Họ tên: Đỗ Hoàng Thanh Vân
Lớp: QTDN B- K10
MSSV: HD.1031264
Đề cương báo cáo chuyên đề thực tập
Tên đề tài:
Giải pháp đào tạo lực lượng thuyền viên đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty
cổ phần hàng hải Đông Đô (Đông Đô Marine)
Mở đầu: Giới thiệu đề tài
Tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines là một trong 25 doanh nghiệp lớn nhất
Việt Nam trong bảng xếp hạng VNR500 do Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá
Việt Nam ( Vietnam Report) công bố vào ngày 15-1-2010. Để đạt được thành tích
như trên, Tổng công ty cùng với các công ty con đã có những bước đi đúng đắn
trong công tác đầu tư và phát triển ngành nghề sản xuất kinh doanh, phát triển đội
tàu và đặc biệt là chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực.
Với yêu cầu và tốc độ phát triển sản xuất từ năm 2010 trở đi, Tổng công ty hàng
hải Việt Nam sẽ cần một lượng rất lớn lực lượng lao động bổ sung mà đặc biệt là
đội ngũ thuyền viên. Trong khi đó năng lực hiện tại của các đơn vị đào tạo thuộc
Tổng công ty trong đó có Công ty cổ phần hàng hải Đông Đô chưa thể đáp ứng
được nhu cầu nhân lực của Tổng công ty và toàn ngành hàng hải. Bên cạnh đó là
chất lượng thuyền viên được đào tạo tại các đơn vị không đồng đều, một số lượng
không nhỏ thuyền viên sau khi ra trường phải mất thời gian làm quen công việc,
nắm bắt công nghệ mới, đào tạo lại…
Vấn đề đặt ra cho công tác đào tạo của Tổng công ty nói chung và Công ty cổ phần
hàng hải Đông Đô nói riêng là: “ Làm thế nào để đáp ứng đủ lực lượng thuyền viên
cho Tổng công ty cả về số lượng và chất lượng?”
Căn cứ vào công tác đào tạo nguồn nhân lực, căn cứ vào nhu cầu nhân lực mà cụ
thể là nhu cầu thuyền viên của Tổng công ty, căn cứ vào xu hướng chọn ngành
nghề, trình độ đào tạo của xã hội hiện nay mà tôi đã lựa chọn đề tài báo cáo thực
tập là:
“Giải pháp đào tạo lực lượng thuyền viên đáp ứng nhu cầu phát triển của
công ty cổ phần hàng hải Đông Đô (Đông Đô Marine)”
1.1. Vinalines và quá trình hình thành công ty cổ phần hàng hải Đông Đô
- Ngày 29/4/1995, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tên viết tắt là
Vinalines được thành lập theo Quyết định số 250/TTg của Thủ
tướng Chính phủ, trên cơ sở sắp xếp lại một số doanh nghiệp vận
tải biển, bốc xếp và dịch vụ hàng hải do Cục Hàng hải Việt Nam
và Bộ Giao thông vận tải quản lý. Hoạt động theo điều lệ về tổ
chức và hoạt động của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam do Chính
phủ phê chuẩn tại Nghị định số 79/CP ngày 22/11/1995.
- Tại thời điểm thành lập, Tổng công Hàng hải Việt Nam gồm có 22
Doanh nghiệp nhà nước, 2 Công ty cổ phần và 9 Công ty Liên
doanh với nước ngoài. Vốn kinh doanh là 1.469 tỷ VND. Sở hữu
đội tàu gồm 49 chiếc, tổng trọng tải 369.696 DWT. Sản lượng vận
tải đạt 4 triệu tấn, bốc xếp đạt 12,3 triệu tấn.
- Các hoạt động chính của Tổng công ty Hàng hải:
• Vận tải biển, khai thác cảng, đại lý vận tải, môi giới, giao
nhận , kinh doanh vận tải đa phương thức, sửa chữa tàu
biển, cung cấp dịch vụ hàng hải và các hoạt động khác liên
quan
• Xuất khẩu, nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị chuyên
ngành
• Cung cấp thuyền viên
• Tham gia liên doanh, hợp tác kinh tế với các đối tác trong
và ngoài nước theo đúng quy định của pháp luật.
- Công ty cổ phần Hàng Hải Đông Đô tiền thân là Xí nghiệp liên
hiệp Vận tải biển pha sông (VISERITRANS), được thành lập năm
1993. Ngày 29/4/1995, VISERITRANS chính thức trở thành
doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Hàng
hải Việt Nam (VINALINES). Từ tháng 10/20034, công ty được
đổi tên thành Công ty Hàng Hải Đông Đô. Sau khi thực hiện xong
việc cổ phần hóa theo Quyết định số 2315/QĐ-BGTVT ngày
cập nhật kiến thức, kỹ năng cho thuyền viên
- Quản lý vận hành, sửa chữa hạ tầng nhà ở và văn phòng
- Dịch vụ dọn vệ sinh, trang trí phong cảnh, trông giữ xe đạp, xe
máy, xe ô tô
- Huấn luyện đào tạo và đưa người lao động đi làm việc tại nước
ngoài
- Kinh doanh mua bán tàu biển và các trang thiết bị kỹ thuật, phụ
tùng vật tư hàng hải
1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần hàng hải Đông Đô
Công ty có cơ cấu tổ chức như sau:
- Chủ tịch hội đồng quản trị
- Trưởng ban kiểm soát
- Tổng giám đốc
- 2 phó tổng giám đốc
- Kế toán trưởng
- Văn phòng công ty: bao gồm
• Phòng tổng hợp
• Phòng khai thác tàu biển
• Phòng kỹ thuật vật tư
• Phòng quan hệ quốc tế- pháp chế và hàng hải
• Phòng kế hoạch và phát triển dự án
• Phòng tài chính kế toán
• Ban quản lý dự án xưởng sửa chữa tàu biển Đông Đô
- Các đơn vị trực thuộc:
Trung tâm thuyền viên (trực thuộc văn phòng công ty) tại Hải
Phòng
• Chi nhánh Hải Phòng
• Chi nhánh Nha Trang, Khánh Hòa
• Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
2. Vị thế của công ty:
Đông Phong – 7.088 DWT tại Quyết định sô 92/QĐ – HĐQT ngày
17/09/2010, Tổng giám đốc điều hành đã chỉ đạo Hội đồng Mua bán
và thanh lý tài sản Công ty làm các thủ tục bán tàu này theo phương
thức “ Chào giá cạnh tranh trong nước và quốc tế” với giá sàn là
4.000.000 USD.
Để chào bán trong nước, ngày 20/09/2010, Công ty đã gửi công văn
tới các đơn vị vận tải biển trong cùng Tổng công ty HHVN và các đơn
vị có quan tâm khác. Tuy nhiên, đến ngày tham dự chào giá theo Quy
chế thì không có đơn vị nào tham gia. Ngày 22/09/2010, Công ty chào
bán tàu này ra thị trường quốc tế qua các công ty môi giới như
Sunscot, Island Shipbrokers, Quayside Shipbroking, Pioneer
Shipbroker… Mặc dù có 8 công ty đăng kí tham gia giám định tàu
nhưng sau khi Công ty chính thức thông báo giá khởi điểm của tàu là
4 triệu USD thì đến ngày 20/10/2010 Công ty chỉ nhận được chào giá
mua 2 tàu của công ty Trung Quốc với cùng mức giá giá chào là 3,5
triệu USD. Vì vậy, việc chào bán tàu Đông Phong đã không thể hoàn
tất như mong muốn.
Sau khi báo cáo HĐQT, Tổng giám đốc điều hành sẽ tiếp tục triển
khai việc bán tàu này trong năm 2011.
3.3. Dự án ĐT- XD- KT Nhà máy SCTB Đông Đô tại Hải Phòng
- Về việc bàn giao gói tín dụng của Dự án:
Sauk hi đạt được thỏa thuận với Ngân hàng NN & PTNN Việt
Nam về việc chuyển giao gói tín dụng của Dự án cho Công ty
VDS, ngày 2/8/2010 Ngân hàng NN & PTNT đã chính thức kí hợp
đồng với VDS cung cấp gói tín dụng cho dự án.
- Về việc bàn giao quyền quản lý sử dụng và giá trị các gói thầu:
Công ty cổ phần Hàng Hải Đông Đô đã bàn giao quyền quản lý, sử
dụng và đánh giá trị hạng mục hoàn thành cho Công ty VDS đối
với các gói thầu: số 01 – “ Nạo vét khu neo ụ nổi 8.850 DWT và
khu quay trở tàu” ; số 06 – “ Rùa neo ụ nổi” ; số 04 – “ Đường
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở trên khu đất
này cho Công ty. Theo đó thuế đất hàng năm mà Công ty sẽ phải nộp
choc ho UBND tỉnh Khánh Hòa là 17,4 triệu đồng/ năm. Trong năm
2011, Tổng giám đốc điều hành sẽ báo cáo và đề xuất HĐQT hướng
xử lý cụ thể cho khu đất nói trên.
3.8. Về việc bán tài sản trên khu đất tại khu đất 9.755m2 thuộc quận Hải
An, TP. Hải Phòng và khu đất 204,3m2 tại số 46B ngõ 230 Lạc
Trung, Hà Nội:
Được sự chấp thuận của HĐQT Công ty, Tổng giám đốc điều hành đã
chỉ đạo Hội đồng mua bán và thanh lý tài sản Công ty hoàn thiện các
thủ tục chào giá bán các tài sản kém sinh lời tại 2 khu đất này, thu hồi
phần vốn để đầu tư vào các dự án khác hiệu quả hơn. Đến nay, cả 2 tài
sản trên 2 khu đất đã được bán xong. Theo đó:
- Tài sản trên khu đất Lạc Trung: 1.570.800.000 đồng ( đã gồm 10%
thuế GTGT)
- Tài sản trên khu đất Hải An: 14.600.000.000 đồng ( chưa bao gồm
thuế GTGT)
3.9. Dự án Nhà chung cư cao tần Lạc Trung:
Trên cơ sở ý kiến của HĐQT về việc quyết toán Hợp đồng hợp tác
kinh doanh Nhà chung cư cao tầng Lạc Trung và Hợp đồng mua bán
sàn tầng 2 + tầng lửng thuộc Dự án, Tổng giám đốc điều hành đã ký
quyết toán thanh lý 2 hợp đồng này. Theo đó, phần lợi nhuận nà Công
ty được hưởng từ Dự án là 4.590.475.340 VNĐ. Tổng giá trị Hợp
đồng mua bán sàn tầng 2 + tầng lửng ( đã bao gồm thuế GTGT) là
12.397.087.037 VNĐ. Sau khi đối trừ phần lợi nhuận được hưởng từ
Dự án, số tiền Công ty còn phải trả cho Công ty cổ phần Đầu tư Xây
dựng Hà Nội là 2.580.225.788 VNĐ. Đến nay, Công ty đã trả cho Chủ
đầu tư được 2 tỷ đồng, số còn lại sẽ được thanh toán trong thời gian
tới để sớm hoàn tất thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu
+ Lợi nhuận: - 1.770.000.000 đồng
- Công ty TNHH Sửa chữa tàu biển Vinalines- Đông Đô ( VDS)
Cũng là doanh nghiệp mới được thành lập khi tình hình kinh tế thế
giới và trong nước ở giai đoạn khủng hoảng, việc hỗ trợ cho hoạt động
SXKD của VDS từ các thành viên sáng lập là rất hạn chế do bản thân
các thành viên sáng lập này cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Hơn
nữa, việc thành viên Vinalines vẫn chưa góp đủ số vốn như đã cam
kết, cộng với việc một số chủ tàu chưa trả đủ cho VDS số tiền sửa
chữa tàu hoặc đã đưa vào Nhà máy nhưng chưa có tiền sửa chữa… đã
làm cho tình hình SXKD năm 2010 của công ty ngày càng khó khăn
hơn.
Trong năm 2010, VDS đã sửa chữa 12 tàu với tổng doanh thu dưk
kiến 16,8 tỷ đồng, lợi nhuận dự kiến năm 2010 của Công ty là -7,2 tỷ
đồng.
4. Thực trạng đào tạo lực lượng thuyền viên của công ty
4.1. Đặc điểm nguồn nhân lực của công ty
Tính đến 30/11/2010, Trung tâm thuyền viên hiện đang quản lý 386
thuyền viên (tv) như sau:
- Thuyền viên đang đi trên các tàu của công ty 8 tàu : 170 tv
Trong đó thuê ngoài : 20 tv
- Thuyền viên đang đi trên khối tàu ngoài 2 tàu : 50 tv
Trong đó thuê ngoài : 21 tv
- Thuyền viên dự trữ, trong đó:
• Thuyền viên dự trữ luân phiên : 83 tv
• Thuyền viên đi học và đào tạo lại : 16 tv
Tổng số : 319 tv
• Thuyền viên dôi dư chờ giải quyết chế độ, chờ hưu, do sức
khỏe, gia đình, bằng cấp không phù hợp, trình độ yếu, ý thức
kém, không tâm huyết… : 67 tv
Phân loại thuyền viên theo trình độ:
- Trong nước: 210 đi, về = 47.113.000 VNĐ
• Cập nhật, gia hạn và làm mới 105 chứng chỉ, bằng cấp các loại;
33 hộ chiếu thuyền viên; 50 hộ chiếu phổ thông và 73 bằng
Panama cho Sỹ quan thuyền viên
• Làm Crew Maritime Visa Úc cho 2 thuyền bộ tàu Minh An và
Đông Thanh
4.2.2. Công tác tuyển dụng:
Do tình hình SXKD nên năm 2010 trung tâm thuyền viên không tổ
chức tuyển dụng
4.2.3. Công tác đào tạo:
Đào tạo trên bờ:
- Các lớp học Sỹ quan quản lý, Sỹ quan vận hành chuyên ngành
boong, máy: 17 thuyền viên tại trường ĐHHH và CĐHH trong
năm 2010.
- Lớp cập nhật huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ cho sỹ quan,
thuyền viên boong, máy: 62 thuyền viên do Trung tâm QL-ĐT &
HLLĐ Hàng hải Đông Đô giảng dạy từ tháng 5 đến tháng 8 năm
2010.
- Khóa huấn luyện về “ Hải đồ điện tử” : 2 người tại trường ĐHHH
trong tháng 1 năm 2010.
- Lớp VSUP- Short Course 2 người dự án nâng cao chất lượng
thuyền viên VSUP- Hải Phòng trong tháng 3 và tháng 4 năm 2010.
Công tác đào tạo trên tàu:
Trong năm 2010, các tàu thuộc Công ty đã thực hiện đào tạo, cập
nhật và gửi đều đăn các Bản nhận xét, Báo cáo đánh giá, Báo cáo
hướng dẫn, Báo cáo huấn luyện thuyền viên và một số báo cáo
khác… Tuy nhiên vẫn còn một số tàu chưa thực hiện được đầy đủ
việc lập và gửi các báo cáo, nhận xét về Trung tâm:
- Báo cáo phân tích nhu cầu đào tạo (DMC-SOPM-04-01-GE-01):
tàu Đông Ba, Đông Phong, Đông Phú, Đông Bình, Đông An và
Ghi chú
1 Các lớp học
SQQL, SQVH
chuyên ngành
boong, máy
17
người
Thuyền
viên
1-
12/201
0
Trường
ĐHHH
Danh
sách
kèm
theo
63.500.000
đ
T.toán
LCB &
Học phí
của 4
SQQL, 3
SQVH
2 Lớp cập nhật
huấn luyện
chuyên môn,
nghiệp vụ cho
Thuyền
viên
1/2010 Trường
ĐHHH
Danh
sách
3.000.000
đ
Công ty
t.toán
tử” kèm
theo
cho TV
4 Lớp VSUP-
Short Course
2
người
Thuyền
viên
3-
4/2010
DA
nâng
cao
CLTV
VSUP-
HP
Danh
sách
kèm
Để làm rõ những hạn chế còn tồn tại trong nội bộ Công ty, đặc biệt
là những yếu điểm về vấn đền nguồn nhân lực, tác giả chuyên đề
xin được liệt kê những tai nạn sự cố hàng hải, đội tàu trong năm
2010 có liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của các thuyền viên.
- Vào 1300LT, ngày 21/3/2010, tàu Đông Phong bị cạn tại khu neo
cảng Ishikari- Japan. Công ty đã phối hợp với bên bảo hiểm cũng
như các bên liên quan khác để thuê đơn vị cứu hộ NIPPON
SALVAGE TOKYO JAPAN kéo tàu ra cạn. Đến 16/4/2010 lúc
0800LT tàu mới thoát cạn thành công. Tai nạn này được xác định
nguyên nhân là do thuyền trưởng chủ quan, thiếu kinh nghiệm khi
đánh giá tình hình thời tiết của đợt áp thấp này. Thuyền trưởng
không quan tâm đúng mức đến cảnh báo của các bên liên quan để
di chuyển tàu đến vị trí neo an toàn. Hành động của thuyền trưởng
đưa ra chưa đủ và hợp lý để phòng tránh trôi neo. Các sỹ quan
hàng hải không có tư vấn cho thuyền trưởng kể cả Đại phó là
người kề cần, trợ lý. Việc quản lý và giám sát trực ca neo theo các
quy trình trong hệ thống QLAT của Công ty chưa đầy đủ và chưa
thực sự mẫn cán.
Tai nạn này đã làm phát sinh khoản chi phí 2.265.000USD ( chưa
tính hư hỏng thiết bị trạm đo dữ liệu song biển), làm công ty thiệt
hại 7,26 tỷ đồng ( bao gồm tiền off- hire, chi phí nhiên liệu, chi phí
cầu bến, chuyển nhiên liệu lên bờ, đại lý phí… Số tiền này bảo
hiểm không chi trả).
- Ngày 16/5/2010, thủy thủ Trịnh Văn Linh tàu Đông Thọ bị tai nạn
tại Yamada ( Japan) do bất cẩn trong khi cẩu hạ giá đỡ cần cẩu
No3, giá đỡ đầu cần đã va vào thủy thủ Nguyễn Văn Linh làm thủy
thủ này ngã ngồi xuống mặt boong. Ban chỉ huy đã lập tức sơ cứu,
bó nẹp vết thương cho người bị nạn. Sau đó báo về Công ty Cổ
phần Hàng hải Đông Đô và liên hệ với đại lý tại Yamada để đưa
thủy thủ Linh lên bệnh viện khám và điều trị. Người bị nạn mất
gió dẫn tới áp suất gió tăng cao gây nổ thùng phuy. Do thuyền viên
không tuân thủ quy trình nhận và chuyền nhiên liệu trong
HTQLAT của công ty.
- Ngày 26/9/2010, thợ điện Trịnh Xuân Hùng tàu Đông Mai bị tai
nạn khi bảo dưỡng Container lạnh tại cảng Moresby. Tàu đã sơ
cứu cho người bị nạn, báo về công ty để cùng đại lý hỗ trợ tàu đưa
người bị nạn đi bệnh viện kiểm tra, chữa trị. Chi phí của tai nạn
này là 3.223,88 USD. Nguyên nhân chính vẫn là do thuyền viên
chưa coi trọng an toàn, do sơ xuất, thuyền viên làm tuột tăng đơ
giữ thanh chằng Container.
- Ngày 21/7/2010, PSC Cảng Thượng Hải ( Trung Quốc) đã kiểm
tra tàu Đông Du phát hiện máy xuồng cấp cứu không hoạt động và
tàu bị bắt lỗi 30. Công ty đã phối hợp với chính quyền hành chính,
đại lý để giải phóng tàu, mua máy xuồng mới thay thế cho tàu. Tổn
thất tổng cộng là 43.193,22 USD và 395.200.000 VNĐ. Nguyên
nhân là do máy xuồng cũ, tay điều khiển hộp số bị kẹt, đơn vị bảo
dưỡng xuồng- TMS ( Trường ĐHHH) tại đà Phà Rừng có thử
nhưng chưa phát hiện những ẩn tỳ của xuồng.
Qua những tai nạn, sự cố liệt kê ở trên, ta có thể thấy nguyên nhân
chính nhất dẫn đến những sự cố đáng tiếc này vẫn là ý thức, thái
độ làm việc của thuyền viên và trình độ chuyên môn của họ vẫn
còn nhiều hạn chế. Tuy chỉ là một vài cá nhân nhưng ảnh hưởng
xấu lại rất lớn, gây tổn thất cho cả tập thể về nhiều mặt như thời
gian, tiền bạc, công sức… Bên cạnh đó một số thuyền viên không
tâm huyết với nghề, ý thức kỷ luật kém, gây mất đoàn kết nội bộ,
Trung tâm thuyền viên đang rà soát để thanh lọc và cho chấm dứt
hợp đồng lao động.Đội ngũ thủy thủ, thợ máy cũ có tay nghề cao,
chuyên môn và tâm lý vững vàng nhưng do sức khỏe đã yếu,
không thể đảm bảo công tác dài ngày trên biển. Số lượng này hiện
tại đang thiếu khá nhiều và số thủy thủ, thợ máy có trình độ đại
đi thuê từ các đơn vị khác để cung cấp thuyền viên cho đội tàu công ty
và các tàu cho các đơn vị khác thuê (gồm 10 tàu). Số lượng sỹ quan
quản lý, sỹ quan vận hành thiếu hụt được liệt kê trong bảng sau:
TT Chức danh Số TV cần
thiết
Số TV hiện
có
Số TV thiếu
hụt
Tỉ lệ %
1 Thuyền trưởng hạng 1 14 8 6 42.86
2 Thuyền phó 1 hạng 1 14 8 6 42,86
3 Máy trưởng hạng 1 14 9 5 35,71
4 Máy 2 hạng 2 14 11 3 21,43
5 SQVH boong 28 28
6 SQVH máy 28 33
Tổng cộng 112 97 20
1.2. Công tác điều động:
- Căn cứ theo kế hoạch phát triển đội tàu Công ty, dự kiến lượng
thuyền viên chất lượng cao thuê ngoài năm 2011 là 20 người
- Chi phí thay đổi thuyền viên: trung tâm cố gắng giảm thiểu ở mức
tối đa việc thay thuyền viên ở nước ngoài. Tuy nhiên còn phụ
thuộc vào hình thức khai thác tàu của Công ty (mở rộng tuyến hoạt
động chạy world wide)
+ Thay thuyền viên ở nước ngoài: 144 lượt
+ Còn lại sẽ thay thế trong nước
1.3. Công tác đào tạo:
- Lớp cập nhật huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ cho sỹ quan,
thuyền viên boong, máy (bao gồm cả khối thuyền viên dự trữ và
tuyển mới): 120 thuyền viên
cao CLTV
33.000.000 đ
3 Các lớp học SQQL, SQVH
trong năm 2011
25 người TV Trường
ĐHHH,
CĐHH
95.000.000 đ
4 Các lớp học SQ an ninh
(SSO)
10 người TV ĐK Việt
Nam
7.000.000 đ
5 Quản lý nguồn nhân lực
buồng lái
20 người TV TTHLTV
Vosco
10.000.000 đ
6 Quản lý nguồn nhân lực
buồng máy
20 người TV TTHLTV
Vosco
10.000.000 đ
7 Hải đồ điện tử 20 người TV TTHLTV
Vosco
30.000.000 đ
8 Các đào tạo khác (In ấn
cập nhật tài liệu HH)
50.000.000 đ
9 Lương TV đi học theo quy
2.3. Đánh giá mức độ hài lòng và gắn kết của nhân viên, phát triển hệ
thống truyền thông nội bộ:
Tinh thần, thái độ của nhân viên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
công việc. Môi trường làm việc tốt sẽ tạo cảm giác thoải mái cho nhân
viên. Việc nhân viên có hài lòng với công việc, với môi trường làm
việc, với con người, với chế độ, với tổ chức hay không, sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức và nhiệm vụ. Các
công cụ đánh giá khách quan như bảng hỏi, test, phỏng vấn trực tiếp
sẽ cung cấp những thông tin tin cậy cho vấn đề này. Từ đó doanh
nghiệp có được cái nhìn đúng đắn về nhân viên, về mức độ hài lòng
và cam kết của họ để đưa ra những giải pháp phù hợp đáp ứng nhu
cầu của nhân viên, tạo sự hài lòng và gắn kết lâu dài của nhân viên với
tổ chức. Bằng các giải pháp tức thời và phù hợp, doanh nghiệp sẽ giữ
chân được nhân viên của mình, đồng thời, họ sẽ hết lòng cống hiến
công sức và tâm huyết cho tổ chức, giúp tổ chức thực hiện thành công
các mục tiêu đã đề ra.
Hệ thống truyền thông nội bộ giúp các thành viên trong tổ chức trao
đổi mọi thông tin, chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng, từ đó mọi
người sẽ hiểu và gắn kết gần gũi với nhau hơn cả trong công việc.
Hơn nữa, hệ thống truyền thông nội bộ nhằm mục tiêu giúp nhân viên
chia sẻ hệ thống tôn chỉ, tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, những
chuẩn mực văn hóa & hành vi ứng xử phù hợp với hình ảnh thương
hiệu; mọi người hiểu rõ các chính sách & thủ tục làm việc; mọi người
hợp tác vì mục đích chung và hỗ trợ nhau làm việc hiệu quả.
Như vậy, hệ thống truyền thông nội bộ hiệu quả không chỉ nhắm đến
việc thông báo hay truyền đạt những thông điệp từ các nhà lãnh đạo,
mà còn nhắm đến mục tiêu cao hơn là kết nối chiến lược kinh doanh
với vai trò & hiệu quả của từng nhân viên. Doanh nghiệp truyền thông
nội bộ tốt sẽ tạo sự khác biệt, gia tăng năng suất và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực, và tạo được sự hài lòng của đội ngũ nhân viên.
trong công việc, làm việc hết lòng vì tổ chức.
2.6. Hoàn thiện việc xây dựng chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực:
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt, yêu cầu của
công việc đòi hỏi trình độ ngày càng cao của đội ngũ cán bộ công
nhân viên, điều đó đặt ra bài toán nâng cao trình độ cho đội ngũ cán
bộ nhân viên ngày càng cấp thiết. Bên cạnh đó là việc xây dựng
chương trình đào tạo và phát triển năng lực sao cho phù hợp, đảm bảo
đội ngũ nhân viên được trang bị những kỹ năng và kiến thức phù hợp
với những yêu cầu nhiệm vụ của doanh nghiệp là điều các doanh
nghiệp luôn quan tâm hàng đầu. Việc khảo sát, đánh giá nhu cầu đào
tạo để xây dựng chương trình đào tạo hiệu quả rất cần thiết và quan
trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Thông qua các chương trình đào tạo,
doanh nghiệp nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên, tạo
điều kiện cho nhân viên phát triển, gắn bó hơn với tổ chức và tạo động
lực cho nhân viên cống hiến hết mình cho tổ chức. Hơn nữa, các giải
pháp và chính sách phát triển quản lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không
rơi vào tình trạng khủng hoảng thiếu hụt nhân sự khi doanh nghiệp
tăng trưởng và phát triển
Trong công ty, công tác kế hoạch hóa chương trình đào tạo là tương
đối tốt nhưng vẫn cần phải tập trung hơn nữa vào một số công việc
sau:
2.6.1. Hoàn thiện việc xác định nhu cầu đào tạo:
Việc xác định nhu cầu đào tạo cũng chính là việc đi trả lời các câu
hỏi:
- Khi nào cần bổ sung/ tuyển dụng lao động?
- Ở đâu?
- Bao nhiêu người?
- Loại lao động nào?
- Trình độ nào?