Chức năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã – từ thực tiễn xã hiệp thuận, huyện phúc thọ, thành phố hà nội - Pdf 58

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH YN

CHứC NĂNG, NHIệM Vụ CủA CÔNG CHứC TƯ
PHáP Hộ TịCH CấP Xã - Từ THựC TIễN Xã HIệP
THUậN,
HUYệN PHúC THọ, THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2019


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH YN

CHứC NĂNG, NHIệM Vụ CủA CÔNG CHứC TƯ PHáP
Hộ TịCH CấP Xã - Từ THựC TIễN Xã HIệP THUậN,
HUYệN PHúC THọ, THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp v lut hnh chớnh
Mó s: 8380101.02

LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS PHM HNG THI

H NI - 2019


1.3.Những yêu tố đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức tư
pháp – hộ tịch..................................................................................................29
Chương 2.........................................................................................................34
THỰC TRẠNG CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG CHỨC...............34
TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ TẠI XÃ HIỆP THUẬN,.............................34
HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI..............................................34
2.1. Đặc điểm, tình hình xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
ảnh hưởng tới chức năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch của xã
Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội...........................................34


2.2. Thực trạng quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của công chức
tư pháp – hộ tịch cấp xã...................................................................................37
2.3. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch
cấp xã tại xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội......................40
Chương 3.........................................................................................................63
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP –.....................63
HỘ TỊCH CẤP XÃ..........................................................................................63
3.1. Những quan điểm chỉ đạo Đảng và Nhà nước về việc nâng cao chức
năng, nhiệm vụ công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã hiện nay.........................63
3.2. Giải pháp..................................................................................................66


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
CCTP-HT: Công chức tư pháp – hộ tịch
HĐND:

Hội đồng nhân dân


HTcấp xã trên địa bàn
e source
not
found


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trọng trong
hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương của nước ta hiện nay. Hệ
thống chính quyền đều được cầu thành từ các chính quyền địa phương cấp xã
và sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của
hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại. Khâu quan trọng quyết định
sự vững mạnh của hệ thống chính quyền cơ sở phải nói đến khâu tổ chức,
quản lý cán bộ, công chức hay nói cách khác đội ngũ cán bộ, công chức là
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và chế độ, là then chốt trong công tác xây dựng Đảng,
trung tâm trong kiện toàn hệ thống Nhà nước. Cán bộ, công chức cấp xã là
những người gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, hàng ngày triển
khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết
hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện
vọng của nhân dân.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định: “Rà soát, sửa
đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích
cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công
vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng

dân, vì nhân dân. CCTP-HT là những người thường xuyên và trực tiếp tiếp
xúc với nhân dân địa phương, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của nhân dân, là
người trực tiếp xử lý các công việc hàng ngày của Nhà nước; trực tiếp giải
quyết những công việc của địa phương mình và lắng nghe mọi ý kiến, nguyện

2


vọng của nhân dân mà không phải qua khâu trung gian nào, như vậy, CCTPHT là những người thường xuyên, hàng ngày áp dụng pháp luật và bằng hành
vi hành chính của mình giải quyết các công việc hành chính trong nội bộ địa
phương; phổ biến, triển khai thực hiện mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng,
Nhà nước và giải quyết những công việc hành chính ở địa phương về chứng
thực, hộ tịch, hòa giải ở cơ sở, thi hành án dân sự, hình sự, quản lý nhà nước
trên địa bàn…, các công việc này nếu được giải quyết tốt ở cơ sở thì hiệu quả
hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ cao hơn.
CCTP-HT cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của
chính quyền cơ sở đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các
cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp
nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức
pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở. Nói cách khác CCTP-HT xã
chính là cánh tay nối dài của Chính quyền cơ sở trong việc lãnh đạo, quản lý
địa phương.
Xã Hiệp Thuận thuộc huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, được sáp
nhập vào thủ đô từ năm 2008. Từ thời điểm đó đến nay xã có những bước
chuyển biến rõ rệt. Xuất phát điểm là một xã nông thôn nghèo nhưng qua hơn
10 năm, xã đã cố gắng vươn lên xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, quá
trình phát triển kinh tế của xã lại có nhiều khó khăn, do còn tồn tại các tệ nạn
xã hội, người dân tiếp cận pháp luật còn hạn chế. Chính vì vậy, để nâng cao
chất lượng và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của CCTP-HT cấp xã để việc bảo

Thị Tư “Quản lý hột tịch – Qua thực tiễn ở Hải Phòng” năm 2014; Luật văn
Thạc sĩ Luật học của Trương Thị Vân Anh “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở
cấp xã, thực tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” năm 2015
Cho đến nay cũng đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu về
những khía cạnh về công tác tư pháp và công tác hộ tịch nhưng chưa có đề tài

4


nào nghiên cứu một cách cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của những CCTP-HT
cấp xã một cách cụ thể và đẩy đủ, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chức
năng, nhiệm vụ của những CCTP-HT cấp xã trong thực tiễn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của luận văn là nhằm nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận
về chức năng, nhiệm vụ của CCTP-HT cấp xã theo quy định của pháp luật
hiện nay. Đánh giá thực trạng về hoạt động của CCTP-HT tại xã Hiệp Thuận,
huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, đề xuất các giải pháp cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện những văn bản
pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động của đối với CCTP-HT cấp xã.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đề ra những mục
tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chức năng, nhiệm vụ cũng như
địa vị pháp lý của CCTP-HT cấp xã
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của CCTP-HT cấp
xã tại xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp, tham mưu, góp ý cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện những văn bản pháp luật
để nâng cao hiệu quả hoạt động của CCTP-HT cấp xã

của CCTP-HT cấp xã và nâng cao nhiệm vụ của công chức tư phá trong hoạt
động công vụ. Thông qua các giải pháp đề tài đề xuất góp phần hoàn thiện
hơn nữa hệ thống lý luận cũng như cung cấp thông tin cho các cơ quan, cán
bộ, công chức có thẩm quyền trong đổi mới, nâng cao hiệu quả trong hoạt
động thực hiện nhiệm vụ của CCTP-HT cấp xã.
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các quy định của
pháp luật về nâng cao chức năng, nhiệm vụ của CCTP-HT cấp xã nói chung
và công chức nói riêng.

6


8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc
luận văn bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công chức tư pháp – hộ tịch
cấp xã.
Chương 2: Thực trạng chức năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp –
hộ tịch cấp xã tại Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
CÔNG CHỨC TƯ PHÁP - HỘ TỊCH CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu chuẩn của công chức tư pháp –
hộ tịch cấp xã

chức Nhà nước.
Pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998 đưa ra khái niệm chung về cán
bộ, công chức, và Nghị định số 95/1998/NĐCP của Chính phủ ngày
17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đưa ra khái niệm về
công chức.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 đưa ra khái niệm chi tiết về
công chức như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn
vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [29].

9


Chức danh công chức cơ sở: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng
công án chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự Văn phòng – thống kê; Địa chính
– xây dựng – đô thị - môi trường (đối với phường, thị trấn), địa chính - xây
dựng – nông nghiệp – môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp –
hộ tịch; Văn hóa – xã hội.
Đây là nhóm người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên

và quản lý hộ tịch như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình
trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi”. Đồng thời
Luật Hộ tịch năm 2014 còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” như sau:
1. Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác
định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
2. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác
nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ
sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, thực hiện quản lý về dân cư [31].
Trong thời kỳ sau cách mạng tháng 8 Chính phủ ban hành lần lượt Sắc
lệnh 63/SL cho đến năm 1998, đội ngũ thực hiện công tác tư pháp và công tác
hộ tịch tại cấp xã được gọi chung là Ban Tư pháp. Thuật ngữ “Cán bộ hộ tịch
tư pháp” xuất hiện đầu tiên tại Nghị định 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch.
Nghị định của Chính phủ số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về Cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định về công chức được tuyển dụng,
giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong đó
có CCTP-HT. Kể từ sau đó, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều
thống nhất sử dụng chung thuật ngữ CCTP-HT.
Sự ra đời của thuật ngữ CCTP-HT là việc sử dụng đồng thời lồng ghép
giữa các chức danh của công chức làm công tác tư pháp và công tác hộ tịch,
trên cơ sở sử dụng cùng lúc hai công tác trên cho ra đời chức danh CCTP-HT

11


thì nhà nước có thể áp dụng chung chế độ và chính sách cho cùng 1 chức
danh công chức nhằm tinh giản bộ máy hành chính ở địa phương. Nhưng
trong thực tế thì đây là hai công tác hoàn toàn khác nhau, công tác tư pháp
mang tính chất hành chính trật tự, còn công tác hộ tịch đòi hỏi sự ổn định,

CCTP-HT phần lớn là dân bản địa, hoặc do sự quản lý của Phòng nội
vụ, cư trú và sinh sống tại địa phương, có mối quan hệ dòng tộc và gắn bó với
người dân địa phương. Yếu tố này chi phối các hoạt động của họ, đặc biệt
trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến quan hệ giữa các lợi ích
cá nhân - cộng đồng - Nhà nước. CCTP-HT do nhiều nguyên nhân họ ít được
đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên biến động, không ổn định và tính chuyên
nghiệp không cao. Về số lượng, biên chế của Uỷ ban nhân dân cấp xã tối
thiểu 01 CCTP-HT. Đối với những địa bàn có khối lượng công việc lớn, căn
cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm
bố trí đủ CCTP-HT để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.
Về tiêu chuẩn
+ Tuổi đời: không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu;
+ Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng, đô
thị, tốt nghiệp trung học cơ sở đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa;
+ Lý luận chính trị: sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị tương đương với trình độ sơ cấp trở lên;
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, đô thị có trình độ
trung cấp Luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã
sau khi tuyển dụng; phải sử dụng được tin học văn phòng. Với CCTP-HT
đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng nghiệp
vụ tư pháp cấp xã; nếu được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp
Luật trở lên; phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước. Riêng đối với
địa bàn thành phố Hà Nội, việc tuyển dụng ngoài những tiêu chuẩn trên thì
áp dụng Điều 6 Quyết định số 20/2014/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà

13


Nội ngày 16/5/2014 về việc ban hành quy chế tuyển dụng công chức xã,
phường, thị trấn và nội quy kỳ thi tuyển công chức xã, phường, thị trấn trên

các tổ chức, đoàn thể quần chúng có liên quan trên địa bàn. UBND cấp xã,
với tư cách là chủ thể quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về việc ban hành, tổ
chức thực hiện và kiểm tra tình hình thực hiện các chương trình, kế hoạch
công tác tư pháp, phải tạo cơ chế làm việc cho CCTP-HT trong việc phối hợp
với các công chức chuyên môn, cơ quan, đoàn thể liên quan trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ.
1.2.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ
chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân
dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật
Pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng, thể hiện nguyện vọng, ý chí của nhân dân và phải được thực hiện thống
nhất trong cả nước. Để nhân dân hiểu biết, tuân thủ pháp luật và giám sát việc
thực hiện pháp luật thì nhiệm vụ của các cán bộ, công chức là phải tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nắm bắt, hiểu đúng, hiểu
rõ nội dung của pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của
hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối truyền tải pháp luật vào cuộc sống và
là biện pháp quan trọng để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giáo dục
pháp luật nhằm hình thành lòng tin vào pháp luật, thói quen và ý thức tôn
trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò, hiệu lực
của pháp luật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Công tác PBGDPL vô cùng quan trọng thì đối với cấp xã, công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi vì, cấp xã là
đơn vị cơ sở trong hệ thống hành chính của nước ta là nơi trực tiếp tổ chức,
triển khai thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước đi vào thực tiễn. Triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp

15


xã là con đường gần dân nhất, có hiệu quả nhất để đưa pháp luật đến với cuộc

phương về thủ tục hành chính giải quyết các công việc có liên quan đến dân,
các nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Để thực hiện các công việc trên, CCTP-HT cần theo dõi, cập nhật các
văn bản pháp luật, bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên và
nhiệm vụ chính trị của địa phương để chủ động xây dựng và tổ chức thực
hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn. Đồng
thời phát huy và thu hút được sự tham gia của đông đảo các tổ chức, đoàn
thể và cá nhân ở địa phương có ý nghĩa quyết định trong việc triển khai thực
hiện hiệu quả nhiệm vụ này. Một trong các biện pháp phổ biến, giáo dục
pháp luật hiệu quả là thông qua sách báo, tài liệu tuyên truyền pháp luật.
Đây là biện pháp có nhiều ưu thế, giúp cán bộ, công chức và người dân chủ
động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng những kiến thức pháp luật
trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh và giải quyết các vướng mắc pháp luật trong đời sống hàng ngày.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc tìm hiểu, nghiên cứu
sách báo, tài liệu, văn bản pháp luật, Đảng và Nhà nước chủ trương xây
dựng tủ sách pháp luật ở địa bàn cấp xã.
Việc triển khai Tủ sách pháp luật trên toàn quốc thực hiện theo Quyết
định số 69/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phát hành Công báo nước CHXHCN Việt Nam cho cấp xã,
phường, thị trấn và Chỉ thị số 03/1999/CT-BTP ngày 08 tháng 3 năm 1999
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc triển khai thực hiện các công tác trọng tâm
của ngành Tư pháp năm 1999 quy định giao trách nhiệm UBND0020cấp xã
có nhiệm vụ quản lý Tủ sách pháp luật và hàng ngày tổ chức phục vụ cho cán
bộ, nhân dân có nhu cầu nghiên cứu được trực tiếp tìm hiểu các văn bản pháp
luật của Nhà nước. Tiếp đến, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
14/2019/QĐ-TTg ngày 13 tháng 3 năm 2019 về việc xây dựng, quản lý, khai
thác tủ sách pháp luật thì CCTP-HT cấp xã với nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân

17

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status