B ô• GIÁO DUC
• VÀ ĐÀO TAO
•
TRƯỜNG ĐAI HOC s ư PHAM HẢ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LIỄU
LOẠI HÌNH TRUYỆN KẺ LÃNG MẠN
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
CỦA VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945)
LUẬN VĂN THẠC s ĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIÊT NAM
HÀ NỘI, 2016
B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐAI HOC s ư PHAM HẢ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LIỄU
LOẠI HÌNH TRUYỆN KẺ LÃNG MẠN
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
CỦA VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã sổ: 60 22 01 20
LUÂN VĂN THAC s ĩ
•
tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
hết lòng động viên, khuyến khích tôi trong học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hoà, ngày 25 tháng 06 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Liễu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đ ề ........................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................7
4.2. Phạm vi nghiên cứu........................................................................... 7
5. Đóng góp của luận văn............................................................................. 8
6. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 8
7. Cấu trúc luận văn...................................................................................... 8
CHƯƠNG 1. VẤN ĐỀ TRUYỆN KỂ VÀ LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945.............................. 10
1.1. Khái quát về truyện kể.........................................................................10
1.1.1. Khái niệm truyện kể....................................................................... 10
1.1.2. Một số mô hình truyện k ể ........................................................... 14
1.2. Một số loại hình truyện kể trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn trước
năm 1945...................................................................................................... 17
1.3. Khái niệm lãng mạn và loại hình truyện kể lãng m ạn........................ 20
1.3.1. Khái niệm lãng mạn.......................................................................20
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học thời kì từ đầu
thế kỉ XX đến năm 1945, đặc biệt là từ đầu những năm 30 trở đi, đã phát triển
hết sức nhanh chóng. Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn
hiện đại cho rằng: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của
người”. Điều đó được thể hiện qua sự phát triển về số lượng tác giả và tác
phẩm tiêu biểu. Văn xuôi thời kì này đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, nhất là
trên lĩnh vực tiểu thuyết. Nhiều tác phẩm tiểu thuyết đã đạt đến “giá trị cổ
điển” với một lóp nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất
Linh, Thạch Lam, Lan Khai, Thế Lữ,... Tiểu thuyết - thể loại được xem là “sử
thi của thời đại mới” đã phản ánh được nhiều vấn đề lớn của dân tộc và thời
đại. Qua tiểu thuyết của giai đoạn này, người đọc đương thời có thể nhận thức
sâu sắc hơn về con người và thời đại mà họ đang sống để mỗi người tự xác
quyết cho mình một cách sống, một hướng đi.
Đã có một số nhà nghiên cứu tiến hành loại hình hoá các tiểu thuyết
giai đoạn này. Dựa trên các lý thuyết và thực tiễn sáng tác, các nhà nghiên
cứu đã đưa ra những mô hình tiểu thuyết Việt Nam theo những quan điểm
riêng của mình.
Khi tiếp cận các lý thuyết truyện kể, chúng tôi nhận thấy có thể kết hợp
các lý thuyết để nghiên cứu và loại hình hoá một số mô hình truyện kể phổ
biến trong tiểu thuyết Việt Nam 1930 - 1945, trong đó có kiểu mô hình truyện
kể lãng mạn.
Để nhận ra các mô hình truyện kể có thể căn cứ vào những tương đồng
về cấu trúc nội tại, không gian truyện kể của các nhóm tác phẩm. Điều này
không giống với việc căn cứ ừên chất liệu đề tài hay thể tài như vẫn thường
2
thấy trong các cách phân loại khác. Do vậy, khi đặt vấn đề nghiên cứu mô
truyện Tám Cám (1968), tác giả Đinh Gia Khánh nghiên cứu về loại hình
truyện kể mà ông gọi là “kiểu truyện Tẩm Cám”, tức là những truyện cổ tích
giống truyện Tẩm Cám. Nhà nghiên cứu nhận xét: “trong kho tàng truyện cổ
tích của mỗi nước, có khá nhiều truyện có tính chất quốc tế bên cạnh tính dân
tộc. Đó trước hết là những truyện từ nước ngoài chuyển vào. Đó cũng có thể
là những truyện vốn sản sinh trong nước nhưng lại tiếp thu một số tình tiết
hoặc chi tiết nhất định của những truyện nước ngoài. Lại không thể quên rằng
nếu cùng ở một trĩnh độ phát triển xã hội như nhau, cùng phải lí giải những
vấn đề giống nhau thì các dân tộc khác nhau có thể sáng tác nên những truyện
mà nội dung và kết cấu cơ bản giống nhau” [26, tr. 133].
Một số tác giả khác đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề loại hình truyện
dân gian và trung đại như Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử,
Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thị Nhàn... Tác giả Đặng Anh Đào trong bài viết
Âm hưởng văn chương truyền miệng trong nghệ thuật kể chuyện Việt Nam
khẳng định “chắc chắn, âm hưởng của văn chương truyền miệng rất dai dẳng
và sâu xa trong nghệ thuật kể chuyện Việt Nam”. Nhà nghiên cứu cho rằng
sự ảnh hưởng đó ở nhiều mặt. Thứ nhất là những hình thức dẫn nhập cốt
truyện dân gian vào văn học viết diễn ra trên các khía cạnh: dẫn nhập có sự
tái tạo, mô phỏng cốt truyện, mô - tip chuyện và hình thức nhai lại. Thứ hai là
kết cấu văn bản kể chuyện và kết cấu câu. Một ừong những điều kiện để tạo
nên ảnh hưởng đó là sự tương đồng trong những thành phần nhất định. Và
những tương đồng đó sẽ là các mô hình có tính loại hình.
Tác giả Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Tương đồng mô hình cốt
truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ cũng chỉ ra: “Nếu xét định lượng mô hình cốt truyện thì Truyền kỳ mạn
lục có khung hình thức tương đồng với truyện dân gian, khởi đầu bằng biến
4
cố, tiếp đến là diễn biến sự kiện và kết thúc bằng việc hoá giải các mâu
cơ bản của truyền ngắn hiên đai (trên cơ sở cứ liêu truyên ngắn Viêt Nam
giai đoạn 1930-1945), Nguyễn Văn Đấu khảo sát loại hình truyện ngắn dựa
trên đặc trung thể loại gắn liền với một kiểu cấu trúc - chức năng, một kiểu
tổng hợp thể loại nhất định. Căn cứ vào những hưởng phát triển, gắn liền với
hướng tổng họp thể loại cơ bản của truyện ngắn hiện đại, tác giả “chia truyện
ngắn hiện đại (1930-1945) làm ba loại hình tiêu biểu mà tên gọi của chúng
chỉ có ý nghĩa tương đối là truyện ngắn - kịch hoá, truyện ngắn - trữ tình hoá,
truyện ngắn - tiểu thuyết hoá” [6, Ừ.51].
Luận án Những dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm li trong văn học Việt
Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 của Đào Đức Doãn nghiên cứu sâu về bốn
tiểu thuyết Tổ Tâm (Hoàng Ngọc Phách), Lẩy nhau vì tình (Vũ Trọng
Phụng), Bướm trắng (Nhất Linh), sống mòn (Nam Cao) và xác định sự tồn
tại của bốn “loại hình” tiểu thuyết tâm lý cơ bản ở nửa đầu thế kỉ XX là tiểu
thuyết tâm lý tình cảm, tiểu thuyết tâm lý bản năng, tiểu thuyết tâm lý ý thức
cá nhân khép kín và tiểu thuyết tâm lý nhân cách. Ở phần kết luận, tác giả
khẳng định: “Có thể nói, bốn dạng tiểu thuyết tâm lý nói trên đánh dấu các
bước phát triển của lịch sử thể loại, bởi mỗi dạng là một mô hình nghệ thuật
về tiểu thuyết tâm lý đánh dấu những cách tân nghệ thuật trong quá trình hiện
đại hoá văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ” [4, tr.200].
Luận án Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam thời kì
1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao của Trần Văn
Hiếu nghiên cứu nghệ thuật trào phúng của ba nhà văn tiêu biểu giai đoạn này
để khái quát hoá những đặc điểm thể loại văn xuôi trào phúng có tính chất
loại hình. Tác giả khẳng định: “Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là hai
cây bút trào phúng lớn tiêu biểu cho dòng phong cách trào phúng thứ nhất
(dòng tả thực), còn Nam Cao là cây bút đặc sắc tiêu biểu cho dòng phong
6
cách thứ hai (phong cách trữ tình)” [12, Ừ.2].
lãng mạn, loại hình truyện kể bi kịch và loại hình truyện kể trào phúng. Trong
luận án của mình, Phùng Quý Sơn cũng cho rằng khái niệm “mô hình” có
phần “thiên về tính chất rập khuôn máy móc, chỉ sử dụng có chừng mực ừong
địa hạt văn chương. Vì, bản chất của nghệ thuật là sự sống, là một hoạt động
sáng tạo, luôn đổi mới, không lặp lại y nguyên theo một công thức có sẵn, dù
là lặp lại chính mình (ở một nhà văn)” [58, tr. 17].
Trên đây là các ý kiến, kiến giải của các nhà nghiên cứu, học giả ở Việt
Nam về vấn đề loại hình truyện kể mà chúng tôi quan tâm trong đề tài của
mình. Tất nhiên việc tổng thuật không thể nào đầy đủ nhưng chắc rằng đã
phác hoạ được những nét chính của các vấn đề một cách trung thực và
nghiêm túc.
3. Mục đích nghiền cứu
Qua nghiên cứu, chúng tôi muốn đưa ra một cái nhìn sơ lược về truyện
kể, mô hình truyện kể, nhấn mạnh lý thuyết truyện kể của Iu.Lotman; đồng
thời đưa ra một hướng tiếp cận, tìm hiểu, khám phá mới cho những tiểu
thuyết tiêu biểu của Việt Nam trước năm 1945.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: các biểu hiện tương đồng trong cấu
trúc truyện kể của nhóm tác phẩm văn học lãng mạn Việt Nam trước năm
1945. Vấn đề truyện kể theo quan điểm của Iu.Lotman sẽ được nêu ra như là
cơ sở lý luận chung cho sự triển khai của luận văn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi sáng tác vãn học được khảo sát là những tiểu thuyết tiêu biểu
của Việt Nam trước năm 1945 (Tập trung chủ yếu vào những tiểu thuyết của
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Lan Khai, Thế Lữ, Lê Văn Trương):
8
- Tiểu thuyết của Hoàng Đạo: Con đường sáng.
9
văn của chúng tôi được triển khai thành ba chương:
Chương 1: vấn đề truyện kể và loại hình truyện kể trong văn xuôi Việt
Nam trước 1945
Chương 2\ Bức ừanh thế giới ừong loại hình truyện kể lãng mạn trước
năm 1945
Chương 3: Nhân vật ừong loại hình truyện kể lãng mạn trước năm
1945
10
CHƯƠNG 1
VẤN ĐÈ TRUYÊN
• KẺ VÀ LOAI
• HÌNH TRUYÊN
• KẺ TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945
1.1. Khái quát về truyện kể
1.1.1. Khái niệm truyện kể
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện kể là “Hệ thống sự kiện cụ
thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành
một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn
học thuộc các loại tự sự và kịch”[l 1, Ừ.88].
Ngày nay, một cách hiểu hiệu lực phổ thông, rõ ràng và đơn giản nhất
theo Gérard Genette trong Biên giới của truyện kể thì truyện kể “là trình bày
một sự kiện hay một chuỗi sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện
ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ truyện kể”. Tất nhiên, khái niệm này có hạn
chế là phần nào che khuất cái bản chất của truyện kể, xoá bỏ cái biên giới sở
trường, cái điều kiện tồn tại của truyện kể. Không nên cho rằng truyện kể là
Hướng nghiên cứu gần gũi với trường phái hình thức Nga là lý thuyết
truyện kể của chủ nghĩa cấu trúc Pháp (C. Bremond, A J. Greimas, G.
Genette) và tự sự học cấu trúc hiện đại (W. Smid). Các môn đệ cấu trúc luận
Pháp tìm điểm tựa ở tư tưởng và phưomg pháp của Hình thái học truyện cổ
tích thần kì. Trần thuật học hậu cấu trúc luận đưa ra nhiều mô hình và đề
xướng nhiều thuật ngữ bổ trợ. Yới tư cách là sự triển khai “sự kiện thống nhất
được kể lại” (chứ không phải bản thân sự kể) thành một chuỗi, một trình tự
rời rạc, một mặt, truyện kể (sujet) được xác định là một không - thời gian
(chronotope) như thế này, hay thế kia. Mặt khác, nó còn được xác định bởi
hoạt động của nhân vật, tức là loại hình nhân vật. Dựa vào đó người ta phân
chia truyện kể thành các biến thể truyện thử thách và truyện trưởng thành.
Lại nữa, loại hình truyện kể sẽ gắn với so đồ cấu trúc phổ quát giữ vai trò chủ
12
đạo ừong đó được tổ chức theo kiểu xâu chuỗi hay tăng cấp. Cuối cùng, cấu
trúc truyện kể (sujet) sẽ biến đổi từ thể qua thể: chẳng hạn, ai cũng biết rõ tổ
hợp các môtip gắn kết vô số sự kiện của sử thi và định hướng sự vận động
của chúng tới chương kết là như thế nào; hay, cũng có thể phân chia các tổ
hợp tương tự trong mọi dạng tiểu thuyết trên trường kì lịch sử của nó.
Ở Việt Nam, thời gian đầu, nhiều nhà nghiên cứu đã đồng nhất thuật
ngữ “truyện kể” với “cốt truyện”. Trong bài viết cần sửa lại một thuật ngữ
dịch sai trong lí luận và nghiên cứu văn học của ta, Giáo sư Trần Đình Sử
đã phân tích về tính không chính xác ừong cách dịch và hiểu thuật ngữ trên.
Theo ông, “khái niệm truyện (cốt truyện) truyền thống tuy có cơ sở khoa học,
phù họp với danh xưng cốt truyện, tức cái cốt, bộ xương, cái lõi của truyện,
song có những thiếu sót nghiêm trọng. Một là chỉ quan tâm tới các yếu tố
nhân quả, tất yếu, bỏ qua các yếu tố ngẫu nhiên vốn góp phần quan trọng làm
nên cái hay, sức hấp dẫn của truyện... Hai là bỏ qua lời kể, một yếu tố cực kì
quan ừọng làm nên bản chất của tự sự. Ba là chưa thấy tính chất nghệ thuật
hai khái niệm cốt truyện và truyện kể đã có sự đối lập giữa hình thức và chất
liệu. Cốt truyện là chất liệu kể chuyện, là cố sự, truyện gốc hay tích truyện, là
chuỗi các biến cố liên tục tự nhiên trong truyện. Còn truyện kể là hình thức
kể truyện, là cái trật tự nghệ thuật mà tác giả dùng để kể lại các biến cố ấy
cho người đọc. Như vậy, truyện kể là cái cốt truyện đã được “gia công” một
cách nghệ thuật. Khái niệm “cốt truyện” trong cách hiểu thông thường của
giới nghiên cứu Việt Nam chỉ gần gũi với nội hàm của khái niệm “fabula”
còn khái niệm “truyện kể” gần gũi với khái niệm “sujet” theo quan niệm của
giới nghiên cứu Nga. Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng thuật ngữ
“truyện kể” theo cách hiểu trên.
14
1.1.2. Một sổ mô hình truyện kể
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy có một số mô hình truyện kể cơ bản
sau:
Trước hết, phải kể đến cách phân chia loại hình cốt truyện của tự sự
học lịch sử do Heyden White đề xướng. Theo Heyden White, cốt truyện của
tự sự học được phân ra làm bốn loại: loại hình cốt truyện lãng mạn, loại hình
cốt truyện bi kịch, loại hình cốt truyện hài kịch và loại hình cốt truyện trào
phúng.
Tiếp đến là mô hình cấu trúc câu của Todorov. Trong Thi Pháp văn
xuôi, Todorov chia câu thành các bộ phận (chủ ngữ là cái được nói tới, vị ngữ
là cái diễn ra) và các từ loại (động từ, tính từ, trợ động từ). Todorov cho rằng:
biến đổi tự sự (điều cơ bản tạo nên truyện kể) chính là những biến đổi của các
yếu tố như động từ, tính từ, trợ động từ.
Ngoài ra, còn có mô hình truyện theo các môtíp chủ đề của V.
Skhlovski.
Đặc biệt phải kể đến mô hình biến cố và trường ngữ nghĩa của Lotman.
Theo Iu.Lotman, vấn đề nguồn gốc truyện kể vừa là vấn đề lịch sử, vừa là
trưng cơ bản như sau:
Văn bản truyện kể là sự mô hình hoá thế giới có thực. Thế giới hiện
thực vô hạn là cái quy chiếu, còn văn bản truyện kể là một thực thể hữu hạn,
có khung, có kết cẩu nhiều tầng bậc, nhiều tiểu cẩu trúc và không gian là
“tổng hoà của những đối lập cơ bản”. Giới hạn của một truyện kể là mở đầu
và kết thúc. Có tác phẩm không có kết thúc (những truyện trinh thám đăng
nhiều kì trên báo có thể kéo dài bao nhiêu trang cũng được, tuỳ theo ý muốn
của chủ nhân và mức độ ăn khách), song mọi tác phẩm đều phải có mở đầu.
Mở đầu hướng đến mã hoá đối tượng, còn kết thúc thể hiện tính mục đích của
tác phẩm. Sự mô hình hoá một đối tượng vô hạn bằng những công cụ của một
16
văn bản hữu hạn dẫn đến kết quả là trong tác phẩm cùng tồn tại hai phưomg
diện: phương diện câu chuyện và phương diện huyền thoại. Mỗi tác phẩm
vừa thể hiện một phần đối tượng vừa bao hàm toàn thể đối tượng. Tiểu thuyết
An na Karenina của L.Tolstoi vừa thể hiện một đối tượng khá hẹp là số phận
của một người phụ nữ cụ thể (phương diện câu chuyện), đồng thời lại thể
hiện số phận của mọi người phụ nữ, thuộc mọi thời đại, nghĩa là xu hướng
ôm trọn cái toàn thể (phương diện huyền thoại). Ở mỗi thời đại, mỗi nhà văn,
có thể có những cách mở đầu và kết thúc một khác, song về cơ bản chúng đều
đảm nhiệm chức năng như nhau trong cấu trúc văn bản.
Truyện kể như vậy là một không gian, một không gian hình ảnh được
khu biệt, trong đó quan hệ giữa các đối tượng phải có đặc tính của các quan
hệ không gian thông thường: cao - thấp, phải - trái, rộng - hẹp, liên tục - đứt
đoạn, gần - xa, tách biệt - liên họp... Các phạm trù có đặc tính không gian đó
là những công cụ thể hiện thế giới trong đó có bao gồm cả các khái niệm giá
trị vốn bản thân chúng không có tính chất không gian như khái niệm thuộc mĩ
học, đạo đức, tôn giáo, chính trị... Chẳng hạn ở truyện cổ tích, không gian
mở bên ngoài bao giờ cũng gắn với một cái gì đó độc ác, thù địch, nguy
vật hành động tạo nên một biến cố. “Khung”, “không gian”, “biến cố”, “nhân
vật hành động và phi hành động”, “biên giới khả qua và biên giới bất khả
qua”. .. là những vật liệu tổ chức nên cấu trúc văn bản truyện kể.
Luận văn chủ yếu sử dụng cách phân chia của Iu. Lotman và Heyden
White để xác lập lên loại hình truyện kể lãng mạn trong văn xuôi Việt Nam
giai đoạn trước năm 1945.
1.2. Một số loại hình truyện kể trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn trước
năm 1945
Khi tìm hiểu loại hình truyện kể lãng mạn qua một số tiểu thuyết tiêu
18
biểu trước năm 1945, chúng tôi nhận thấy các tác phẩm để lại dấu ấn lớn
trong lòng độc giả tập trung chủ yếu ở giai đoạn 1930 - 1945. Đây được coi là
một trong những giai đoạn hoàng kim nhất của lịch sử văn học dân tộc. Và,
văn xuôi đã đạt đến “giá trị cổ điển” với một lóp nhà văn tiêu biểu như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Lan Khai, Thế Lữ,... Đã
khá hoàn thiện, xét về thi pháp thể loại, nền văn xuôi hiện đại trong sự kết
họp hài hoà với truyền thống dân tộc và thế giới với những tinh hoa của nó đã
bước từng bước vững chắc vào nền văn học chung của nhân loại. Các nhà
nghiên cứu đã thử nghiệm nhiều tiêu chí để loại hình hoá văn xuôi hiện đại
Việt Nam với mong muốn hướng tới cái đích nhất định có thể chấp nhận
được. Các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ X X - những vấn đề lịch sử
và lí luận, đã tổng họp, giới thiệu một số cách phân loại văn xuôi Việt Nam
(lấy trọng lực là thể loại tiểu thuyết) nửa đầu thế kỷ XX như sau:
Thứ nhất là dựa vào ừào lưu, khuynh hướng, phương pháp sáng tác mà
chia văn xuôi Việt Nam 1930 - 1945 ra thành văn xuôi lãng mạn, vãn xuôi
hiện thực phê phán, văn xuôi hiện thực chủ nghĩa (yêu nước, cách mạng).
Cách phân loại phổ biến này được đề cập trong sách giáo khoa ngữ văn phổ
hương xa hay truyện địa phương (kiểu như truyện đường rừng của Lan Khai,
Lý Văn Sâm hoặc truyện cao bồi miền Tây trong văn học Mỹ)...
Ngoài ra, văn xuôi Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 còn có một số
cách phân chia loại hình truyện kể khác:
- Chia truyện ngắn hiện đại (1930 - 1945) làm ba loại hình tiêu biểu mà
tên gọi của chúng chỉ có ý nghĩa tương đối là truyện ngắn - kịch hoá, truyện
ngắn - trữ tình hoá, truyện ngắn - tiểu thuyết hoá (Nguyễn Văn Đấu) [6].
- Xác định sự tồn tại của bốn “loại hình” tiểu thuyết tâm lý cơ bản ở
nửa đầu thế kỉ XX là tiểu thuyết tâm lý tình cảm, tiểu thuyết tâm lý bản năng,