LUẬN VĂN: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp hiện nay potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nhu cầu giải trí của công nhân lao động
khu công nghiệp hiện nay Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hằng năm, doanh nghiệp trong các KCN, KCX đóng góp cho ngân sách Nhà nước
hàng chục nghìn tỷ đồng. Nhưng, phần lớn số công nhân tại các KCN, KCX đang phải
sống trong những căn phòng trọ quá tạm bợ, nhếch nhác, ăn uống kham khổ qua ngày;
đời sống văn hoá tinh thần thiếu thốn, khả năng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải

nghiệp Bắc Thăng Long, Nội Bài - Hà Nội).
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nhu cầu của con người đã trở thành đối tượng của nhiều ngành
khoa học khác nhau, còn riêng đối với ngành xã hội học nhu cầu của con người được
nghiên cứu theo nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhu cầu giải trí của công
nhân lao động KCN thì chưa được đề cập đến. Đây cũng là vấn đề khó và mới, mà tác
giả đã và đang kế thừa, vận dụng các công trình gần sát để tìm ra cái mới của các công
trình dưới đây, để phục vụ cho luận văn của mình:
- Cuốn sách “Nhu cầu động lực và định hướng xã hội” (Nxb Khoa học Xã hội,
2005) của tác giả TS. Lê Thị Kim Chi đã đề cập đến động lực của nhu cầu, tiền đề tạo
nhu cầu. Qua đó, làm rõ các căn cứ lý luận và thực tiễn cho luận văn, bởi vì trước nay,
có rất ít các công trình nghiên cứu được triển khai theo phương pháp này sẽ giúp
người đọc nhận diện sâu sắc hơn những khía cạnh nhu cầu động lực và phát triển xã hội.
Đề tài có thể vận dụng nó để nghiên cứu tiền đề tạo nhu cầu của nhóm công nhân lao
động KCN.
- Cuốn sách “Nhu cầu giải trí của Thanh niên”, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2003)
của TS. Đinh Thị Vân Chi đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu giải
trí của thanh niên từ góc độ xã hội học, khuân mẫu giải trí của thanh niên hiện nay, đưa
ra được xu hưởng biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên. Luận văn có thể kế thừa và so
sánh kết quả nghiên cứu về nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp với
nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay.

- Công trình “Mấy nhận xét về biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà nội hiện
nay” (2001) Đinh Thị Vân Chi. Những kết quả chủ yếu của nghiên cứu này là, đã điểm
lại sự thay đổi nhu cầu giả trí của người Việt Nam nói chung và của thanh niên nói riêng
trong thời gian dài (1945-1965). Đó là, giải trí dưới hình thức tham gia các trò chơi
truyền thống từ cá nhân sang các hình thức giải trí mang tính tập thể. Sau đó do những
hoàn cảnh của lịch sử hình thức giải trí ít được thực hiện. Khi đất nước đổi mới, do
những thay đổi điều kiện kinh tế, xã hội, như xoá bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ
chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, từ năm 1990 trở lại đây, các hình thức giải

đã gợi ra những tương đồng trong nghiên cứu của luận văn: đó là khách thể nghiên cứu
là những người làm việc mang tính chất công nghiệp. Tuy nhiên điều khác là, không
gian giải trí là tại nơi làm việc. Vấn đề kế thừa, phát triển là tìm hiểu động cơ giải trí
của họ và những hiệu quả mang lại khi nhu cầu giải trí được đáp ứng; tìm hiểu nhu cầu
giải trí tại nơi công cộng của công nhân lao động.
- Ban Tuyên giáo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2007) nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động tại các khu công nghiệp,
khu chế xuất” do Ths, Trương Thanh Cần làm chủ nhiệm đã đề cập đến thực trạng đời
sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động trên một số khía cạnh tác động như: đến
nhận thức, ý thức tham gia các hoạt động văn hoá ở khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu nhà trọ; các thiết chế phục vụ hoạt động văn hoá, văn nghệ của công nhân các
KCN, KCX. Đây là hướng tiếp cận rất gần với đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, nhóm tác
giả đề tài chưa đề cập đến tác động của việc thoả mãn nhu cầu giải trí tới nâng cao đời
sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động tại các KCN, KCX. Nên luận văn có thể
nghiên cứu bù lấp kết quả đó bằng việc làm rõ nhu cầu giải trí của công nhân lao động.
- Viện Công nhân và Công đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2006)
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng đời sống, việc làm lao động nữ doanh nghiệp ngoài
quốc doanh và các giải pháp của Công đoàn” do TS. Dương Văn Sao chủ nhiệm đề tài,
nhóm tác giả đã đưa ra bức tranh tổng thể và khái quát tình hình phát triển các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, đặc điểm lao động nữ, việc làm và điều kiện làm việc của lao

động nữ; thực trạng đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nữ công nhân lao động.
Luận văn, dựa vào thực trạng đời sống, việc làm khó khăn như hiện nay có mối quan hệ
với nhu cầu giải trí không? Liệu công nhân lao động thiếu cả hai thì đó có là một trong
những nguyên nhân gây đến đình công ở các KCN hiện nay không?
- Viện Sử học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2008) nghiên cứu đề tài: “ Xây
dựng và phát triển văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và
hội nhập quốc tế” thuộc chương trình: Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt
Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Mã số: KX.03/06-10. PGS.TS.
Nguyễn Văn Nhật, Chủ nhiệm đề tài và cùng nhóm tác giả đã làm rõ khái niệm, nội

KCN;
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu giải
trí cho công nhân lao động KCN hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hoá các khái niệm liên quan;
- Hệ thống hoá các nhu cầu giải trí của công nhân KCN; phác thảo các hoạt động
giải trí và nhu cầu giải trí phù hợp với công nhân KCN;
- Khảo sát thực trạng nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu giải trí cho công nhân tại
KCN Quang Minh và Bắc Thăng Long;
- Nêu ra vấn đề có tính chất lý luận, khoa học về quản lý, định hướng giải trí cho
công nhân KCN làm cơ sở khoa học tham khảo cho việc xây dựng các chính sách liên
quan đến hoạt động giải trí của công nhân KCN;
- Đề xuất một số hình thức giải trí cho công nhân KCN phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội chung và điều kiện hoạt động của các KCN hiện nay.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN Quang Minh và Bắc Thăng Long,
Nội Bài, Hà Nội.

4.2. Khách thể nghiên cứu:
Công nhân lao động làm việc tại khu công nghiệp Quang Minh, khu công nghiệp
Bắc Thăng Long, Nội Bài.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn: Khu công nghiệp Quang Minh và khu công nghiệp Bắc Thăng Long, TP
Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 7/2009 - 10/2009
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
+ Giả thuyết thứ nhất: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
cao và đa dạng;
điều kiện kinh tế - xã hội
đ
ặc
đi
ểm

cá nhân

- Giới tính;
- Tuổi;
- Tình tr
ạng
hôn nhân;
- Trình đ

học vấn;
- Trình đ

chuyên môn;
-
Thâm niên
làm việc;

đi
ều kiện cá nhân

- Thời gian;
- Sức khoẻ;

nghe đài, đ
ọc
sách, báo;
- Hoạt đ
ộng
th
ể dục thể
thao;
- Giao l
ưu
bạn bè;
- Du l
ịch dã
ngoại.
6. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
6.1. Phương pháp luận
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở
phương pháp luận. Thừa nhận tính khách quan, tính phổ biến của các quy luật. Thừa
nhận quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể, luôn xem xét các sự vật hiện
tượng của đời sống xã hội trong những mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau và đồng thời
xem xét chúng trong những khoảng không - thời gian xác định.
Đề tài sử dụng các quan điểm của lý thuyết nhu cầu, lý thuyết chức năng định
hướng cho luận văn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành việc thu thập, xử lý và phân tích thông tin phục vụ cho đề tài, tác giả
sử dụng một số phương pháp Xã hội học cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Những đề tài có liên quan đều được kế thừa và

năng đáp ứng của xã hội không làm thoả mãn nhu cầu giải trí của công nhân lao động
KCN. Bên cạnh đó, đề tài làm sáng tỏ mối tương quan giữa nhu cầu giải trí với năng
suất lao động, với những hệ luỵ nơi cư trú.
Qua những đóng góp về mặt khoa học của luận văn về nhu cầu giải trí của công nhân
lao động khu công nghiệp hiện nay, rút ra ý nghĩa của đề tài như sau:
- Về mặt lý luận: áp dụng các lý thuyết của tâm lý về nhu cầu, lý thuyết xã hội học
cấu trúc chức năng về giải trí và các phương pháp xã hội học để phân tích và đánh giá
mức độ, nhận thức, sở thích và động cơ giải trí của công nhân lao động khu công
nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Qua việc tìm hiểu nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN
Quang Minh và KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài cho thấy, nhu cầu giải trí của công
nhân lao động là rất cao nhưng khả năng đáp ứng của xã hội chưa thoả đáng.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề
tài gồm 3 chương, 7 tiết.

Chương 1
cơ sở thực tiễn về Nhu cầu giải trí
của công nhân lao động KCn hiện nay

1.1. Thao tác hoá khái niệm
1.1.1. Khái niệm nhu cầu
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội loài người vận động và phát triển theo quy
luật thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội, sự thay thế này chịu sự quy định của sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Những lực lượng sản xuất này sẽ góp phần thoả mãn
những nhu cầu cơ bản, sống còn và thoả mãn những nhu cầu ngày một cao của con
người. Điều đó có nghĩa là nhu cầu kích thích lực lượng sản xuất. Mác viết: “không có
nhu cầu thì không có sản xuất”[27, tr.865].
Chứng tỏ, nhu cầu của con người không phải là bất biến mà nó biến đổi và phát
triển thường xuyên. Nhu cầu này được thoả mãn, kích thích, bị dập tắt, đồng thời xuất

Dưới góc độ tâm lý cá nhân, vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách một cấu trúc
tâm lý quy định xu hướng nhân cách, khẳng định một cách hệ thống rằng “nhu cầu -
nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người”. Xuất phát từ quan điểm cho
rằng, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất
định đảm bảo cho sự sống và phát triển của con người. A.G. Côvaliov viết: “ Một nhu
cầu đã được con người phản ánh sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, mọi thái độ của
cá nhân; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động, xác định hướng suy nghĩ, tình
cảm và ý chí của người đó” và do đó có thể nói “trong nhu cầu có sự thống nhất giữa
khách quan và chủ quan” [12, tr.192].
Rõ ràng đối tượng thoả mãn nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không phải
tự nó bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi, mà chỉ khi nào con người thực
sự hoạt động thì nó mới được phát lộ ra. Chỉ nhờ kết quả của sự phát lộ ấy mà nhu cầu
được thúc đẩy, tức là trở thành động cơ. Mà A.N. Leonchiev cho rằng không phải nhu cầu,
không phải sự trải nhiệm về nhu cầu ấy mà động cơ là “một cái khách quan mà trong đó
nhu cầu tìm thấy bản thân mình trong những điều kiện nhất định. Cái khách quan ấy trở

thành hoạt động có đối tượng và nó hướng hoạt động vào một kết quả nhất định” [23,
tr.221].
Theo từ điển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga), “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần
thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội
hoặc toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt động” [11, tr.243].
TS. Lê Thị Kim Chi, Viện Triết học đưa ra khái niệm: “Nhu cầu là những trạng
thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (con người và xã hội) để
tồn tại và phát triển” [4, tr.29].
Theo quan điểm của Tâm lý học thì khái niệm “Nhu cầu” dùng để chỉ “sự đòi hỏi
tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển”
[40, tr.186].
“Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện
và phương thức thoả mãn quy định. Khi nào đối tượng của nhu cầu có khả năng đáp
ứng thì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động của các cá nhân hay

tính vụ lợi nhằm mục đích giải toả sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh
thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mỹ.
Từ điển Xã hội học: “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng
những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học” và
“Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng
đồng” [41, tr.116].
Theo TS. Đinh Thị Vân Chi: “Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi,
nhằm giải toả căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát
triển con người và lao động điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí
tuệ, thể lực và thẩm mỹ” [6, tr.39-40].
Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi để con người có thể thực hiện
nhiều hoạt động khác nhau: Có người tranh thủ làm thêm tăng thu nhập hoặc học thêm
để nâng cao trình độ; Cũng có người dùng thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động
không hề có tác dụng gì đối với sự phát triển toàn diện cá nhân, thậm chí là vô bổ hoặc

có hại như ăn nhậu, rong chơi hoặc dính vào các tệ nạn xã hội những hoạt động lệch
chuẩn như vậy không thuộc nội hàm khái niệm giải trí.
Giải trí không phải là nghỉ ngơi thụ động mà là những hoạt động mang tính chủ
động. Tức là giải trí hoàn toàn tự do, do cá nhân lựa chọn và tham gia một cách chủ
động, không hề bị thúc bách bởi một nghĩa vụ, bổn phận nào. Tất nhiên cùng một hoạt
động, có thể là giải trí, có thể không là giải trí, tuỳ thuộc vào thời gian và mục địch hoạt
động. Có thể thấy cùng là chơi thể dục, thể thao thì đối với cầu thủ là hoạt động nghề
nghiệp, đối với công nhân lao động là hoạt động giải trí.
Theo Đoàn Văn Chúc, “giải trí là hoạt động sản xuất và tiêu dùng các các tác
phẩm văn hoá” [7, tr.28], tác phẩm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ những
sản phẩm của các lĩnh vực thuộc nhu cầu tinh thần theo nghĩa rộng nhất. Để tạo ra sản
phẩm văn hoá trong khi giải trí là sáng tạo những sản phẩm tinh thần với nghĩa rộng
nhất, không chỉ là viết truyện làm, thơ, vẽ tranh theo sở thích, không chỉ là hoạt động
nghệ thuật không chuyên hoặc tham gia các câu lạc bộ năng khiếu, mà còn gồm cả giao
tiếp, tâm sự, tổ chức những cuộc vui chơi [6, tr.39].

Thứ ba, hoạt động thuộc đời sống vật chất của con người như nấu nướng, ăn uống,
nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân… Đó là hoạt động thoả mãn nhu cầu vật chất của mỗi người.
Thứ tư, hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân như thưởng thức nghệ
thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo… Đó là hoạt động thoả mãn nhu cầu tinh
thần của mỗi người.
Qua bốn hoạt động giải trí trên thì hoạt động thứ nhất diễn ra trong khoảng thời
gian nghiêm ngặt, chặt chẽ. Còn ba hoạt động còn lại được thực hiện linh hoạt, theo cụ
thể của mỗi cá nhân và nó là hoàn toàn tự do mà cá nhân toàn quyền lựa chọn theo sở
thích, trong khuân khổ chuẩn mực của xã hội. Hoạt động giải trí trong thời gian rỗi là
hoạt động để con người bộc lộ rõ những khả năng tiềm ẩn của mình. Điều đó là có thể,
bởi giải trí là những hoạt động sở thích, giúp cá nhân bộc lộ và nâng cao khả năng mà
trong thời gian lao động không có điều kiện thể hiện [6, tr.47].

Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất hiện nhu cầu giải trí,
con người bị thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu đó. Nhu cầu giải trí thuộc các
bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự
vươn cao, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình. Nhu
cầu giải trí cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu giải trí là nhu cầu phát triển toàn diện trí não con người sau thời gian lao
động căng thẳng như những trò chơi trí tuệ nhằm rèn luyện khả năng phân tích, suy luận
và phán đoán, là điều kiện phát triển trí tuệ cho người chơi; những trò chơi vận động
nhất là các hoạt động thể dục, thể thao giúp người tham gia phát triển thể lực; những
hoạt động thưởng thức nghệ thuật như xem phim, đọc báo, nghe nhạc và những hoạt
động câu lạc bộ năng khiếu nghệ thuật như hát, ngâm thơ, múa là những hoạt động thiết
thực nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ của thể lực.
Qua phân tích trên, thì nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN thể hiện
thông qua những hoạt động giải trí mà họ thường tham gia sau giờ tan ca vào các ngày
thường và ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết. Qua thời gian, những hoạt động đó lặp
đi lặp lại, trở nên ổn định, thành thói quen. Khi đã trở thành thói quen, chúng được mô
hình hoá, khiến CNLĐ thực hiện nó một cách “tự động hoá” mỗi khi điều kiện cho

Theo Từ điển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga), thời gian rỗi được coi là khái niệm
đồng nghĩa với thời gian tự do, nghĩa là “phần thời gian ngoài giờ lao động của cá
nhân (nhóm xã hội) còn lại sau khi đã trừ đi chi phí thời gian cho những hoạt động cần
thiết không thể thiếu” [11, tr.299].
Theo TS. Đinh Thị Kim Chi: Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con
người không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ
khách quan nào. Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể
nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người.
Qua phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: “Thời gian rỗi là những khoảng thời
gian mà cá nhân không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế làm việc. Thời gian đó dành
cho các hoạt động tự do, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, họ tìm
đến những hoạt động giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của họ”.

Thời gian rỗi của công nhân lao động KCN là những khoảng thời gian sau giờ tan
ca không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế của doanh nghiệp. Thời gian đó dành cho
các hoạt động giải trí tự do tại nơi cư trú, giải trí theo nhóm cùng sở thích để đỡ buồn và
cô đơn.
1.1.5. Khái niệm khu công nghiệp
Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặc dù thuật ngữ
KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều loại hình, nhiều
mô hình tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau. Một số nước KCN được hiểu là các
công viên công nghiệp (Industrial Parks). Có những KCN được gọi là cụm công nghiệp
(Industrial Clusters). Những KCN hoạt động chuyên về sản xuất hàng xuất khẩu với quy
chế miễn thuế nhập khẩu được gọi là khu chế xuất (KCX) (Export Processing Zones).
Khu công nghiệp cũng có thể là khu công nghệ cao (Hight tech centres) hoặc khu công
nghệ cao là một bộ phận của KCN.
Nghị định 36- CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ nêu rõ:
KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh
giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ

xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt.
Thứ ba, KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ
tướng chính phủ xem xét quyết định thành lập.
Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Đó là các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất
khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, chúng tôi thống nhất với khái niệm về KCN đã được nêu
ra trong nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về Quy chế KCN, KCX và khu
công nghệ cao:

Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính
phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có
doanh nghiệp chế xuất [8, tr.7].
Với khái niệm như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu là khu công nghiệp tập
trung, không có dân cư sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm
môi trường, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN), với các đặc
khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập). Do vậy, KCN Thăng Long, Nội Bài
và KCN Quang Minh là hai KCN lớn của Thành phố Hà Nội, cũng là mô hình KCN
hiện đại và sớm đi vào hoạt động. KCN Thăng Long còn nổi tiếng là KCN xanh, sạch,
đẹp, với 100% các nhà đầu tư đều áp dụng công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi
trường. KCN Quang Minh gần 1000 ha, chuyên sản xuất hàng công nghiệp nổi tiếng,
công nghệ tiên tiến.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhu cầu giải trí
Nhu cầu giải trí là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động giải trí nhằm
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội

làm, quyết tâm mà làm thì đời sống mới nhất định thực hiện được. Mong toàn thể đồng
bào gắng sức theo đời sống mới, xây dựng một nước Việt Nam phú cường” [29, tr.110].
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế kéo theo nhu cầu giải trí của công
nhân lao động ngày càng gia tăng. Điều đó đòi hỏi lãnh đạo các cấp không chỉ chăm lo
cuộc sống vật chất phát triển mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần bền vững, lành
mạnh. Điều này muốn thực hiện được phải thông qua hoạt động của hệ thống thiết chế
văn hoá trực tiếp phục vụ cuộc sống của nhân dân. Đó là thiết chế văn hoá thông tin cơ
sở, cầu nối gần gũi giữa Đảng, Nhà nước với người lao động là nơi giải trí sinh động;
nơi cất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ nhu cầu giải trí, sinh hoạt văn nghệ, thông
tin ở cơ sở. Thiết chế văn hoá thông tin cơ sở phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành các

nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương. Nó là công cụ tư tưởng văn hoá sắc
bén hiệu quả của Đảng và chính quyền các cấp.
Theo tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống mới phải gắn liền với
việc xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm cả giá trị di sản văn
hoá truyền thống và cách mạng, những giá trị sáng tạo mới và tinh hoa văn hoá nhân
loại. Môi trường văn hoá là sự kết hợp hài hoà giữa môi trường xã hội và môi trường tự
nhiên, có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Môi trường văn
hoá ở cơ sở bao gồm các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp, công - nông - lâm trường, trường
học, bệnh viện, các khu dân cư như làng, ấp, bản, xã, phường, khu phố Bảo đảm môi
trường văn hoá lành mạnh, có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập, tiếp nhận thông
tin, thưởng thức nghệ thuật, vui chơi giải trí của mọi thành viên là cái cần có để phòng,
chống tốt nhất tệ nạn xã hội.
Hồ Chí Minh coi việc đầu tư cho giải trí là đầu tư cho con người, phát triển văn
hoá chính là phát huy nguồn lực con người - nguồn lực to lớn và quyết định nhất đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tạo cho con người có trình độ văn hoá cao, nhân
cách đẹp và vị tha, giàu lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm đối với xã hội là việc làm
thường xuyên và lâu dài. Bởi vậy, Người đã hết lòng chăm lo cho việc đào tạo, bồi dưỡng
nhân tố con người.
"Vì lợi ích mười năm trồng cây

chiến lược phát triển văn hoá theo định hướng:
Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ và
thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hoá, đồng
thời hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hoá. Nâng cao chất
lượng hệ thống bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng; đẩy mạnh xây dựng
thư viện, nhà văn hoá, nhà thông tin, câu lạc bộ sức khoẻ, sân bãi thể dục
thể thao, khu vui chơi giải trí… [15, tr.114-115].
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng chỉ rõ:

Trích đoạn Hoạt động thể dục, thểthao trong thời gian nhàn rỗ Nhu cầu giải trớ của cụng nhõn lao động chơi thể dục, thểthao Nguyờn nhõn chủ quan Nguyờn nhõn khỏch quan Những yếu tố cỏ nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status