tâm khâu nối các hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan,
tổ chức. Các bộ phận khác thì làm việc theo chuyên môn nghiệp vụ còn văn phòng là
7


trung tâm khâu nối các bộ phận đó với nhau thành một hệ thống. Trong quá trình hoạt
động khi có vướng mắc, trục trặc thì văn phòng là nơi báo cáo tình hình cho lãnh đạo
để kịp thời giải quyết.
Văn phòng là cầu nối giữa chủ thể quản lý với các đối tượng trong và ngoài tổ
chức. Chủ thể quản lý hay người quản lý có thể bao gồm một con người cụ thể, một
nhóm người, hay một tập thể người lãnh đạo (hội đồng quản trị); còn đối tượng quản lý
là nhóm đối tượng thuộc về kỹ thuật, tồn tại hữu sinh dưới sự chỉ huy của con người.
Văn phòng là người dịch vụ tổng hợp cho các hoạt động của các đơn vị nói
chung và cho các nhà lãnh đạo nói riêng. Bởi lẽ mọi vấn đề về hậu cần chủ yếu là do
văn phòng đảm nhiệm, văn phòng cung cấp tất cả các nhu cầu về vật chất cho các bộ
phận, phòng ban trong cơ quan.
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng
1.3.1. Chức năng của văn phòng
Dựa trên quy mô và tính chất hoạt động của mỗi cơ quan mà văn phòng được tổ
chức lớn nhỏ khác nhau. Nhưng dù ở bất kỳ một cơ quan tổ chức nào văn phòng vẫn
đảm bảo 3 chức năng là tham mưu, tổng hợp và hậu cần.
* Chức năng tham mưu
Tham mưu là hoạt động nhằm góp phần tìm kiếm những quyết định tối ưu cho
quá trình quản lý của nhà lãnh đạo và nội dung của công tác tham mưu chỉ rõ hoạt
động tham vấn của công tác văn phòng.
Trong hoạt động của bất kỳ một cơ quan nào, các nhà quản lý trước khi đưa ra

để cung cấp kịp thời và đầy đủ cho mọi nhu cầu hoạt động của cơ quan, đơn vị. Nội
dung của công việc đó thuộc về chức năng hậu cần của văn phòng.
Trụ sở và phòng làm việc cần phải được sắp xếp một cách phù hợp với từng loại
công việc, với từng cán bộ trong môi trường làm việc cụ thể. Nguồn tài chính cung cấp
cho các hoạt động ở cơ quan cũng do văn phòng cung ứng trên cơ sở định mức tiêu
dùng và kỳ hạn sử dụng.
9


Muốn hoạt động phải có những nguyên liệu, vật liệu, nguồn tài chính, phương
tiện nhưng hiệu quả hoạt động lại tuỳ thuộc vào phương thức quản lý, tuỳ thuộc vào
việc sử dụng các yếu tố đó như thế nào của mỗi văn phòng. Cho nên phương châm
chung của hoạt động văn phòng là chi phí thấp nhất để đạt hiệu quả cao nhất.
Có thể nói rằng văn phòng là đầu mối giúp lãnh đạo thực hiện các chức năng
tham mưu, tổng hợp, hậu cần. Các chức năng này vừa độc lập, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau nhằm khẳng định sự cần thiết khách quan và sự tồn tại của bộ phận văn phòng
trong mỗi cơ quan, tổ chức.
1.3.2. Nhiệm vụ của văn phòng
Để thực hiện tốt các chức năng trên của mình, văn phòng có những nhiệm vụ
chủ yếu như sau:
* Thứ nhất là: Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế hoạt động của cơ quan,
đơn vị
Mọi tổ chức muốn được sinh ra và vận hành đi vào cuộc sống đều phải tuân
theo những quy định về tổ chức, về cơ chế hoạt động và các điều kiện để duy trì hoạt
động. Nhưng các điều kiện đó không giống nhau giữa các cơ quan, đơn vị do tính chất
hoạt động, vai trò và chức năng khác nhau nên mỗi tổ chức đều cần phải có nội quy,
quy chế hoạt động riêng. Trình tự xây dựng dự thảo, lấy ý kiến tham gia hoàn chỉnh
thông qua lãnh đạo, ban bố, thi hành, giám sát, bổ sung hoàn thiện nội quy, quy chế
hoạt động của cơ quan là thuộc về công tác văn phòng. Đây là nhiệm vụ quan trọng
đầu tiên mà văn phòng phải thực hiện khi cơ quan được tổ chức và đi vào hoạt động.

hội… phải tuân thủ các quy định một cách chặt chẽ về việc lưu trữ và lưu hành văn
bản. Hiện nay ở nước ta đã có luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh
các phát sinh liên quan đến văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ
vào luật, chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành một số văn bản quan trọng liên quan
đến các hoạt động kinh tế, xã hội của các đơn vị, tổ chức. Văn bản luật và pháp quy
trên sẽ là căn cứ để các cơ quan, đơn vị ban hành những văn bản nội bộ như điều lệ,
11


nội quy, quy chế, các quyết định hành chính và quản lý thường nhật. Để ban hành được
những văn bản có nội dung đầy đủ, hợp tình, hợp lý, đúng thẩm quyền và có tác động
đích thực đến đối tượng điều chỉnh, cần phải có những bộ phận, nhân viên chuyên
trách giúp cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Bộ phận đó phải nắm bắt được thông tin đầu
vào, phân loại và xử lý thông tin, biết sử dụng và chuyển phát thông tin, đó chính là
văn phòng.
* Thứ năm là: Bảo đảm các yếu tố vật chất, tài chính cho hoạt động cơ quan
Mỗi cơ quan, đơn vị muốn tồn tại và hoạt động đều phải có các yếu tố kĩ thuật
và vật chất cần thiết. Các yếu tố này vừa là nguyên liệu duy trì tổ chức tồn tại, vừa là
vật trung gian gắn kết tổ chức với môi trường. Đồng thời còn là phương tiện truyền dẫn
các quá trình hoạt động của tổ chức đến mục tiêu kinh tế, xã hội. Các yếu tố kĩ thuật,
vật chất, tài chính mà cơ quan cần cho hoạt động gồm có: nhà cửa, xe cộ, bàn ghế, các
phương tiện nhận và truyền tin, các công cụ lao động, các chi phí cần thiết mang tính
thường xuyên liên tục vì vậy văn phòng phải căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch,
chương trình hoạt động của đơn vị mà cung cấp kịp thời, đầy đủ. Nếu việc cung cấp
các yếu tố đó không đủ về số lượng, sai lệch về chủng loại, phẩm chất kém, thời hạn
không đúng, giá thành cao… đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của đơn vị. Để
làm tốt nhiệm vụ cung ứng này, các cơ quan, đơn vị thường ưu tiên tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho văn phòng thực thi nhiệm vụ.
* Thứ sáu là: Củng cố tổ chức bộ máy văn phòng
Đây là việc làm thiết thực mang tính khá ổn định của bộ máy văn phòng nhằm

động trong Văn phòng được coi là lao động thông tin với tính sáng tạo và trí tuệ ngày
càng tăng.
Do đó, người lao động Văn phòng được đào tạo đạt đến trình độ cao, theo
hướng đa năng, toàn diện về nghiệp vụ, kỹ thuật, kỹ năng giao tiếp - ứng xử. Theo
hướng đào tạo đó, người lao động biết làm nhiều việc và thực hiện thành thạo nhiệm
vụ công tác được giao, tạo điều kiện cho họ dễ dàng thích ứng khi phải chuyển đổi
13


công tác, dễ dàng đào tạo lại để đáp ứng những yêu cầu cao hơn, phù hợp với những
đòi hỏi ngày càng cao và đang biến động hàng ngày của thị trường sức lao động.
Nhóm ngành khoa học giao tiếp - ứng xử với các ngành khoa học như tâm lý
học, xă hội học, dân tộc học, mỹ học v.v...giúp người lao động có khả năng khẳng định
vị trí của mình trong cộng đồng, trong ê kíp làm việc để từ đó tạo ra động cơ, ý chí
vươn lên và xây dựng hoài băo nghề nghiệp. Các ngành khoa học này cũng giúp người
lao động biết cách phòng tránh các tình huống căng thẳng trong quá trình làm việc
(stress), biết trang điểm làm tăng vẻ đẹp, tính hấp dẫn của con người và bộ mặt Văn
phòng, biết giao tiếp văn minh, lịch sự, tạo được tin cậy đối với khách hàng v.v...
1.5. Hệ thống trang thiết bị
Trang thiết bị kỹ thuật trong Văn phòng là thành phần” cách mạng” nhất và dễ
đưa vào Văn phòng nhất vì ngày càng được cải tiến, sáng chế với nhiều chủng loại hết
sức đa dạng, phong phú và giá thành rẻ.
Chỉ khoảng 10-15 năm lại đây, trang thiết bị kỹ thuật trong Văn phòng đă có
những bước tiến lớn hết sức nhanh chóng. Các phương tiện kỹ thuật làm văn bản như
máy đánh chữ đă nhanh chóng chuyển từ máy đánh chữ cơ khí lên máy đánh chữ điện,
máy đánh chữ điện tử. Các thế hệ máy tính điện tử đổi đời liên tục hàng năm với sự
cạnh tranh gay gắt của nhiều hăng sản xuất trên thế giới. Máy tính điện tử được ứng
dụng ngày càng rộng răi trong công tác Văn phòng tạo ra những khả năng, những
thuận lợi rất to lớn trong các khâu soạn thảo văn bản, lưu tữ, hệ thống hoá và tra tìm
các dữ liệu, làm cho hoạt động xử lý thông tin của Văn phòng đạt hiệu quả ngày càng

dàng; giảm kinh phí đầu tư xây dựng mặt bằng và trang thiết bị cho Văn phòng; dễ bố
trí lại các vị trí làm việc trong Văn phòng khi người lănh đạo Văn phòng có những
sáng kiến mới v.v...
1.6. Hệ thống nguyên tắc thủ tục
- Chỉ có cơ quan Nhà nước người có thẩm quyền do pháp luật qui định mới
được thực hiện các thủ tục hành chính. Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chế trong
15


hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức. Theo đó, chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành
các thủ tục hành chính nhất định.
- Khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo chính xác, khách quan, công
minh. Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện ở việc cơ
quan tiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc,
đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu của thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng đắn
nhất các công việc của nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ
chức. Khi thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi
mà gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể và cá nhân. Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi
hỏi:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước phải có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin,
và các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy
đủ các thông tin khi được yêu cầu. Ngoài ra các cơ quan nhà nước phải có một chế độ
công vụ rõ ràng và khoa học, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch.
Thứ hai, các cơ quan cần có đủ cán bộ có trình độ nghiệp vụ để thực thi công
vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và có trách nhiệm cao với công
việc được giao và đảm bảo được trang bị những phương tiện vật chất phù hợp, cần
thiết phục vụ cho việc bảo quản, xử lý, lưu trữ và tìm kiếm thông tin như hệ thống sổ
sách, các thiết bị CNTT…
Chính vì vậy, các cơ quan phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, giáo dục

bảo có đủ giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định.
+ Đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi
của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định. Cần tránh tình
trạng yêu cầu của dân gởi đến cơ quan nhà nước không được giải quyết kịp thời, mặc
dù thủ tục hoàn toàn đầy đủ, chính xác.

17


+ Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi những quy định về thủ tục hành
chính phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyết công
việc của cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền.
- Thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản tiết kiệm.
Thực tế, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp qua nhiều cửa khác nhau vì
vậy, nguyên tắc thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc, giảm phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh nghiệp.
1.7. Hệ thống nghiệp vụ hành chính văn phòng
Các nghiệp vụ hành chính văn phòng ngày nay được xây dựng đầy đủ, hoàn
chỉnh có sự hỗ trợ của trang thiết bị hiện đại giúp cho công việc hành chính Văn phòng
được vận hành trôi chảy, thông suốt theo những quy tắc, quy trình thống nhất, hợp lý.
Có trang thiết bị hiện đại, có con người làm việc trong Văn phòng được đào tạo
đạt trình độ cao cũng sẽ là lăng phí khi các Văn phòng không có được những quy tắc,
quy trình nghiệp vụ chuẩn mực và mang tính khoa học cao. Mỗi công việc trong Văn
phòng như xây dựng chương trình công tác, xây dựng và ban hành văn bản, tổ chức
một cuộc hội nghị, một chuyến đi công tác, phân loại sắp xếp một khối hồ sơ tài liệu,
tu bổ tài liệu lưu trữ v.v... đều phải đưa ra những quy định nghiệp vụ đúng đắn, những
quy trình tổ chức thực hiện hợp lý.
Các nghiệp vụ hành chính Văn phòng có vai trò kết nối các thiết bị kỹ thuật với
con người làm Văn phòng làm cho cấu trúc ba mặt cơ bản của Văn phòng trở nên hài
hoà, biến các tiềm năng Văn phòng thành hiệu quả thiết thực, cụ thể.

dân miền Đông Nam bộ, nhưng đồng thời Bình Dương là vùng đất được bao bọc bởi
19


sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, có những điều kiện sinh thái đặt biệt nên cư dân Bình
Dương có những đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp.
Vùng đất Bình Dương từ lâu đã được biết đến với hình ảnh nhộn nhịp của sự
giao thương và hội tụ từ nhiều vùng miền trong cả nước. Dưới thời thuộc địa của Pháp,
như cách gọi của người đương thời, đó là tỉnh lỵ của một “tỉnh miệt vườn” thuần nông,
chỉ có hai trục giao thông chính là sông Sài Gòn và Quốc lộ 13, dân số chỉ vài vạn
người, chủ yếu là nông dân.
Khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ trước, ít ai nghĩ rằng Bình Dương sẽ vượt lên
trở thành một trong những tỉnh công nghiệp hàng đầu của cả nước. Bình Dương khi đó
chỉ là một tỉnh thuần nông, người dân nhiều đời gắn bó với ruộng đồng, cây trái. Kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ còn quá nhỏ bé. Tuy
nhiên, từ thời khắc lịch sử, Ngày tái lập tỉnh (01/01/1997), Bình Dương đã trỗi dậy với
chủ trương đổi mới được cụ thể hóa bằng những chính sách thông thoáng, mở đường
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương. Bằng việc xây dựng cơ sở
hạ tầng, quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất
- kinh doanh, dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước ồ ạt chảy về Bình Dương, nhà máy
mọc lên khắp nơi, nguồn nhân lực bốn phương quy tụ về... Kinh tế - xã hội của Bình
Dương bắt đầu đạt những thành tựu đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo
hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, bộ mặt đô thị hóa đã được hình thành rõ
nét.
Bình Dương đã biến vùng đất thuần nông, khô cằn, kém hiệu quả trở thành
những khu, cụm công nghiệp trọng điểm của cả nước. Đến nay, toàn tỉnh có 28 khu
công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, với tổng diện tích khoảng 10.000ha. Trong đó có
những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh,
đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường
như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An, … Bằng những chính sách phù hợp, đến tháng 10

2003…
21


Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bình Dương là
đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo
quy định của pháp lệnh cán bộ, công chức. Ngoài những đặc điểm chung của cơ quan
nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bình Dương có các đặc trưng được
quyết định bởi chính bản chất hoạt động chấp hành – điều hành thông qua các đặc
trưng này, có thể phân biệt cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước
khác.
+ Đối với đơn vị sự nghiệp:
- Đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Bình Dương được giao quyền tự chủ hoàn toàn về
thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
- Đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Bình Dương chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn
về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Chủ yếu là các Viện nghiên
cứu, Bệnh viện, Trường học….trực thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2.2. Thực trạng các yếu tố cấu văn phòng ảnh hưởng đến hoạt động hành chính
văn phòng trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở
Bình Dương
2.2.1. Yếu tố con người
Yếu tố con người là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động hành chính văn phòng
trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương.
Hiện nay, cán bộ, nhân viên trong văn phòng các cơ quan hành chính nhà nước
và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương gồm có Giáo Sư; Tiến Sỹ; Thạc Sỹ; cử nhân, và lái
xe; bảo vệ; phục vụ. Tất cả các cán bộ, nhân viên trong văn phòng (trừ bộ phận bảo vệ
và phục vụ) đều sử dụng rất thành thạo máy vi tính, các trang thiết bị trong văn phòng
và họ đều có trình độ ngoại ngữ từ bằng A trở lên.
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ được giao lãnh đạo trong văn phòng phân công
lao động cho từng phòng ban, từng bộ phận, mỗi chuyên viên tương đối khoa học, hợp

dung công việc, đơn vị, người thực hiện, và thời gian hoàn thành. Cán bộ, nhân viên,
23


chuyên viên trong văn phòng đều rất cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều
khi do tính chất công việc gấp gáp mọi người trong văn phòng phải làm thêm cả ngày
nghỉ, hay làm thêm giờ để khi đã hết giờ làm việc để đảm bảo tiến độ công việc.
Việc theo dõi và thực hiện công tác tiền lương, tiền thưởng, nghỉ chế độ điều
dưỡng vào bảo hiểm xã hội đúng chế độ quy định. Hàng quý văn phòng tiến hành rà
soát đúng tiêu chuẩn, chế độ, số cán bộ đến hạn lên bậc lương, đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho từng cán bộ, viên chức trong văn phòng. Lãnh đạo văn phòng rất quan
tâm tới đời sống tinh thần của cán bộ, nhân viên, chuyên viên trong văn phòng. Văn
phòng có kế hoạch cụ thể cho việc thăm hỏi cán bộ, nhân viên và các chuyên viên mỗi
khi ốm đau, phải vào bệnh viện. Không chỉ có vậy, trong gia đình cán bộ, nhân viên
nào có người thân đau ốm đều được văn phòng tổ chức đến thăm hỏi động viên.
Về môi trường làm việc: Xét thấy rằng việc sắp xếp, bố trí phòng làm việc như
hiện nay của văn phòng là chưa thực sự khoa học, hợp lý, chưa phù hợp với một văn
phòng hiện đại. Xu thế hiện nay là các văn phòng thường được bố trí theo mặt bằng
mở, các phòng được ngăn cách nhau bởi các vách ngăn, nhưng tại văn phòng các cơ
quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương các phòng làm việc vẫn
còn tách biệt nhau, gây khó khăn cho việc trao đổi trực tiếp giữa các phòng ban, hơn
nữa việc bố trí như vậy là rất tốn kém diện tích và chi phí quản lý.
2.2.2. Hệ thống trang thiết bị
Về cơ bản tại văn phòng các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp
ở Bình Dương thì các trang bị phục vụ cho công tác văn phòng khá đầy đủ. Các thiết bị
vật dụng, công nghệ thông tin tối thiểu như: máy tính, máy fax, điện thoại, máy in, máy
scan, máy photocopy, máy huỷ tài liệu.... đã được văn phòng trang bị đầy đủ để phục
vụ cho công tác văn phòng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
Hiện nay tất cả các lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong văn phòng các cơ quan
hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp ở Bình Dương đều làm việc trên máy vi tính.

đề đặt ra là phải đào tạo trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, nhân viên trở thành vấn đề cấp
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status