Đề 6- Cảm nhận về tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài - Pdf 38

Đề 6: Cảm nhận về tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài
Bài làm :
Tây Bắc từ lâu đã trở thành một “mảnh đất hứa” ,khơi nguồn cảm hứng sáng tác
cho nhiều cây bút. Viết về Tây Bắc ta phải kể đến: Nguyễn Tuân với “Người lái đò sông
Đà”, Tố Hữu với “ Việt Bắc”, Chế Lan Viên với “ Tiếng hát con tàu”,.... và thật là một thiếu
xót nếu quên đi Tô Hoài với “ Vợ chồng A Phủ”. “ Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn tiêu
biểu cho phong cách sáng tác của Tô Hoài sau cách mạng tháng Tám. Tác phẩm là sự
đan xen giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, vừa phản ánh cuộc sống cơ cực, bị đè
nén của con người ở nơi núi rừng Tây Bắc, vừa thể hiện được khát khao hạnh phúc, khát
khao tự do của họ. Đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (SGK lớp 12 tập 1) đã thể hiện rất rõ điều
này. Qua đoạn trích ta cũng thấy được tài năng của Tô Hoài trong việc xây dựng, khắc họa
tính cách tâm lí nhân vật, đặc biệt là nhân vật Mị.
Mới đọc tác phẩm ta thấy nhan đề “Vợ chồng A Phủ” là một nhan đề rất bình thường.
Tại sao Tô Hoài không chọn một nhan đề khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn giống như “ Vợ
nhặt” của Kim Lân hay như“ Tắt đèn” của Ngô Tất tố chẳng hạn? Nói về việc đặt nhan đề
cho tác phẩm nhà thơ Xuân Diệu có lần phát biểu: “đại ý các nhà văn khi đặt tên cho tác
phẩm cũng trăn trở như cha mẹ đặt tên cho con”. Thật vậy, tạo ra một tác phẩm đã khó để
đặt tên cho tác phẩm, nghĩ một cái nhan đề cho phù hợp nhất còn khó khăn hơn. Bởi lẽ
nhan đề là cái đầu tiên bạn đọc tiếp xúc khi đọc tác phẩm. Ở tác phẩm này, hẳn nhà văn Tô
Hoài cũng có dụng ý khi đặt nhan đề như vậy. Tưởng chừng đây là một nhan đề chẳng có
gì để khai thác nhưng khi đào sâu ngẫm nghĩ đây là một nhan đề rất ý nghĩa : Mị và A Phủ
vốn là hai người xa lạ, nhưng do một cảnh ngộ đặc biệt họ đã đến với nhau và trở thành
“vợ chồng”, quá trình trở thành “vợ chồng” của họ là một sự vươn lên từ bóng tối đến ánh
sáng, từ thân phận nô lệ để trở thành người tự do. Điều đó là biểu hiện của một sức sống
mạnh liệt, khao khát tự do,hạnh phúc và vươn tới tương lai. Nhan đề này là một nhan đề
có giá trị nhân đạo sâu sắc.
Truyện ngắn “ Vợ chồng A Phủ” gồm có hai phần: phần một là cuộc sống của Mị và A
Phủ khi ở nhà lí Pá Tra; phần hai là cuộc sống mới của họ ở Phiềng Sa. Đoạn trích học
thuộc phần đầu của tác phẩm nói về cuộc sống cực nhọc , u ám, bất hạnh, của Mị và A Phủ
trong nhà thống lí.
“ Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy một cô gái ngồi quay sợi

nhiều, đồn Tây lại cho đem muối về bán, giàu lắm, nhà lại có nhiều nương, nhiều bạc,
nhiều thuốc phiện nhất làng”.Nhà thống lí giàu nhưng lại thiếu tình người, coi những người
lao động như cỏ rác, đến hạnh phúc cả đời của Mị cũng bị đem ra để gạt nợ. Có lẽ Mị đã
nhìn thấu điều đó qua cuộc đời của cha mẹ mình, vào làm dâu nhà giàu rồi Mị cũng sẽ trở
thành nô lệ, cũng chẳng sung sướng gì. Vào làm dâu nhà thống lí, chấp nhận làm vợ A Sử
đồng nghĩa với việc Mị tự từ bỏ hạnh phúc, từ bỏ cuộc sống tự do hiện tại để sa vào áp
bức, kìm hãm. Và đương nhiên với một cô gái trẻ trung, đang tuổi yêu đương,khao khát tự
do như Mị sẽ không chọn con đường ấy. Mị chấp nhận lao động vất vả để có cuộc sống tự
do.
Thế nhưng dù có cố gắng thì Mị vẫn chỉ là một cô gái đáng thương bị trói buộc trong
chế độ phong kiến miền núi. Vào một đêm mùa xuân, nghe tiếng gõ vách và sờ được
“ngón tay đeo nhẫn” giống của người yêu, Mị bước ra với trái tim khao khát hạnh phúc
nhưng ai ngờ chính khao khát đến nóng vội ấy đã khiến Mị bi bắt làm dâu nhà thống lí: “ Mị
vừa bước ra, lập tức có mấy người choàng đến nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt cõng Mỹ
đi.” Cái tục cướp vợ của người Mông đã biến Mị từ một cô gái tài giỏi, xinh đẹp, tự do
thành người “vợ hờ” của A Sử. Nói là “vợ hờ” vì sở dĩ giữa Mị và A Sử không hề có tình
cảm gì và về làm dâu nhà thống lí Pá Tra rồi Mị vẫn bị coi thường rẻ rúng, bị nhốt trong căn
phòng tối om như cái hộp. Không ai là không biết lí Pá Tra cưới mị cho con trai chỉ để có
thêm công cụ lao động, phục vụ cho sự tham lam của hắn. Không cam chịu sự tủi nhục đó,
trên đường chốn về thăm cha Mị đã vào rừng hái sẵn nắm lá ngón định tự tử. Mị thà chết
chứ không cam lòng sống ở nhà lí Pá Tra chịu kiếp trâu ngựa. Ở Mị sáng lên khát khao tự
do, khát khao hạnh phúc. Thế nhưng chữ “hiếu” lại khiến cho Mị không thể làm như vậy, Mị
còn đang gánh trên vai trách nhiệm trả món nợ truyền kiếp cho gia đình “ Mày chết nhưng
nợ tao vẫn còn, quan lại bắt trả nợ. Mày chết rồi không lấy ai làm nương ngô trả nợ được,
tao thì gài yếu quá rồi”. Câu nói của người cha lại làm cho chữ hiếu trong Mị sống dậy, Mị
phải sống , Mị phải chịu đựng để cha được sống yên ổn quãng đời còn lại. Thế là Mị “ném
nắm lá ngón xuống đất”, Mị đã quyết định phải sống vì cha. Một lần nữa, người đọc lại cảm
thấy rung động trước sự hiếu thảo, đức hy sinh cao cả của Mị. Mị làm cho người đọc nhớ
đến việc Thúy Kiều bán thân để lấy tiền chuộc cha. 200 năm trôi qua xã hội với sự thống trị
của đồng tiền lại một lần nữa làm xuất hiện thảm cảnh con bán mình vào nhà giàu để trả

con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện nở trắng lại nở mầu đỏ hau, đỏ thậm, rồi nở mầu tím
man mát”. Khung cảnh hiện lên vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa sinh động và tràn đầy sức
sống. Tết đến không khí cũng thay đổi hẳn, sau một thời gian dài làm việc vất vả, bây giờ
khi mà “trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên các nhà kho”
là lúc con người thoải mái nghỉ ngơi, vui chơi , chào đón vụ mùa mới. Mọi thứ như có gì đó
náo nhiệt hơn, hồ hởi hơn: “Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước
nhà.Ngoài đầu núi, đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Chính tiếng sáo, chính sự xuất
hiện của tiếng sáo gọi bạn đã khơi dậy tâm hồn tưởng như đã chết của Mị. Ngày xưa, “có
biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác”. Bất
giác Mị lẩm nhẩm theo tiếng sáo, tiếng sáo ôi sao quen quá:
“ Mày có con trai con gái
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Tiếng sao bây giờ vẫn còn ở rất xa, Mị mới chỉ cảm nhận được nó rất mơ hồ. Hôm nay nhà
thống lí Pá Tra cũng làm bữa cơm tết cúng ma, không khí cũng vui tươi, rôm rả lắm. Mọi
người ăn cơm rồi uống rượu. Mị cũng uống rượu, hôm nay Mị uống rượu. Mị lấy trộm hũ
rượn, “ uống ực từng bát”. Ta vẫn biết đến hình ảnh những người phụ nữ Mường uống
rượu, nhưng “uống ực từng bát” như Mị thì đúng là chưa từng thấy. Mị uống như để thảo
mãn, để dội rửa tất cả những uất ức, cay đắng mà cô đã phải chịu. Hình ảnh của Mị thật
giống với nữ sĩ Hồ Xuân Hương:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
( Tự tình II)
Khi buồn phiền sầu não con người ta hay tìm tới rượu để tiêu sầu, Mị hay cả Hồ Xuân
Hương cũng vậy, uống rượu để quên đời, để cái nồng của men rượu làm con người ta
thiếp đi khi dậy thì đã quên tất cả. Thế nhưng với Mị càng uống lại càng tỉnh, càng nghe rõ


tiếng sáo, tiếng sáo lại cứ như gần hơn, thôi thúc Mị. Tự dưng Mị thấy lòng phơi phới trở

Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà.
Tóc Mị xõa xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột, Mị không cúi, không nghiêng được đầu
nữa. Trói xong, A Sử thắt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi phẩy tay tắt đèn, đi ra khép
cửa buồng lại.”Dù đã bị cố định về thể xác nhưng tâm hồn Mị A Sử không thể nào giam
dữ được. Mị vẫn mộng mơ, nửa tỉnh, nửa say “Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe thấy
tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. "Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người
nào, em bắt pao nào...". Mị vùng bước đi.”Chỉ đến lúc này nỗi đau thể xác mới đưa Mị trở
về thực tạ, “ Mị không nghe thấy tiếng sáo nữa”, mọi thứ trở về đúng với cái bản chất
vắng lặng của nó. Cái sức sống mãnh liệt cũng dần mất đi, Mị chỉ còn lại một mình trơ trọi
trong màn đêm tăm tối. Nghe tiếng ngựa đạp vách, Mị tự thấy mình còn không bằng con
ngựa. Địa vị của Mị ngày càng hạ thấp xuống từ ‘cũng chỉ như con ngựa” bây giờ lại
“không bằng con ngựa”. Thật đáng thương, Mị giống như một con chim non mới tập bay
gặp mưa bão, dù có cố mấy cũng vẫn bị rơi xuống đất vì cánh vốn đã non yếu lại bị ướt
làm sao chống chọi được. Đành chấp nhận phó mặc cho trời, chịu bất lực trước bóng tối
quá lớn của thần quyền và cường quyền.
Như Sê-khốp nói: “ Nhà văn chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”.
Tô Hoài với vai trò của một nhà văn chân chính sẽ không để cái ác lấn áp được cái thiện.


Ông đã để sự xuất hiện của A Phủ đánh thức tâm hồn, sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa trong
con người Mị. A Phủ xuất hiện với đặc điểm của một chàng trai khỏe mạnh “một người to
lớn”,” chạy nhanh như ngựa “, lại còn “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, cày giỏi và săn bò
tót rất thạo”. Từ những điểm ấy khiến A Phủ trở thành “hoàng tử trong mộng” của biết bao
cô gái. “Nhiều người nói: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà.
Chẳng mấy lúc mà giàu". Nghĩ thì nghĩ thầm vậy chứ cho tới giờ này A Phủ vẫn chưa có
vợ. Lí do duy nhất là do phép làng không cho phép, tục lệ cưới xin phức tạp hà khắc.
Một người không có người thân thích nào như A Phủ thì sao lấy được vợ.Thế nhưng A
Phủ chẳng hề tự ti về điều đó “đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, A Phủ chẳng có quần
áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng bằng sợi dây đồng vía lằn
trên cổ” , ngày Tết anh vẫn cùng bạn bè đem kèn, con quay, pao đi khắp các làng tìm

chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.” Chúng coi mạng
người như rác rưởi, có thể hành hạ tra tấn dã man chỉ để mãn nhãn hay ra uy. Sau khi bị
đánh tới nỗi “hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù” để mà cầm dao đi chọc tiết
lợn làm thịt cho chính những kẻ đang hả hê trước nỗi đau thể xác của mình ăn. Thật
không còn gì nhục nhã hơn, đau đớn hơn. Xã hội phong kiến miền núi với sự lấn áp của
thần quyền và cường quyền đã biến những người dân vô tội thành thứ “đồ chơi giải trí”
và “công cụ lao động”. Người dân bị bóc lột một cách triệt để để phục vụ cho mục đích
xấu xa, đáng ghê tởm của lũ chức việc. Thật đáng thương. Ở nhân vật A Phủ ta thấy sự
kiên cường, không chịu khuất phục, không nhún nhường trước thần quyền và cường
quyền.


Còn Mị, cho tới sáng hôm sau khi A Phủ được đưa về trong bộ dạng “chệnh choạng
vào buồng. áo rách toạc một mảnh vai. Cái khăn xéo trắng loang lổ máu, xụp xuống
quanh trán” Mị mới được chị dâu cởi trói. Và cái sự ngược đãi của xã hội phong kiến đối
với con người dường như cũng thể hiện ở nhân vật người chị dâu “ Người chị dâu ấy
chưa già, nhưng cái lưng quanh năm phải đeo thồ nặng quá, đã còng rạp xuống”. Những
con người ấy, Mị, A Phủ, người chị dâu và rất nhiều những con người khác đều thật đáng
thương, họ không sao thoát ra được sợi dây trói của chế độ phong kiến. Giống như A
Phủ, Mị cũng phải chịu nỗi đau thể xác khi bị trói đứng cả đêm, rồi trong nỗi đau ấy Mị
phải đi lên núi hái thuốc về cho chính kẻ đã chói mình. Xã hội không tồn tại hai chữ “công
bằng” con người trong xã hội ấy vẫn phải gồng mình lên hầu hạ chính kẻ đã đày đọa, chà
đạp mình. Khi hái được thuốc về, Mị lại phải “thức suốt đêm” để xoa thuốc cho A Sử. Mị
chỉ ngủ gục đi một lúc mà A Sử đã thô bạo “đạp chân vào mặt Mị”. Hành động của A Sử
không có chút nhân tính nào. Hắn đối xử với vợ, dù không có tình cảm với nhau nhưng
cũng là người đang chăm sóc mình như đối xử với một con vật. Ấy vậy mà Mị cũng
không nửa lời kêu than, hay đúng hơn là không thể kêu than bởi trong cái xã hội ấy, cái
nhà ấy Mị làm gì được quyền nói; Mị lại ngậm ngùi, “nhặt nắm lá thuốc xoa đều lên lừng
chồng”. Mị thật đáng thương, thật thảm hại…
Câu chuyện được đẩy lên đỉnh điểm khi Tô Hoài đã xây dựng lên tình huống Mị cởi

người ra nhưng hôm sau khi phát hiện ra Pá Tra lại cột thêm lên tận cổ khiến A Sử không
thể ngọ nguậy được. Bị trói ở đó, ngày nào A Phủ cũng thấy “bếp lò bung ngô cao ngang
đầu người vẫn hừng hực đỏ rực. Mỗi hôm hai buổi, người ra người vào ăn uống tấp nập.
A Phủ đứng nhắm mắt, cho tới khuya”. Và lúc này hình ảnh Mị xuất hiện. Sau lần bị A Sử


trói đứng Mị lại trở về quỹ đạo cũ, lại “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lại tê liệt
hoàn toàn về cảm xúc, “chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa”. Điều đó thể hiện qua việc đêm
nào Mị cũng ra “thổi lửa, hơ tay, hơ lưng”. Có lần thấy Mị đang ngồi sưởi lửa A Sử “ ngứa
tay đánh Mị ngã xuống cửa bếp”. Dường như không hề quan tâm, hôm sau Mị lại ra “thổi
lửa, hơ tay, hơ lưng”. Ta thấy Mị thấy cô độc, thật đáng thương. Ngày nào khi đi ra sưởi
lửa Mị cũng qua chỗ A Phủ bị trói, nhưng Mị chẳng hề để ý , Mị chỉ biết đến việc sưởi lửa
của mình, “nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi”. Đọc tới đây, ta thấy Mị
thật vô tâm nhưng không phải thế chỉ là cái khổ, sự cô đơn và tuyệt vọng đã lấn áp mất
lòng thương người ở Mị chứ thực chất, bản thân Mị, từ khi sinh ra không phải là người
như thế. Có trách thì chỉ có thể trách chế độ phong kiến đã làm thay đổi con người. Điều
ấy thể hiện qua hành động táo bạo của Mị: Mị đã cởi trói thả A Phủ ra. Bình thường Mị
chẳng bao giờ để ý nhưng hôm đó, khi đi ngang qua Mị bắt gặp “Dòng nước mắt lấp lánh
bò xuống hai hõm má đã xám đen” của A Phủ. Người xưa có câu “ Quân tử rơi đầu không
rơi lệ” thế mà cái sự chà đạp, giày xéo, bất công của xã hội phong kiến miền núi đã khiến
một chàng trai bản lĩnh, khỏe mạnh như A Phủ rớt nước mắt. Đó là giọt nước mắt uất ức,
căm phẫn, không đành lòng. Đó là giọt nước mắt tố cáo tội ác của chế độ cường quyền
và thần quyền ở vùng dẻo cao Tây Bắc trước cách mạng. Quan trọng hơn đó là giọt
nước mắt cảm hóa tâm hồn Mị, khơi dậy tình thương tưởng như đã chết của Mị, cứu vớt
tâm hồn chai sạn của Mị. Hình ảnh “giọt nước mắt” của A Phủ là một hình tượng nghệ
thuật chứa đựng nhiều ý nghĩa. Khi bắt gặp giọt nước mắt của A Phủ, tâm hồn Mị như
sống lại, Mị bắt đầu suy nghĩ, Mị nghĩ tới lần bị A Sử trói đứng ở cột nhà. Rồi Mị thấy tự
thương mình “Mị chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia.
Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”. Từ thương mình Mị
chuyển sang thương người, Mị thương cho A Phủ, ở Mị xuất hiện sự đồng cảm sâu sắc



“Đời cách mạng từ khi tôi hiểu
Dấn thân vào là chịu cảnh tù đày
Là gươm kề cổ, súng kề vai
Là thân sống chỉ còn một nửa.”
( Tố Hữu)
Qua tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ” ta thấy được khát vọng sống tự do, hạnh phúc và
sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa trong những con người nghèo khổ nơi núi rừng Tây Bắc.
Không chỉ thế từ tác phẩm ta còn thấy được bộ mặt của chế độ phong kiến Tây Bắc
trước cách mạng với sự thống trị của cường quyền và thần quyền, bất chấp đạo lí chà
đạp lên xương máu của nông dân nghèo để hưởng thụ; thái độ coi thường mạng sống
con người, coi người nghèo như rơm rác, biến họ thành những cỗ máy lao động không
nghỉ ngơi. Đồng thời ta cũng thấy được đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm. Đầu tiên là
biệt tài miêu tả tự nhiên và am hiểu về các phong tục của người dân tộc Hmong. Tô Hoài
tạo dựng được một không gian nghệ thuật mang đậm màu sắc dân tộc độc đáo ở vùng
cao Tây Bắc.. Đó là bức tranh thiên hùng vĩ và thơ mộng của mùa xuân Tây Bắc: mùi vị
của hương rừng gió núi, cái tê lạnh của không khí vùng cao, cái hôi hổi nồng nàn của
lòng người, cái rực rỡ sáng tươi của màu sắc. Những trái bí đỏ, những cái váy hoa phơi
trên mỏm đá xoè như những con bướm sặc sỡ, cỏ gianh vàng ủng, gió rét dữ dội, những
bếp lửa rực cháy hơi men. Đặc biệt thanh âm réo rắt của tiếng sáo trên núi rừng, khơi gợi
những khát khao.Đó là những bức tranh sinh hoạt và phong tục độc đáo mang màu sắc
xứ lạ phương xa: cảnh vui chơi trong ngày tết, cảnh thổi sáo gọi bạn tình, cảnh xử kiện,
tục cướp vợ được miêu tả chân thực, sinh động, giàu chất thơ. Tiếp đó là nghệ thuật
miêu tả tâm lí nhân vật, đặc biệt là nhân vật Mị.Tô Hoài đi sâu vào miêu tả thế giới nội
tâm nhân vật thông qua đối thoại và độc thoại. Đối thoại thường rất ít và nhỏ nhẹ. Diễn
biến tâm trạng của nhân vật Mị chủ yếu được khắc họa qua độc thoại nội tâm. Tô Hoài
hay sử dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp khiến ngoài thế giới và những nhân vật hòa làm một
tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm. Cuối cùng là thành công trong việc sử dụng ngôn
ngữ trong sáng, biểu cảm, giàu chất tạo hình. Xen vào giữa những đoạn văn xuôi là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status