Nhu cầu giải trí của sinh viên trên địa bàn TP.HCM
MỤC LỤC
TRANG
1. Lí do nghiên cứu……………………………………………………………….2
1.1.Ý nghĩa lí luận của đề tài……………………………………………....4
1.2.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài…………………………………………....4
2.Tổng quan đề tài nghiên cứu……………………………………………….…..5
3. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………………...5
3.1.Mục tiêu tổng quát…………………………………………………..…5
3.2.Mục tiêu cụ thể………………………………………………………....5
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu……………………………………6
4.1.Đối tương nghiên cứu……………………………………………….…6
4.2.Khách thể nghiên cứu……………………………………………….…6
4.3.Phạm vi nghiên cứu………………………………..…………………..6
4.3.1.
Thời gian………………………………………………..…...6
4.3.2.
Quy mô………………………………………….………......6
4.3.3.
Nội dung………………………………………………...…..6
5. Nội dung nghiên cứu…………………………………………………..…..…..7
5.1.Câu hỏi nghiên cứu………………………………………………...…..7
5.2.Thao tác hóa một số khái niệm……..…………………………………..7
cuối cùng thì nhu cầu giải trí ngày càng cao. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích giải
trí mang đến thì chính những loại hình giải trí lại tác động không tích cực đến đời
sống của thanh niên. Để tìm hiểu loại hình giải trí không lành mạnh cũng như thực
trạng và mức độ tham gia của tầng lớp thanh niên vào các hoạt động giải trí này
trong thời điểm hiện nay trên địa bàn TPHCM chúng tôi đã chọn đề tài “Nhu cầu
giải trí của sinh viên trên địa bàn TP.HCM”
2
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu giải trí của mỗi cá nhân cũng
được nâng cao, nhất là bộ phận giới trẻ, đặc biệt hơn cả chính là sinh viên tại các
trường Đại Học và Cao Đẳng, sinh viên là những chủ nhân tương lai của xã hội, xã
hội hiện đại đòi hỏi ở họ khả năng tư duy, mong đợi sự cố gắng không ngừng của
họ để thành công trên con đường học tập và công việc. Cũng vì vậy áp lực mà
người sinh viên phải chịu là rất lớn, và nhu cầu giải trí lại càng vô cùng quan trọng
trong cuộc sống của sinh viên, nó giúp cho họ có thể thư giản sau những giờ học
mệt mỏi và căng thẳng, hay tăng cường tinh thần đoàn kết và mở rộng kiến thức
trong các trò vui chơi giải của các Câu lạc bộ do Khoa ,Trường tổ chức, họ còn có
thể trò chuyện, kết bạn với nhiều người ở mọi nơi trên thế giới hoặc thể hiện bản
thân qua các trang Mạng Xã Hội,Facebook, Twitter, My space...hay thử sức mình
qua các trò chơi online…..
Mức độ giải trí của sinh viên ở các thành phố lớn mạnh hơn hẳn so với
các tỉnh huyện, trong số đó nhất là sinh viên tại các trường Đại Học trên Thành phố
Hồ Chí Minh lại có mức độ giải trí cao nhất. Có thể nói sinh viên Thành Phố Hồ
Chí Minh hiện nay đang hàng ngày hàng giờ tiếp cận với những phương tiện thông
tin đại chúng hiện đại, với Internet và rất nhiều loại hình giải trí mà chỉ mới cách
đây một vài năm còn khá hiếm hoi. Tính đa dạng của các loại hình giải trí đã khiến
cho cơ hội lựa chọn xu hướng giải trí của sinh viên được mở rộng hơn rất nhiều.
mô hình Câu lạc bộ hay được tổ chức có thể đáp ứng tốt nhu cầu của sinh viên và
tạo động lực không nhỏ làm thay đổi nhận thức và hiểu biết về cac lợi ích mà các
họat động này mang lại.
“Thế giới ảo” cái tên đã quá quen thuộc đối với giới trẻ hiện nay. Đó chính
là thế giới trên máy tính, điện thoại, IPad… kết nối Internet nơi mà bạn có thể tìm
kiếm, liên lạc, làm quen, chat,…với bất kì người nào, và bất kì ở đâu chỉ cần ở đó
có intenet, đây cũng chính là loại hình hoạt động giải trí thụ đông vô cùng hấp dẫn
đối với sinh viên...Các hoạt động giải trí trên internet rất đa dạng về các loại hình:
từ đơn giản như lướt web, chat, viết blog cho đến tham gia các diễn đàn, mạng xã
4
hội, hay đến việc chơi game online... từ các hoạt động online cho đến các hoạt
động offline. Trong những hoạt động trên rất nhiều sinh viên chọn loại hình này để
giải tỏa cảm xúc, bày tỏ những chính kiến, những điều khó chia sẻ trong cuộc sống
thực tế, hay đơn giản chỉ là để giải trí... một thế giới mà đôi khi đưa sinh viên, đưa
thanh niên và giới trẻ vào một con người hoàn toàn khác nếu không nhận thức
được thế nào là vui chơi giải trí lành mạnh và vui chơi giải trí không lành mạnh.
Mặt trái của nó là nhiều lúc hình thức giải trí này trở nên mất kiểm soát nếu mỗi
sinh viên không có sự tự chủ cao, không phân biệt được sự khác nhau của nhu cầu
lành mạnh và không lành mạnh. Đáng chú ý hiện nay, dung lượng và thời lượng
của các loại hình giải trí trong cuộc sống thực của nhiều bạn trẻ đang có xu hướng
thu hẹp và dần chuyển sang các loại hình trong “không gian ảo” trong internet.
Thực trạng này có những hệ quả xấu. Nhiều sinh viên chìm đắm trong thế giới ảo,
đam mê chơi game online đến mức quên ăn, quên ngủ, quên cả bạn bè, người thân,
bỏ cả việc học, lại có những sinh viên “thả mình” vào những website có nội dung,
bạo lực, đồi trụy và không thể thoát ra được, điều này không chỉ ảnh hưởng xấu
đến thể chất mà còn tổn hại cả về tinh thần của sinh viên. Đó cũng là sự du nhập
của những băng đĩa ngoài luồng có nội dung không lành mạnh. Đó còn là sự xuất
hiện những tệ nạn xã hội núp bóng các hoạt động vui chơi giải trí của sinh viên…
Chỉ tập trung đào sâu nghiên cứu về nhu cầu giải trí của sinh viên, chưa chú trọng
nhiều vào các hình thức giải trí của sinh viên. Hơn nữa, các bài viết đều mang tính
chất còn chung chung chưa hướng đến một đối tượng cụ thể nào trong xã hội.
-Nguyên nhân:
Do các nhu cầu giải trí của sinh viên chưa được quan tâm một cách cụ thể, chưa
phổ biến rộng rãi các hoạt động hướng ngoại, song còn gặp nhiều khó khan,cũng
như chưa có nhiều bài viết hay những công trình nghiên cứu khoa học nói về vấn
đề này.
-Nét mới của đề tài:
•
Cách tiếp cận có hệ thống đặt vấn đề nghiên cứu trong một tổng thể xã hội
•
mà người nghiên cứu đứng trên phương diện của một nhà xã hội học.
Với đề tài này khách thể là nhóm đối tượng sinh viên và nghiên cứu nhu
cầu giải trí của sinh viên khác xa so với các bài viết của các tác giả về
“hoạt động vui chơi của sinh viên”.
6
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp luận, phương pháp điều tra,thu
•
thập thông tin và phương pháp phân tích dữ liệu, phỏng vấn, thống kê và
3
4.3)Phạm vi nghiên cứu:
•
•
•
•
•
Địa bàn nghiên cứu: Một số trường Đại học trên Thành Phố Hồ Chí
Minh chủ yếu là 3 trường sau:
Đại học Tôn Đức Thắng, Quận 7, Thành Phố Hồ Chí Minh
Đại học Nguyễn Tất Thành, Quận 4, Thành Phố Hồ Chí Minh
Đại học Luật Quận 4, Thành Phố Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát: Sinh viên tại các trường Đại Học 2 nhóm ngành:
Khoa học - Kĩ thuật
Khoa học xã hội nhân văn
Dung lượng mẫu: 300 mẫu chia đều cho sinh viên mỗi trường
7
•
•
•
Thời gian: Đề tài được Nghiên cứu từ tháng 02/2014 – 03/2014.
Quy mô: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu là Quận 4 và Quận
7.
Nội dung: Các yếu tố ảnh hưởng:
đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận
thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn
nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản
lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân.
Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo
định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các
cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay
mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu
cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn
tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói
chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học
quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã
hội... Khái niệm trên cho thấy nhu cầu mang tính sinh học, nhằm đáp ứng những
đòi hỏi của sự phát triển sinh học của con người, song mặt khác nhu cầu cũng
mang tính xã hội thể hiện ở chỗ dù là của riêng cá nhân nhưng nhu cầu chỉ có thể
được đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội. Nhu cầu của con người là giống nhau
nhưng ở mỗi thời đại, mỗi xã hội lại đáp ứng chúng theo các cách khác nhau. Nhu
cầu còn được đáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán cộng đồng và bị
quy định bởi văn hoá cộng đồng. Có nhiều loại nhu cầu, các loại nhu cầu khác
nhau không tồn tại đơn lẻ, tách rời mà nằm trong mối quan hệ ràng buộc, phụ
thuộc tương tác lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Nhu cầu giải trí là một
nhu cầu thiết yếu của con người nằm trong hệ thống đó.
B. GIẢI TRÍ :
Theo từ điển xã hội học “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp
ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học”
và “giải trí không phải là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời
sống cộng đồng”
Vui chơi giải trí là một hoạt động trong chuỗi hoạt động của đời sống con
người:
Con người sống tất phải hoạt động, hoạt động là phương thức tồn tại của con
người. Hoạt động không chỉ là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con
người tác động vào hiện thực khách quan mà còn hướng vào việc làm ra sản phẩm
10
thỏa mãn nhu cầu làm việc của con người và tạo ra chính con người. Hoạt động
bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định, không thể hoạt động mà không
nhằm vào một đối tượng nào hết. Đối tượng có thể là sự vật, hiện tượng hoặc con
người hay một nhóm người…Ví dụ: hoạt động học tập của học sinh có đối tượng
là tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo mà các em nhắm tới để tiếp thu. Tương tự,
đối tượng hoạt động vui chơi giải trí là sức khỏe, trí tuệ, thẫm mỹ kỹ năng, kỹ xảo
của các mối quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm bạn, với tập thể để
mục đích cuối cùng là đạt được trạng thái cân bằng, sự điều hòa trong các hoạt
động bình thường và hướng đến sự hoàn thiện của nhân cách.
Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành. Đó chính là con người tham gia hoạt
động. Tính chủ thể bao hàm trước hết là tính tích cực. Đây là đặc điểm chung của
sự sống cũng như con người. Tính tích cực phát triển đến đỉnh cao thành tích chủ
động say mê, nhiệt tình.
Hoạt động cao người theo nguyên tắc gián tiếp. Như vậy, để có hoạt động phải có
công cụ hoạt động. Công cụ bao gồm cả tri thức, kỹ năng, công nghệ. Đối với hoạt
động vui chơi giải trí, ngôn ngữ là phương tiện chính là công cụ để hoạt động được
tiến hành.
Hoạt động vui chơi giải trí là một trong những quyền cơ bản của đời sống con
người
Quyền con người là giá trị nhân văn có tính lịch sử lâu đời, nội dung lớn, phức tạp,
hết sức nhạy cảm
dạng
- Bên cạnh những loại hình giải trí lành mạnh vẫn tồn tại những loại hình giải
trí lệch chuẩn,hơn hết sinh viên đang càng ngày xa lầy hơn vào các tệ nạn xã
hội thông qua các loại hình giải trí này.
-Nhu cầu giải trí của sinh viên có xu hướng tăng nhanh theo loại hình giải trí
thụ động, đặc biệt là các Mạng Xã Hội và Game online.
- Nhu cầu giải trí của sinh viên hiện nay còn đang bị hạn chế, trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay đó là một phần vô cùng cần thiết để xây dựng không gian mở,
lành mạnh phù hợp với sinh viên trong vấn đề giải trí.
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1) Phương pháp thu thập thông tin:
12
- Sơ cấp: Tiến hành thiết kế bảng câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp các sinh viên
các trường đại học
- Thứ cấp: Sử dụng số liệu tham khảo trên mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh
- Phương pháp chọn mẫu có hệ thống, tiến hành phỏng vấn trực tiếp sinh viên,
chọn ngẫu nhiên 100 bạn để phỏng vấn.
7.2) Phương pháp phân tích tài liệu:
Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, tập hợp, xây
dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề tự học.
7.3)Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn sinh viên về thực trạng giải trí của sinh viên ngành sư pSinh học
hiện nay.
7.4)Phương pháp thống kê, mô tả:
Là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt trình bài,
tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát các đối
tượng nghiên cứu.
Chương 2. Khái quát chung về nhu cầu giải trí của sinh viên và xu hướng trong
tương lai
2.1. Thực trạng về vấn đề giải trí của sinh viên hiện nay
2.2. Nhu cầu cần thiết của sinh viên về các hoạt động vui chơi
Chương 3. Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu giải trí của sinh viên các trường
Đại học hiện nay
3.1. Nhu cầu giải trícủa sinh viên
3.2. Phân tích tác động tích cực và tiêu cực những hoạt động giải trí của sinh viên
các trường Đại học tr ên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Phần kết luận – khuyến nghị
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14
1) Vũ Cao Đàm,Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, (Tái bản lần
thứ 3), NXB Giáo dục Việt Nam, 2011.
2) Đỗ Nam Liên, Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ, NXB Khoa học xã hội, TP.HCM,
2005.
3) Mai Quỳnh Nam, Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, Tạp chí xã hội học,
số 01/1996.
4) Mai Quỳnh Nam, Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
5) Bùi Hoài Sơn, Phương tiện truyền thông mới và những thay đội văn hóa xã hội
ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.
6) Đề tài nghiên cứu khoa học “Tác động của truyền hình đến nhận thức về lối
sống của giới trẻ tại TP.HCM hiện nay”, nhóm sinh viên thực hiện Lê Xuân Thái,