LUẬN VĂN:
Nhu cầu giải trí của công nhân lao động
khu công nghiệp hiện nay
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hằng năm, doanh nghiệp trong các KCN, KCX đóng góp cho ngân sách Nhà nước
hàng chục nghìn tỷ đồng. Nhưng, phần lớn số công nhân tại các KCN, KCX đang phải
sống trong những căn phòng trọ quá tạm bợ, nhếch nhác, ăn uống kham khổ qua ngày;
đời sống văn hoá tinh thần thiếu thốn, khả năng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải
trí rất thấp, mặc dù ở ngay các trung tâm đô thị lớn.
Vấn đề bức bách đặt ra hiện nay, là hoạt động giải trí của công nhân lao động ở
các KCN đã và đang bị dạt ra bên ngoài đời sống văn hoá tinh thần tại địa phương nơi
mình làm việc. Và ngay cả trong KCN chưa thực sự quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng và công trình phúc lợi tập thể, nên hầu hết ở đây điều kiện phục vụ đời sống tinh
thần của công nhân như nhà văn hoá, thể thao, thư viện, công viên, nơi vui chơi giải trí,
hội họp sau giờ làm việc của công nhân còn thiếu thốn. Trong khi đó, thu nhập, thời
gian, cường độ lao động cao, đa số công nhân mới chỉ đáp ứng được nhu cầu đời sống
vật chất và tinh thần tối thiểu, nên công nhân không có điều kiện tham gia các hoạt động
giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần. Hoạt động giải trí là một bộ phận quan trọng
trong cơ cấu hoạt động sống của cá nhân, góp phần tạo nên diện mạo văn hoá cá nhân
và là một trong những thước đo lối sống của con người. Nếu nhu cầu giải trí không
được đáp ứng thoả đáng, nhân cách có nguy cơ bị biến dạng, do đó nhu cầu giải trí của
công nhân lao động khu công nghiệp trở thành một vấn đề cấp thiết cần được nghiên
cứu cả về lý luận và thực tiễn.
Hiện nay, nhu cầu giải trí của công nhân lao động là rất đơn điệu và tẻ nhạt, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách khoa học. Trong khi đó, công nhân lao động
là một nhóm xã hội có nhu cầu giải trí cao, muốn tham gia vào các hoạt động vui chơi,
giải trí bên cạnh đó thiết chế văn hoá và khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí cho công
ra được xu hưởng biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên. Luận văn có thể kế thừa và so
sánh kết quả nghiên cứu về nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp với
nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay.
- Công trình “Mấy nhận xét về biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà nội hiện
nay” (2001) Đinh Thị Vân Chi. Những kết quả chủ yếu của nghiên cứu này là, đã điểm
lại sự thay đổi nhu cầu giả trí của người Việt Nam nói chung và của thanh niên nói riêng
trong thời gian dài (1945-1965). Đó là, giải trí dưới hình thức tham gia các trò chơi
truyền thống từ cá nhân sang các hình thức giải trí mang tính tập thể. Sau đó do những
hoàn cảnh của lịch sử hình thức giải trí ít được thực hiện. Khi đất nước đổi mới, do
những thay đổi điều kiện kinh tế, xã hội, như xoá bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ
chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, từ năm 1990 trở lại đây, các hình thức giải
trí của người dân, cụ thể là thanh niên có những thay đổi, như từ hình thức giải trí tập
thể là chủ yếu, chuyển sang hình thức giải trí mang hình thức cá nhân; từ giải trí ở bên
ngoài là chính sang hình thức giải trí tại nhà (nghe đài, xem ti vi). Ngoài ra trong bài đã
đánh giá được sự thay đổi trong việc tham gia các hình thức giải trí của thanh niên. Các
hình thức giải trí được đưa ra xem xét là. (Giải trí cá nhân: đọc báo, nghe đài, cát xét,
xem ti vi, giao tiếp; giải trí tập thể: Hoạt động thể thao...). Những nhận xét chủ yếu
được rút ra là sự thay đổi nhu cầu giải trí của thanh niên bị ảnh hưởng bởi thời gian làm
việc, đặc điểm cơ quan thanh niên làm việc hoặc học tập. Công nhân lao động tại các
KCN đa số là những người trẻ họ là những người có nhu cầu giải trí và các hình thức
giải trí hiện nay có thể giống như mọi thanh niên khác. Vì thế chúng tôi có thể sử dụng
các hình thức giải trí đã được đề cập ở đây để nghiên cứu nhu cầu giải trí của người
công nhân lao động.
- Đại học Công đoàn (2003)“ Tìm hiểu nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên” do
Thạc sỹ Hoàng Thị Nga chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã phân tích được thực trạng nhu cầu
sử dụng Internet của sinh viên; đánh giá được những yếu tố tác động đến nhu cầu sử
dụng internet như học tập, tư tưởng đạo đức, lối sống... Nhưng nhóm tác giả chỉ dừng
lại ở dịch vụ giải trí Internet, tức là mới chỉ đánh giá được một khía cạnh của nhu cầu
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng đời sống, việc làm lao động nữ doanh nghiệp ngoài
quốc doanh và các giải pháp của Công đoàn” do TS. Dương Văn Sao chủ nhiệm đề tài,
nhóm tác giả đã đưa ra bức tranh tổng thể và khái quát tình hình phát triển các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, đặc điểm lao động nữ, việc làm và điều kiện làm việc của lao
động nữ; thực trạng đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nữ công nhân lao động.
Luận văn, dựa vào thực trạng đời sống, việc làm khó khăn như hiện nay có mối quan hệ
với nhu cầu giải trí không? Liệu công nhân lao động thiếu cả hai thì đó có là một trong
những nguyên nhân gây đến đình công ở các KCN hiện nay không?
- Viện Sử học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2008) nghiên cứu đề tài: “ Xây
dựng và phát triển văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và
hội nhập quốc tế” thuộc chương trình: Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt
Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Mã số: KX.03/06-10. PGS.TS.
Nguyễn Văn Nhật, Chủ nhiệm đề tài và cùng nhóm tác giả đã làm rõ khái niệm, nội
hàm của văn hoá và đời sống văn hoá của GCCN Việt Nam, đánh giá thực trạng đời
sống văn hoá của công nhân trong các loại hình doanh nghiệp, chỉ rõ nguyên nhân, rút
ra bài học thành công và yếu kém, đồng thời dự báo triển vọng đời sống văn hoá của
giai cấp công nhân Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, luận văn có thể so sánh một số
tiêu chí về hoạt động giải trí của công nhân lao động trong đề tài với hoạt động giải trí
của công nhân lao động khu công nghiệp.
- Viện Công nhân và Công đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2009)
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện lao động của công
nhân các khu công nghiệp ở Việt Nam” do TS. Lê Thanh Hà phó Viện trưởng Viện
Công nhân và Công đoàn làm chủ nhiệm. Đề tài chỉ đưa ra được về đời sống, thu nhập
của công nhân khu công nghiệp, chưa đề cập đến các hoạt động giải trí của công nhân,
nhưng đề tài có đề cập đến vấn đề, dự báo xu hướng phát triển khu công nghiệp và công
nhân các khu công nghiệp đến năm 2020, nên luận văn có sự kết nối dự báo về nhu cầu
giải trí của công nhân lao động trong thời gian tới.
Có thể thấy rằng tuy chưa nhiều đề tài nghiên cứu, những việc nghiên cứu nhu cầu
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN Quang Minh và Bắc Thăng Long,
Nội Bài, Hà Nội.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Công nhân lao động làm việc tại khu công nghiệp Quang Minh, khu công nghiệp
Bắc Thăng Long, Nội Bài.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn: Khu công nghiệp Quang Minh và khu công nghiệp Bắc Thăng Long, TP
Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 7/2009 - 10/2009
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
+ Giả thuyết thứ nhất: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
cao và đa dạng;
+ Giả thuyết thứ hai: Nhu cầu này đối với những đặc điểm cá nhân khác nhau sẽ
dẫn đến sự khác nhau về nhu cầu giải trí;
+ Giả thuyết thứ ba: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp sẽ
bị ảnh hưởng bới các yếu tố cá nhân và các dịch vụ giải trí tại địa bàn cư trú.
5.2. Các biến số
- Biến độc lập theo 3 cấp độ
Cấp độ cá nhân: Giới tính, tuổi, trình độ chuyên môn, tay nghề, thâm niên công
tác, thời gian rỗi...
Cấp độ nhóm: Tình trạng hôn nhân, việc làm, thu nhập, quan hệ xã hội, bạn bè,
người thân...
Cấp độ hoạt động giải trí: Xem ti vi, nghe đài, đọc sách báo; hoạt động thể dục
thể thao; giao lưu bạn bè...
- Biến trung gian: Điều kiện kinh tế - xã hội.
- Hoạt động
thể dục thể
thao;
Giao
lưu
bạn bè;
- Du lịch dã
ngoại.
điều kiện cá nhân
-
Thời gian;
Sức khoẻ;
Kinh tế;
Phong tục, tập quán;
nhu cầu giải trí:
- Xem ti vi,
nghe đài, đọc
sách, báo;
- Hoạt động
thể dục thể
thao;
Giao
lưu
bạn bè;
- Du lịch dã
hướng nghiên cứu.
6.3. Mẫu nghiên cứu
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên theo danh sách thang bảng lương của
doanh nghiệp, danh sách sổ ở khu lưu trú.
- Dung lượng mẫu:
+ Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu 16 công nhân lao động.
+ Nghiên cứu định lượng: 323 phiếu an két
7. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn
Khu công nghiệp là đối tác tác động một chiều, dẫn đến việc không chú trọng đúng
mức đến nhu cầu giải trí của công nhân lao động. Nếu việc làm ổn định, thu nhập cao,
thì kéo theo nhu cầu giải trí của công nhân lao động tăng đáng kể về nhiều mặt, nên
không coi đó là những đặc điểm vốn có, mà coi đó là đối tượng luôn luôn vận động và
biến đổi rất nhanh.
Luận văn góp phần làm rõ thêm sự thiếu thốn của hoạt động giải trí trong KCN và
nơi cư trú, đồng thời làm rõ thêm nguyên nhân tác động và yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng đáp ứng của xã hội không làm thoả mãn nhu cầu giải trí của công nhân lao động
KCN. Bên cạnh đó, đề tài làm sáng tỏ mối tương quan giữa nhu cầu giải trí với năng
suất lao động, với những hệ luỵ nơi cư trú.
Qua những đóng góp về mặt khoa học của luận văn về nhu cầu giải trí của công nhân
lao động khu công nghiệp hiện nay, rút ra ý nghĩa của đề tài như sau:
- Về mặt lý luận: áp dụng các lý thuyết của tâm lý về nhu cầu, lý thuyết xã hội học
cấu trúc chức năng về giải trí và các phương pháp xã hội học để phân tích và đánh giá
mức độ, nhận thức, sở thích và động cơ giải trí của công nhân lao động khu công
nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Qua việc tìm hiểu nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN
Quang Minh và KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài cho thấy, nhu cầu giải trí của công
nhân lao động là rất cao nhưng khả năng đáp ứng của xã hội chưa thoả đáng.
8. Kết cấu của đề tài
Cảm giác bị nhu cầu thực tiễn thô lậu cầm tù chỉ có một ý nghĩa hạn
hẹp. Đối với con người sắp chết đói thì không có hình thức người của thức
ăn, mà chỉ có sự tồn tại trừu tượng của nó với tính cách là thức ăn: Thức ăn
có thể có một hình thức thô lỗ nhất, và không không thể nói việc nuốt thức
ăn ở chỗ nào. Con người cùng khổ bị những nỗi lo lắng dầy vò hững hờ
ngay cả đối với một cảnh tượng tuyệt đẹp [28, tr.176].
Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thoả mãn một nhu cầu nào
đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái
thiếu thốn của cơ thể - trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định
hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng
sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những
cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được đối tượng đáp ứng thì
khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc
nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hoá làm
cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh.
Như vậy, các nhà khoa học cố gắng tập trung làm rõ khái niệm, đặc trưng chủ yếu
của nhu cầu của con người và xã hội. Chúng ta có thể thấy:
Dưới góc độ tâm lý cá nhân, vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách một cấu trúc
tâm lý quy định xu hướng nhân cách, khẳng định một cách hệ thống rằng “nhu cầu nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người”. Xuất phát từ quan điểm cho
rằng, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất
định đảm bảo cho sự sống và phát triển của con người. A.G. Côvaliov viết: “ Một nhu
cầu đã được con người phản ánh sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, mọi thái độ của
cá nhân; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động, xác định hướng suy nghĩ, tình
cảm và ý chí của người đó” và do đó có thể nói “trong nhu cầu có sự thống nhất giữa
khách quan và chủ quan” [12, tr.192].
Rõ ràng đối tượng thoả mãn nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không phải
tự nó bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi, mà chỉ khi nào con người thực
sự hoạt động thì nó mới được phát lộ ra. Chỉ nhờ kết quả của sự phát lộ ấy mà nhu cầu
Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi để con người có thể thực hiện
nhiều hoạt động khác nhau: Có người tranh thủ làm thêm tăng thu nhập hoặc học thêm
để nâng cao trình độ; Cũng có người dùng thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động
không hề có tác dụng gì đối với sự phát triển toàn diện cá nhân, thậm chí là vô bổ hoặc
có hại như ăn nhậu, rong chơi hoặc dính vào các tệ nạn xã hội... những hoạt động lệch
chuẩn như vậy không thuộc nội hàm khái niệm giải trí.
Giải trí không phải là nghỉ ngơi thụ động mà là những hoạt động mang tính chủ
động. Tức là giải trí hoàn toàn tự do, do cá nhân lựa chọn và tham gia một cách chủ
động, không hề bị thúc bách bởi một nghĩa vụ, bổn phận nào. Tất nhiên cùng một hoạt
động, có thể là giải trí, có thể không là giải trí, tuỳ thuộc vào thời gian và mục địch hoạt
động. Có thể thấy cùng là chơi thể dục, thể thao thì đối với cầu thủ là hoạt động nghề
nghiệp, đối với công nhân lao động là hoạt động giải trí.
Theo Đoàn Văn Chúc, “giải trí là hoạt động sản xuất và tiêu dùng các các tác
phẩm văn hoá” [7, tr.28], tác phẩm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ những
sản phẩm của các lĩnh vực thuộc nhu cầu tinh thần theo nghĩa rộng nhất. Để tạo ra sản
phẩm văn hoá trong khi giải trí là sáng tạo những sản phẩm tinh thần với nghĩa rộng
nhất, không chỉ là viết truyện làm, thơ, vẽ tranh theo sở thích, không chỉ là hoạt động
nghệ thuật không chuyên hoặc tham gia các câu lạc bộ năng khiếu, mà còn gồm cả giao
tiếp, tâm sự, tổ chức những cuộc vui chơi... [6, tr.39].
Giải trí là sản phẩm của lao động. Lao động phải đạt tới trình độ phát triển nhất
định mới tạo được thời gian rỗi cho giải trí. Ngược lại, giải trí giúp con người phát triển
toàn diện, và nhờ vậy sẽ lao động tốt hơn. Nghĩa là có lao động thì mới có giải trí, giải
trí tốt sẽ lao động tốt, lao động tốt sẽ lại giải trí tốt hơn... Lao động và giải trí nằm trong
mối tương tác chặt chẽ, chuyển hoá và hỗ trợ cho nhau, nên không có lao động thì
không có giải trí đích thực, không có giải trí thì con người như Robot và lúc đó không
cảm nhận được cuộc sống mà thôi, cũng không biết hưởng thụ những thành quả lao
động của chính mình.
Tác giả đưa ra khái niệm giải trí: “Giải trí là hoạt động của con người tạo hứng
thích, trong khuân khổ chuẩn mực của xã hội. Hoạt động giải trí trong thời gian rỗi là
hoạt động để con người bộc lộ rõ những khả năng tiềm ẩn của mình. Điều đó là có thể,
bởi giải trí là những hoạt động sở thích, giúp cá nhân bộc lộ và nâng cao khả năng mà
trong thời gian lao động không có điều kiện thể hiện [6, tr.47].
Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất hiện nhu cầu giải trí,
con người bị thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu đó. Nhu cầu giải trí thuộc các
bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự
vươn cao, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình. Nhu
cầu giải trí cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu giải trí là nhu cầu phát triển toàn diện trí não con người sau thời gian lao
động căng thẳng như những trò chơi trí tuệ nhằm rèn luyện khả năng phân tích, suy luận
và phán đoán, là điều kiện phát triển trí tuệ cho người chơi; những trò chơi vận động
nhất là các hoạt động thể dục, thể thao giúp người tham gia phát triển thể lực; những
hoạt động thưởng thức nghệ thuật như xem phim, đọc báo, nghe nhạc và những hoạt
động câu lạc bộ năng khiếu nghệ thuật như hát, ngâm thơ, múa là những hoạt động thiết
thực nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ của thể lực.
Qua phân tích trên, thì nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN thể hiện
thông qua những hoạt động giải trí mà họ thường tham gia sau giờ tan ca vào các ngày
thường và ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết. Qua thời gian, những hoạt động đó lặp
đi lặp lại, trở nên ổn định, thành thói quen. Khi đã trở thành thói quen, chúng được mô
hình hoá, khiến CNLĐ thực hiện nó một cách “tự động hoá” mỗi khi điều kiện cho
phép, Khi đó, có thể nói, các hoạt động giải trí của công nhân lao động đã trở thành thói
quen.
1.1.4. Khái niệm thời gian rỗi
Theo C. Mác, quỹ thời gian của cá nhân và xã hội được phân chia thành thời gian
lao động và thời gian tự do. Thời gian lao động là khoảng thời gian tất yếu mà mỗi cá
nhân buộc phải thực hiện công việc lao động để đảm bảo sự sinh tồn. Thời gian tự do là
khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao động, dành cho những hoạt động mà cá
khách quan nào. Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể
nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người.
Qua phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: “Thời gian rỗi là những khoảng thời
gian mà cá nhân không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế làm việc. Thời gian đó dành
cho các hoạt động tự do, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, họ tìm
đến những hoạt động giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của họ”.
Thời gian rỗi của công nhân lao động KCN là những khoảng thời gian sau giờ tan
ca không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế của doanh nghiệp. Thời gian đó dành cho
các hoạt động giải trí tự do tại nơi cư trú, giải trí theo nhóm cùng sở thích để đỡ buồn và
cô đơn.
1.1.5. Khái niệm khu công nghiệp
Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặc dù thuật ngữ
KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều loại hình, nhiều
mô hình tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau. Một số nước KCN được hiểu là các
công viên công nghiệp (Industrial Parks). Có những KCN được gọi là cụm công nghiệp
(Industrial Clusters). Những KCN hoạt động chuyên về sản xuất hàng xuất khẩu với quy
chế miễn thuế nhập khẩu được gọi là khu chế xuất (KCX) (Export Processing Zones).
Khu công nghiệp cũng có thể là khu công nghệ cao (Hight tech centres) hoặc khu công
nghệ cao là một bộ phận của KCN.
Nghị định 36- CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ nêu rõ:
KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh
giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ quyết định thành lập .
Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm
nghiên cứu- triển khai khoa học- công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên
quan, có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ