Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sự biến động đất nông nghiệp huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Phan Đức Tuấn

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ
HÓA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐÔNG
ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 608502
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải

Hà Nội


Lời cảm ơn
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình từ rất nhiều đơn
vị và cá nhân trong và ngoài trường. Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới
những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó. Đầu tiên, tôi xin
cảm ơn thầy giáo PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải là người trực tiếp hướng dẫn và
giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô
trong Bộ môn Khoa học đất- Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên- ĐHQGHN.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng
Kinh tế, Phòng Thống kê huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân


3.4 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến chất lượng đất nông
nghiệp khu vực nghiên cứu...................................................................................53
3.5 Nguyên nhân làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa...........................................................................................61
3.6 Đề xuất các biện pháp trong quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ đất nông
nghiệp..................................................................................................................... 63
3.6.2 Giải pháp giáo dục môi trường.........................................................................65
3.6.3 Giải pháp quan trắc môi trường........................................................................66
3.6.4 Giải pháp công nghệ xử lý chất thải.................................................................66
3.6.5 Giải pháp về khoa học công nghệ....................................................................67
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................................69
PHỤ LỤC.......................................................................................................................... 72



DANH MỤC BẢNG

Nội dung

tr.

Bảng 1.1 Danh sách các KCN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tính đến tháng 10 năm 2009 ở các tỉnh trong vùng KTTĐPB

18

Bảng 1.2. Dân số và tỷ lệ đô thị hóa các tỉnh vùng KTTĐPB



Bảng 3.5. Danh sách các công ty trong khu công nghiệp, chế xuất huyện

43

Đông Anh
Bảng 3.6. Dân số và tỷ lệ đô thị hóa huyện Đông Anh

45

Bảng 3.7. Biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005

47

Bảng 3.8. Biến động đất lâm nghiệp giai đoạn 2000- 2005

48

Bảng 3.9. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đông Anh năm 2006

49

Bảng 3.10. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm từ năm 2008- 2011

51

Bảng 3.11. Biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2006- 2011

53


9

Hình 3.1. Giá trị trung bình của As trong nước khu vực nghiên cứu

57

Hình 3.2. Giá trị trung bình của Hg trong nước khu vực nghiên cứu

57

Hình 3.3. Giá trị trung bình của Cd trong nước khu vực nghiên cứu

58

Hình 3.4. Giá trị trung bình của Pb trong nước khu vực nghiên cứu

59

Hình 3.5. Giá trị trung bình của Pb trong đất khu vực nghiên cứu

60

Hình 3.6. Giá trị trung bình của Cd trong đất khu vực nghiên cứu

61

Hình 3.7. Giá trị trung bình của Hg trong đất khu vực nghiên cứu

61


GDP

Tổng sản phẩm nội địa

KC

Kim Chung

KCN

Khu công nghiệp

KN

Kim Nỗ

KTTĐPB

Kinh tế trọng điểm phía Bắc

KTXH

Kinh tế xã hội

NH

Nam Hồng

QCVN


ha (chiếm 54,7% diện tích tự nhiên), trong đó đất sản xuất nông nghiệp trên 160
nghìn ha. Diện tích đất này được quy hoạch đến năm 2020 nhằm:
Phát triển nông nghiệp sinh thái, ven đô hình thành các vùng sản xuất hàng
hóa quanh các đô thị, các vành đai rau an toàn, hoa, cây ăn quả sạch, phát triển rừng
và cây xanh phục vụ cho các đô thị, khu công nghiệp, đảm bảo môi trường sinh thái
của Thủ đô.
Từng bước ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, trước mặt tập
trung vào khâu chọn giống, công nghệ canh tác tiên tiến và các sản phẩm mũi nhọn,
xây dựng các trung tâm công nghệ cao.
Sản xuất nông nghiệp Hà Nội sẽ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm có thế
mạnh của Thủ đô.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Thành phố Hà Nội, bên cạnh những
mặt tích cực là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội nhanh để cải thiện chất lượng
cuộc sống của con người, tất yếu sẽ phát sinh hàng loạt các vấn đề quan tâm: sự gia
tăng mật độ dân số và phương tiện giao thông, đất đai bị suy giảm về số lượng và
chất lượng, tài nguyên thiên nhiên được khai thác triệt để hơn, các chất thải ngày
càng gia tăng về chủng loại lẫn số lượng, ô nhiễm môi trường từ đó cũng tăng nếu
không có các biện pháp phòng ngừa, quản lý và xử lý tốt các chất thải.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến công
nghiệp hóa, đô thị hóa phục vụ cho phát triển bền vững của vùng. Tuy nhiên, các
nghiên cứu này hầu hết tập trung vào 12 vấn đề bảo vệ môi trường nói chung cho
các khu công nghiệp, đô thị. Các nghiên cứu ảnh hưởng đến diện tích đất chỉ mang
tính thông kê, ảnh hưởng đến chất lượng thì hầu như chưa có, ảnh hưởng đến môi
trường đất chỉ mang tính chất cục bộ ở xung quanh một số khu công nghiệp cũ, làng
nghề và một số vùng thâm canh cao. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao đã

1


được xây dựng đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng vốn đầu tư lớn, khó áp dụng

Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế- xã hội liên quan đến các dịch chuyển về
mặt kinh tế- xã hội, văn hóa, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề
nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới; thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô
thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sồng xã hội và văn hóa, nâng cao
mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội…
Nông nghiệp hóa đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực
phẩm, chất đốt (thể hiện tính cơ giới cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm
xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô. Theo cách hiểu truyền thống thì
“nông nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong
quá trình đô thị hóa. Người ta còn hay gọi với tên gọi khác là nông nghiệp tiền ven
đô thị hay nông nghiệp ven đô [9].
1.2 Nghiên cứu ngoài nước

1.2.1 Nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa phát triển công nghiệp và đô
thị đến phát triển nông nghiệp và nông thôn
Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm về vấn đề này. Trong đó, có thể
kể tới 3 quan điểm tiếp cận là:
Quan điểm về tích lũy nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị cho công nghiệp
hóa. Theo quan điểm này, B.Johnson, J.Mellor cho rằng phát triển một nền nông
nghiệp vững mạnh và năng động là tiền đề thúc đẩy công nghiệp hóa và tăng trưởng
kinh tế. Quan điểm này thực chất nhấn mạnh vào việc khai thác càng nhiều càng
càng tốt các nguồn lực của nông nghiệp và nông thôn để phục vụ cho công nghiệp

3


hóa- đô thị hóa, coi nông nghiệp là nguồn tích lũy để phát triển công nghiệp.
Lý thuyết phát triển công nghiệp hóa tập trung mà đại diện là Geoffrey,
Hainsworth, Richard Bergeron… coi việc phát triển kinh tế trên cơ sở thúc đẩy

thực. Để tăng sản lượng, nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón
hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm.
Trung Quốc: trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách, mở
cửa, tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng. Diện tích đất canh
tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất hàng năm trên 1
triệu ha, trong khi dân số Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng. Để giải quyết vấn đề này
chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi
chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo
giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông
nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh
tế cao phục vụ cho cư dân đô thị và xuất khẩu.
Nhật Bản: quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Nhật Bản diễn ra trong
thời gian trước khi trở thành một cường quốc về công nghiệp. Tài nguyên đất đai
của Nhật Bản hạn hẹp với diện tích đất canh tác nông nghiệp chưa đầy 14% diện
tích lãnh thổ và chỉ có khoảng 0,8 ha đất nông nghiệp trên một gia đình. Vào giai
đoạn 1979- 1999, diện tích đất nông nghiệp giảm bình quân 1%/năm (tương đương
với 48,7 nghìn ha/năm), diện tích này chuyển sang mục đích phát triển đô thị và
hình thành các khu công nghiệp. Theo số liệu thống kê, diện tích đất nông nghiệp
giảm từ 5,4 triệu ha xuống còn 4,9 triệu ha, và tỷ trọng nông nghiệp của Nhật Bản
chiếm chưa đầy 1% tổng giá trị sản xuất hàng năm (số liệu năm 2007).
Trình trạng thiếu lao động trầm trọng vào cuối thập niên 50, xu hướng này
kéo dài cho tới tận ngày nay là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển kinh
tế. Sau khi bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở những năm 50 của thế kỷ 20,
nhu cầu lớn về lao động tại các trung tâm công nghiệp đô thị khiến cho càng nhiều
người rời bỏ nông thôn. Một phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là
những người trên 45 tuổi. Bên cạnh đó, rất nhiều người chỉ làm nghề này theo thời

5


6


diện tích đất nông nghiệp của Hàn Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8
nghìn ha/năm) cho phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông
nghiệp. Việc hình thành các khu công nghiệp, đô thị đã lấy đi những vùng đất mầu
mỡ của Hàn Quốc và gây xói mòn đất đai, ô nhiễm do rác thải sinh hoạt và sản xuất,
sức khỏe của con người bị đe dọa. Để sản xuất nông nghiệp trong điều kiện đất canh
tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những năm 1990 nông nghiệp Hàn
Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ ứng dụng thành tựu của công
nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp.
Đài Loan: diện tích đất canh tác của Đài Loan rất nhỏ chỉ khoảng 851,5
nghìn ha và có tới 72% hộ nông dân có dưới 1 ha đất canh tác. Do ảnh hưởng của
quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, diện tích đất canh tác nông nghiệp hàng
năm bị mất khoảng 17,03 nghìn ha, trong đó hình thành 128 cụm điểm dân cư thành
thị với 5,97 nghìn ha. Do diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và dân số
lao động nông nghiệp ngày càng giảm nên nông nghiệp chủ yếu áp dụng ở quy mô
sản xuất nhỏ có tính chất gia đình với các biện pháp thâm canh và thực hiện cơ giới
hóa. Diện tích đất trồng lúa giảm để chuyển sang trồng rau, quả phục vụ cho nhu
cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Dân số và lao động nông nghiệp ngày càng
giảm và chuyển lên các khu công nghiệp, đô thị tập trung. Theo số liệu thống kê tại
Đài Loan nào năm 1994, tổng số đất canh tác nông nghiệp đã chuyển sang sử dụng
cho các khu đô thị và công nghiệp không dưới 370 nghìn ha, 55% lực lượng lao
động được tuyển dụng trong ngành dịch vụ. Ngoài ra, một số lớn nhân viên được
thu dụng vào các cơ quan xã hội, phục vụ cá nhân cũng như cộng đồng, những công
ty tài chính, bảo hiểm và bất động sản [13].
1.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến chất lượng
đất nông nghiệp
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, trong những năm 19701980, do ảnh hưởng của công nghiệp hóa, những vùng đất mầu mỡ thích hợp cho
canh tác nông nghiệp bị lấy đi, sản xuất lương thực chuyển lên các vùng đất cao,

nhiễm (NEPA, 1993).

8


Nông nghiệp tại các nước châu Á- Thái Bình Dương là ngành sản xuất chủ
yếu từ hàng thế kỷ qua. Nhưng gần đây, đất đai dùng cho sản xuất nông nghiệp bị
thu hẹp, để tạo ra năng suất cao người lao động đã sử dụng phân hóa học, thuốc trừ
sâu, chất kích thích sinh trưởng với một số lượng lớn, nồng độ cao và do đó gây ô
nhiễm đất, xói mòn đất đai và gây hại cho con người.
Hình 1.1. Các nguyên nhân làm suy thoái đất tại châu Á- Thái Bình Dương

(Nguồn: [1])
Thống kê của FADINAP năm 1993 cho thấy: Sản xuất nông nghiệp tại các
nước thuộc châu Á- Thái Bình Dương đã sử dụng một số lượng lớn phân bón hóa
học, nếu trong những năm 1968-1970 lượng phân bón sử dụng khoảng 11 triệu tấn
thì đến những năm 1988- 1990 lượng phân bón này là 52 triệu tấn. Sản xuất nông
nghiệp tại các nước Bắc Hàn, Nam Hàn, Trung Quốc, Malaysia bình quân sử dụng
125 kg phân bón hóa học/ha (EASCAP, 1995).
Tại khu vự châu Á- Thái Bình Dương hiện có khoảng 25% trong tổng số
diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp bị xói mòn và nghèo dinh dưỡng như
tại: Bangladesh, Brunei Darussalam, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia,
Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Philippines, Quần đảo Solomon Island, Sri
Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Dent và ctv, 1992).

9


Đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng còn là một nguyên nhân gây nên tình
trạng suy thoái đất, rừng và các hệ động thực vật. Tại Trung Quốc, diện tích đất



khoảng 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm
2007 cả nước đã có 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên
32,3 ngàn ha. Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế- xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ
đến phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc
đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành
tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác,... hình thành các khu nông nghiệp công nghệ
cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát
triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh
cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

1.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến số lượng,
chất lượng và sản xuất nông nghiệp
Chỉ tính riêng trong vòng 5 năm từ năm 2001 - 2005 diện tích đất nông nghiệp bị
thu hồi để phục vụ cho xây dựng các khu công nghiệp và mở mang đô thị đã tới 336.440
ha, chiếm gần 4% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Con số này trong vài năm gần đây
tuy chưa có số liệu khảo sát chính thức nhưng chắc chắn còn lớn hơn. Việc thu hồi đất
chỉ trong 5 năm đó theo khảo sát của Bộ NN&PTNT đã tác động đến đời sống của
627.495 hộ nông dân, 950.000 lao động, trung bình cứ thu hồi 1 ha đất nông nghiệp là
khiến cho 10 lao động nông thôn mất việc làm. Sau khi bị thu hồi, 60% số hộ vẫn chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ, 6% số hộ sinh kế bằng công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, còn lại là các ngành nghề khác. Đáng chú ý là chỉ có 13%
số hộ có thu nhập tăng hơn trước, trong khi có tới 53% số hộ thu nhập giảm so với
trước .

Trong 3 năm từ 2003 - 2005, Viện QH&TKNN đã tiến hành điều tra chỉnh lý
xây dựng bản đồ đất 64 tỉnh/thành thuộc phạm vi cả nước theo một quy trình và

lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại
thành nói riêng như: mất đất, mất kế sinh nhai, các ảnh hưởng này có tính lâu dài và
phức tạp. Đô thị hóa dẫn đến tài nguyên đất bị khai thác triệt để, tỷ lệ diện tích cây
xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, gây nên ngập úng cục bộ ở nội thành cũng
như ngoại thành. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng, phát sinh nhiều chất thải gây ô
nhiễm môi trường nước, đất, không khí và chất thải rắn ngày càng tăng thêm. Đô thị
hóa cũng làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về
nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị...[4].
Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, do ảnh hưởng của chính sách thu hút
đầu tư và mở cửa nền kinh tế, vấn đề đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển mạnh

12


mẽ từ những năm đầu thập kỷ 90, khi mà lần đầu tiên có sự đầu tư của nước ngoài
vào lĩnh vực công nghiệp với quy mô lớn tại TPHCM, đó là sự ra đời của khu chế
xuất Tân Thuận (1991) và khu chế xuất Linh Trung (1993), sau đó bắt đầu tăng tốc
khoảng năm 1996 với sự hình thành hàng loạt các KCN ở TPHCM và mở rộng ra
các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu. Đến năm 2000 vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam đã có 33 khu công nghiệp và khu chế xuất được cấp phép
thành lập với tổng diện tích 7.106 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp gần 4.800
ha. Ngoài ra, còn hàng trăm cơ sở sản xuất được cấp phép đầu tư mới, nằm phân bố
rải rác trong vùng. Điều này đã làm trầm trọng thêm những vấn đề hết sức nan giải
trước đó về tình trạng đông dân, ô nhiễm nước và không khí, chất thải rắn, ùn tắc
giao thông và nhiều vấn đề xã hội khác. Đất đai bị thu hẹp, tài nguyên bị khai thác
triệt để hơn và không tránh khỏi nguy cơ bị cạn kiệt .
Để bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, đô th ị hóa t ại TPHCM
và vùng phụ cận, Lâm Minh Triết đã đề xuất nhóm các giải pháp tổng thể, trong đó
tập trung vào 7 vấn đề lớn là: (1) Quy hoạch và bố trí hợp lý các KCN, k ết h ợp di d ời
các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm; (2) Tiến hành đánh giá tác động môi tr ường cho các

Trong quá trình nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy ho ạch phát
triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững vùng ĐBSH,
Phan Huy Chi cho rằng trong thời gian qua ở vùng ĐBSH ô nhi ễm kim lo ại n ặng trong
đất chỉ diễn ra cục bộ ở xung quanh các khu công nghiệp cũ, các làng nghề tái chế kim
loại, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật xảy ra ở các vùng trồng rau thâm canh cao ngoại
thành Hà Nội. Dự báo đến năm 2010, ô nhiễm NO 3 chỉ xuất hiện cục bộ ở vùng thâm
canh, chuyên canh nông nghiệp, không đến mức đe dọa cả vùng, ô nhiễm hóa chất b ảo
vệ thực vật có xu hướng giảm, ô nhiễm kim loại nặng phụ thuộc nhiều vào mức độ
đầu tư đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm của các cơ sở sản xuất...
Mặc dù những nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất bảo v ệ th ực
vật trong môi trường đất chưa thật đầy đủ và tiêu biểu đối v ới vùng ĐBSH nói chung,
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nói riêng. Tuy nhiên, t ừ những nghiên c ứu trên cho
thấy rõ ràng sự tồn tại, hoạt động và xả nước thải, chất thải có chứa kim lo ại nặng t ừ
các khu công nghiệp đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng của các nguyên t ố này trong
môi trường đất khu vực lân cận, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe
của người dân trong vùng.
1.3.3 Nghiên cứu về các mô hình nông nghiệp ven đô thị

Với quyết tâm phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa, Chính
phủ, Bộ NN&PTNT đã khuyến khích thành lập một số khu nông nghiệp công nghệ
cao và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước xây dựng các mô

14


hình nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện kinh tế và điều kiện nhân lực
ở Việt Nam, bước đầu thu được một số kết quả:
Điển hình là công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm tổ chức mô hình ứng dụng công
nghệ cao trong sản xuất hoa cao cấp quy mô 24 ha trong đó có 15 ha nhà kính, đạt
năng suất 1,8 triệu cành/ha/năm, xuất khẩu 55% (trong đó 90% sang Nhật Bản).

Giang, Cần Thơ và Hải Dương; ngô ở Đồng Nai; rau, cà chua và hoa ở Hà Nội, Hải
Phòng, Lâm Đồng và TPHCM; lạc ở Nghệ An và Tây Ninh; dứa Cayen ở Ninh
Bình và Đồng Nai; mía ở Thanh Hóa và Bình Dương; cà phê ở ĐăkLăk; chè ở Sơn
La và Lâm Đồng; cao su ở Bình Thuận; điều ở Bình Phước; nông lâm nghiệp khép
kín ở Thái Nguyên và Gia Lai . Ngoài ra, thành phố Hà Nội đã phối hợp với Viện
Thổ nhưỡng Nông hoá nghiên cứu đưa vào sử dụng phế thải hữu cơ (chủ yếu là rác
thải thành phố) cho sản xuất nông nghiệp đô thị và thử nghiệm cho lúa, bắp cải, cam
Canh và thuốc lá để tăng hiệu quả sử dụng đất, đồng thời sử dụng nguồn rác thải
của thành phố góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước cho thấy quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia. Bên cạnh những tác động tích cực do quá trình này mang lại, các nghiên
cứu cũng đã xác định được những tác động tiêu cực nảy sinh như: vấn giải quyết
việc làm cho những người dân bị mất đất sản xuất nói chung và đất sản xuất nông
nghiệp nói riêng, vấn đề suy thoái, xói mòn, ngập úng và ô nhiễm môi trường đất
xung quanh các khu công nghiệp, khu đô thị và các làng nghề, vấn đề sử dụng có
hiệu quả đất nông nghiệp ven các đô thị,... đang là những vấn đề bức xúc cần phải
giải quyết.
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến sự biến
động đất nông nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
1.4.1 Tình hình phát triển các khu công nghiệp

Tính đến tháng 10 năm 2009, các tỉnh thành phố là Hà Nội, Hải Dương, Bắc
Ninh và Vĩnh Phúc trong vùng KTTĐPB đã có 35 KCN được thành lập theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích theo quy hoạch là 8.594,16 ha,
trong đó diện tích sử dụng 5.969,18 ha, diện tích đã cho thuê 2.413,22 ha, đạt tỷ lệ

16



(ha)

Diện
tích sử
dụng
(ha)

Diện
tích đã
cho thuê
(ha)

Tỷ lệ
lấp
đầy
(%)

3295

2263

778,92

34,42

Công suất
CT xử lý
nước thải
(m3/ngày
đêm)


257

50,9

10.000

3

Quế Võ II

2008

273

184

4

VSIP

2007

441

388

32

8,36

TT
và các KCN

Năm
cấp
phép

Diện
tích QH
(ha)

6

Yên Phong I

2006

351

221

104

47,25

7

Nam Sơn - Hạp
Lĩnh


2.000,16 1.523,18

732,18

48,07

76

100

8
9

Thuận Thành III
Đại Đồng - Hoàn
Sơn
Hà Nội

10

Nội Bài

1994
2008

114

11

Thăng Long (GĐ

388

38

10

2000

30,38

18

18

100

2007

266,3

266,3

72

27

76

15
16


2007

170,1

170,1

102,6

60

19

Phụng Hiệp

2008

174,8

118

20

Hà Nội - Đài Tư

1995

40

40

(m3/ngày
đêm)

3.600



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status