Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Giải quyết việc làm cho lao động ở Hà Tĩnh hiện nay.." - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
25

giải quyết việc làm cho lao động ở hà tĩnh hiện nay

Đinh Thế Định
(
a
)Tóm tắt. Bài viết phân tích, làm rõ những đặc trng cơ bản, chỉ ra những khó khăn,
bất cập của tình hình lao động và giải quyết việc làm ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay. Đề xuất
một số giải pháp nhằm tạo nhiều việc làm phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa
phơng, trên cơ sở sử dụng, khai thác đợc lợi thế, tiềm năng của tỉnh.

rong những năm qua, Đảng và
Nhà nớc ta đã đề ra nhiều chủ
trơng, chính sách và giải pháp
nhằm giải quyết việc làm cho ngời lao
động. Cùng với việc đổi mới về cơ chế
quản lý, Hà Tĩnh đã chuyển đổi cơ cấu
kinh tế đi đến chuyển đổi cơ cấu lao
động. Việc làm và thu nhập của đông
đảo dân c từng bớc đợc cải thiện.

- Hệ số sử dụng thời gian lao động
thấp: do lực lợng lao động quá lớn, lại
chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông
nghiệp và trong điều kiện ngành nghề
phát triển chậm, nên hệ số sử dụng thời
gian lao động ở Hà Tĩnh là rất thấp. Tuy
nhiên, mấy năm gần đây trớc sự chuyển
đổi của nền kinh tế, việc đẩy mạnh xuất
khẩu lao động và tìm kiếm việc làm ở các
khu công nghiệp trong nớc, do đó, hệ số
sử dụng thời gian lao động đã đợc nâng
lên, nhng cũng chỉ đạt dới 70% trong
năm 2005.

- Chất lợng lao động và thu nhập
thấp. Do lực lợng lao động tập trung
chủ yếu trong nông nghiệp và nông
thôn, phần lớn trong số đó làm nghề
trồng trọt, không đợc học nghề nên
thu nhập bình quân đầu ngời ở Hà
Tĩnh năm 2001
chỉ có 2.860.00
đồng/ngời/năm và đến năm 2004 đạt
.Nhận bài ngày 12/9/2006. Sửa chữa xong 26/12/2006.
T
trung tâm dạy nghề, quan tâm đào tạo
nghề cho lao động nông thôn, bớc đầu
đã gắn đào tạo nghề với giải quyết việc
làm và xuất khẩu lao động. Mời tháng
đầu năm 2005, Hà Tĩnh đã tạo việc làm
mới cho 26.926 ngời, xuất khẩu lao
động 4.405 ngời.
Những cố gắng của Đảng bộ và nhân
dân Hà Tĩnh trong việc thực hiện
chơng trình giải quyết việc làm và xuất
khẩu lao động đã đem lại những kết quả
đáng khích lệ. Hàng vạn ngời đã đợc
tạo việc làm và có thu nhập ổn định,
thoát khỏi đói nghèo. Tuy nhiên, vấn đề
giải quyết việc làm còn bộc lộ nhiều hạn
chế và vẫn đang là vấn đề bức xúc ở Hà
Tĩnh. Trên thực tế, giải quyết việc làm ở
đây chủ yếu giải quyết tình hình bức
xúc trớc mắt, cha xây dựng đợc
chiến lợc ổn định lâu dài gắn với chiến
lợc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Số lao động đi tìm kiến việc làm ở các
địa phơng, các vùng kinh tế trong nớc
phần đông mang tính tự phát, thiếu tổ
chức. Sử dụng lao động, giải quyết việc
làm cha gắn với việc khai thác các
nguồn lực ở địa phơng. Việc làm đợc
tạo ra mới chỉ đáp ứng đợc lực lợng
lao động mới bổ sung, số lao động từ
năm trớc để lại, số lao động dôi d do

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
27

xuất có vốn đầu t nớc ngoài trên địa
bàn của tỉnh còn quá ít. Thị trờng lao
động ở Hà Tĩnh cơ bản vẫn cha đợc
hình thành, cung cầu lao động vẫn cha
gặp nhau, tổ chức t vấn và giới thiệu
việc làm còn quá yếu cha về đến vùng
nông thôn và đến với ngời lao động.
Chất lợng nguồn lao động còn rất thấp,
phần lớn ở nông thôn và chỉ có cha đầy
12% lao động đợc đào tạo nghề, trong
khi các cơ sở dạy nghề tuy đã có nhiều
có gắng nhng chất lợng, khả năng thu
hút ngời học còn rất hạn chế.
Để khắc phục những khó khăn, bất
cập trong giải quyết việc làm, tạo cơ hội
cho ngời lao động, ngoài việc tiếp tục
đổi mới cơ chế, chính sách, tăng cờng
các giải pháp có tính chiến lợc trên cơ
sở thực hiện nhất quán chủ trơng:
"Tập trung sức tạo việc làm , khuyến
khích mọi thành phần kinh tế, mọi công
dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành
nghề tạo việc làm cho ngời lao động"
[4,tr.114], Hà Tĩnh phải xuất phát từ

gia Vũ Quang, Suối Tiên lợi thế cho
việc phát triển các loại hình dịch vụ du
lịch; các làng nghề truyền thống có tiếng
nh: Mộc Thái Yên; rèn, đúc Trung
Lơng để phát triển sản xuất, phục
vụ du lịch, nhằm giải quyết việc làm tại
chỗ và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động ở nông thôn.
Thứ hai: phải từng bớc ổn định
nguồn nhân lực, tạo thuận lợi cho giải
quyết việc làm. Trên phơng diện tổng
thể và dài hạn, giải quyết việc làm phải
gắn liền với chiến lợc dân số, kế hoạch
hóa và phát triển toàn diện nguồn nhân
lực. Dân số Hà Tĩnh thuộc nhóm dân số
trẻ, tỷ trọng dân số trong độ tuổi từ 15
trở xuống chiếm trên 45%. Điều này có
nghĩa là nguồn lao động ở Hà Tĩnh khá
dồi dào trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển. Do đó, Hà Tĩnh cần tiếp tục
phấn đấu giảm nhanh mức sinh để đạt
mức sinh thay thế hai con bình quân
một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Đồng
thời, xây dựng chiến lợc về dân số và
phát triển, trong đó nhấn mạnh đi sâu
vào chơng trình phát triển nguồn nhân
lực và tạo việc làm cho ngời lao động.
Chơng trình đó phải đảm bảo đợc sự
niên đợc nâng cấp thành trờng dạy
nghề công nhân kỹ thuật. Cần thiết
phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giới thiệu, tăng cờng liên kết đào tạo,
đổi mới các hình thức đào tạo nghề. Chú
trọng tập trung đào tạo các loại hình
công nhân kỹ thuật để trực tiếp phục
vụ, đáp ứng đợc quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và khai thác lợi thế của
địa phơng, mặt khác đáp ứng đợc nhu
cầu xuất khẩu lao động ra nớc ngoài và
tìm kiếm việc làm ở các khu công nghiệp
trong nớc, hạn chế đến mức thấp nhất
tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa lao
động do thiếu đào tạo hoặc đào tạo
không đáp ứng đợc nhu cầu của thị
trờng, cần sớm thực hiện phơng thức
đào tạo gắn với việc làm theo hợp đồng
hoặc đơn đặt hàng của các cơ sở sử dụng
lao động trong, ngoài tỉnh và xuất khẩu
lao động ra nớc ngoài.
Đẩy mạnh công tác hớng nghiệp,
định hớng, giới thiệu nghề, việc làm
trong các trờng, lớp ngay từ bậc trung
học cơ sở và trung học phổ thông, một
mặt khắc phục tâm lý ngại học nghề còn
phổ biến ở một địa phơng có truyền
thống "chịu học" nh Hà Tĩnh, mặt khác
khắc phục tình trạng trong khi nhiều
doanh nghiệp có nhu cầu rất lớn về lao

29

tăng số lợng và nâng cao chất lợng lao
động xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu
thị trờng lao động nớc ngoài. Một
mặt, tiếp tục tập trung xuất khẩu lao
động phổ thông cho các thị trờng Đại
Loan, Ma-lai-xi-a để giải quyết công ăn
việc làm cho ngời lao động, góp phần
giảm sức ép về việc làm hiện nay. Mặt
khác, phải nâng cao chất lợng nguồn
lao động xuất khẩu, tiến tới đủ khả
năng xuất khẩu lao động có kỹ thuật
đáp ứng đợc yêu cầu của các thị
trờng. Để thực hiện đợc yêu cầu đó,
giải pháp cơ bản nhất hiện nay là phải
đổi mới công tác tuyển chọn lao động
bằng phơng thức gắn kết trách nhiệm
của chính quyền địa phơng cấp xã,
phờng và các cơ sở, doanh nghiệp xuất
khẩu lao động. Doanh nghiệp, cơ sở xuất
khẩu lao động phải công khai minh
bạch với chính quyền địa phơng và
ngời lao động về các điều kiện của hợp
đồng lao động, về thị trờng nơi ngời
lao động sẽ đến làm việc, đặc biệt là các
khoản đóng góp của ngời lao động, qua

tổ chức tốt mạng lới thông tin, giới
thiệu, hớng dẫn việc làm, đào tạo
nghề, thị trờng lao động đến tận từng
xã, phờng, trờng học, từng gia đình
để vừa giúp ngời lao động có định
hớng lựa chọn trong đào tạo nghề,
trong tìm kiếm việc làm phù hợp với
khả năng, nguyện vọng, vừa góp phần
làm giảm nguồn lao động tự phát đi tìm
kiếm việc làm ở các thành phố, các khu
công nghiệp, các tỉnh khác nh hiện
nay.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
30

Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status