Lời nói đầu
Giáo dục là một trong những chính sách hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm, chú trọng. Bởi vì, "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện; có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 2 Luật giáo dục năm 2005). Với ý nghĩa
đó, trẻ em có quyền được tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, có chất lượng để trở
thành công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa học kỹ thuật và công nghệ mới phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quyền học tập là một quyền tối quan trọng, là loại quyền trong lĩnh vực văn
hóa và liên quan đến tất cả các quyền kinh tế, xã hội. Xét theo khía cạnh nào đó,
đây cũng là quyền dân sự và quyền chính trị bởi quyền giáo dục được xem là trung
tâm để thực thi một cách có hiệu quả tất cả các quyền trên.
Đây là một quyền đương nhiên mà em được hưởng, mọi trẻ em không phân
biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều
kiện để ai cũng được học hành.
Song vẫn còn nhiều vấn đề cần có sự quan tâm của cả xã hội, của mỗi gia
đình trong việc chăm sóc, tạo điều kiệ cho trẻ em – những mầm non tương lai của
đất nước được học tập để trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Chính vì vậy, em xin chọn đề tài: “Quyền được học tập của trẻ em và trách
nhiệm của gia đình trong việc đảm bảo thực hiện”
Trong quá trình tìm hiểu tư liệu chắc chắn không khỏi nhầm lẫn và thiếu sót.
Vì vậy em rất mong thày ( cô) thông cảm.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
I.
2
2. Quyền được học tập của trẻ em
Giáo dục là một trong những chính sách hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm, chú trọng. Bởi vì, "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện; có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 2 Luật giáo dục năm 2005). Với ý nghĩa đó, trẻ
em có quyền được tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, có chất lượng để trở thành
công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa học kỹ thuật và công nghệ mới phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo điều 59 hiến pháp năm 1992 qui định : “ học tập là quyền và nghĩa vụ của
công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Công dân có quyền học
văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức. Học sinh có năng khiếu được nhà nước
và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Nhà nước có chính sách học
phí, học bổng, nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phù hợp”
Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 xác định giáo dục tiểu học ở Việt Nam
là phổ cập bắt buộc và miễn phí. Phổ cập giáo dục tiểu học vừa là quyền, vừa là
nghĩa vụ của trẻ em. Điều 1 luật phổ cập giáo dục tiểu học còn xác định rõ: “ Nhà
nước thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 đối với tất
cả các trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi”. Như vậy, mọi trẻ em trong
độ tuổi qui định đều có quyền và nghĩa vụ học tập để đạt được trình độ giáo dục phổ
cập. Ngoài ra, khoản 3 điều 6 luật này còn qui định “ trẻ em có khả năng phát triển
đặc biệt thì được học lớp 1 trước 6 tuổi hoặc học vượt lớp nhằm tạo điều kiện bồi
dưỡng cho những học sinh có năng khiếu được phát triển tài năng”.
2.1.
Bên cạnh những qui định cho các trường hợp chung, luật phổ cập giáo dục
tiểu học còn qui định các trường hợp điều kiện bảo đảm quyền được phổ cập giáo
dục tiểu học cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trẻ em vì lý do sức khỏe vì hoàn
cảnh gia đình khó khăn đặc biệt hoặc ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa
xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn có thể được phổ cập giáo dục tiểu
học ở độ tuổi lớn hơn ( điều 6 và điều 8 luật phổ cập giáo dục). Nhà nước và xã hội
có trách nhiệm quan tâm , giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em là con em liệt
sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn đặc biệt đạt được trình độ giáo dục tiểu học.
4
Ngoài giáo dục tiểu học còn có các bậc học khác mà trẻ em cũng được quyền
tiếp cận như giáo dục mầm non , giáo dục phổ thông. Theo điều 28 luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em “ cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ
thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học để bảo đảm chất lượng giáo dục”. “Nhà nước có chính sách phát triển giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông, chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng,
trợ cấp xã hội để thể hiện công bằng xã hội trong giáo dục”. Ngay cả những trẻ
chưa thành niên vi phạm pháp luật, nhà nước ta cũng dành cho các em một sự giáo
dục đặc biệt thông qua các trường giáo dưỡng. Theo qui định tại điều 64 luật giáo
dục năm 2005, trường giáo dưỡng có nhiệm vụ giáo dục người chưa thành niên vi
phạm pháp luật để các đối tượng này rèn luyện phát triển lành mạnh.
Học tập để đạt trình độ phổ cập trung học cơ sở là quyền và nghĩa vụ của
công dân nói chung, trẻ em nói riêng.
Điều 11 luật giáo dục năm 2005 qui định cùng với giáo dục tiểu học , giáo
dục trung học cơ sở là cấp học phổ cập, nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo
dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước.
Việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã được Đảng và nghị quyết của Quốc
hội ban hành số 41/QH10 ngày 9/12/2000. Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã
trường, được sự dạy dỗ của thày cô.
Chính vì vậy, pháp luật nước ta cũng nghiêm cấm hành vi cản trở việc học tập của
trẻ em. Thể hiện ở điều 10 NĐ số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 qui định chi tiết
một số điều của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 qui định những
hành vi bị coi là cản trở việc học tập của trẻ em.
1. Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc sử dụng vật chất, uy quyền để ép buộc trẻ
em phải bỏ học, nghỉ học.
2. Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học.
3. Bắt trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật.
4. Phá hoại cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy trong các cơ sở giáo
dục.
6
5. Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định, không bảo đảm thời
gian, điều kiện học tập cho trẻ em.
II. Trách nhiệm của gia đình trong việc đảm bảo thực hiện
Bên cạnh việc qui định trực tiếp quyền được học tập của trẻ em, các văn bản
pháp luật của VIệt Nam cũng chú ý đến việc qui định các chính sách để bảo vệ
quyền đó nhất là trách nhiệm , nghĩa vụ của gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà
nước và các tổ chức xã hội.
Hiến pháp năm 1992 đã đề cao trách nhiệm của gia đình, cha mẹ trong việc
giáo dục con cái “ cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành những người
công dân tốt” (điều 64). Điều 34 luật hôn nhân và gia đình 2000 cũng nêu rõ: “ cha
mẹ có nghiã vụ chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về
thể chất trí tuệ và đạo đức. Trong bậc tiểu học, điều 18 luật phổ cập giáo dục tiểu
học qui định trách nhiệm của cha mẹ người đỡ đầu của trẻ em là ghi tên cho con
hoặc trẻ em được đỡ đầu đi học tại trường, lớp tiểu học trên địa bàn cư trú nơi
thuận tiện nhất, tạo điều kiện để con hoặc trẻ em được đỡ đầu hoàn thành giáo dục
Thứ hai, tạo điều kiện cho trẻ em được học tập, phát huy khả năng của trẻ.
Cha mẹ phải quan tâm, lắng nghe và trò chuyện với trẻ để hiểu và giúp đỡ trẻ trong
học tập Cha mẹ có thể cùng học với trẻ, xây dựng thời khóa biểu cho trẻ để trẻ
nghiêm túc, tập trung trong học tập hơn.
Với những trẻ em có thiên hướng xuất hiện một số năng khiếu, cha mẹ phải
biết phát hiện, khuyến khích tạo mọi điều kiện để ươm mầm tài năng. Việc chăm
sóc phát triển trí tuệ cho trẻ em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục, xã hội hoá trẻ
em. Quan điểm giáo dục hiện nay coi gia đình là một trong ba môi trường giáo dục
trẻ em. Tuy nhiên gia đình vẫn là trường học đầu tiên và suốt đời của mỗi con
người. Đó là bởi vì gia đình có trách nhiệm, là tình cảm và cũng là quyền uy (ông
bà, cha mẹ, anh, chị). Gia đình thực hiện chức năng giáo dục thông qua 3 giai đoạn
phát triển của trẻ em: từ 1-3 tuổi, từ 3-6 tuổi và từ 6-18 tuổi. Cả ba giai đoạn trên,
trẻ em được giáo dục, dậy dỗ của gia đình, lớn lên chịu ảnh hưởng các chuẩn mực
trong gia đình và dần dần tiếp cận các chuẩn mực ngoài xã hội.
Thứ ba, để thực hiện tốt chức năng giáo dục, mỗi thành viên trong gia đình
tuỳ thuộc vị trí của mình ( ông, bà, cha, mẹ, anh, chị) phải trở thành những tấm
gương sáng cho con trẻ học tập, làm theo. Hiện nay, phong trào: ông bà, cha mẹ
8
mẫu mực, con cháu thảo hiền đang thực sự phát huy hiệu quả, tác động quan trọng
trong giáo dục của gia đình. Những hành vi mà trẻ tiếp nhận, học tập trong gia đình
không chỉ là những kinh nghiệm của người lớn mà bằng cả những tình cảm của
những người thân yêu nhất. Gia đình thông qua thái độ, tình cảm, tâm lý, mối liên
hệ thường xuyên bền vững với trẻ em, khéo léo truyền thụ cho chúng những hành vi
ứng xử trong nhà và ngoài xã hội. Không thể có sự hình thành và phát triển nhân
cách đầy đủ và hoàn thiện nếu không có một môi trường giáo dục gia đình thuận
lợi.
Tùy vào khả năng của trẻ mà có cách thức cũng như lựa chọn trong việc học
tập của trẻ. Nhiều gia đình luôn muốn con mình học thật nhiều để biết nhiều thứ
của các em chỉ là mong sao được ăn ngon hơn một chút, được mặc đẹp hơn một
chút và được cắp sách đến trường vì một ngày mai tươi sáng hơn. Những mong
muốn bình dị ấy thật bình dị và đó cũng là quyền của bao trẻ em bình thường khác
nhưng thật lớn đối với trẻ em nghèo, trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam.
Các em chỉ dám nghĩ mà không dám mơ bởi khi sinh ra, các em đã cảm nhận được
cái nắng, cái mưa của cuộc đời và chưa đến tuổi thành niên đã phải đương đầu với
những nỗi vất vả ấy. Cái nghèo, cái khổ khiến các em phải thiệt thòi nhiều thứ mà
trong đó quyền được học tập là thứ quan trọng nhất. Đó là những thứ mà các em
đáng có, sẽ phải có khi được sinh ra trong một xã hội văn minh này. Nhưng thay vì
“trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ biết học hành là ngoan” thì các em phải lao
động, dốc hết sức lực của những đứa trẻ non nớt. Tuổi của các em không phải là lứa
tuổi phải lao động nặng, lẽ ra phải được vui chơi, học tập. Nhưng thực tế đời sống
đã đẩy các em đến với những con đường không thẳng với những bước chân không
nhẹ nhàng. Hay những ngày nắng gắt, một nhóm trẻ tranh nhau đánh giày, nhặt ve
chai, bán báo… để mong kiếm được từng đồng cho cuộc sống mưu sinh. Vậy
nguyên nhân từ đâu? Ai có trách nhiệm trong cuộc sống đầy gian khổ, đối mặt với
cuộc sống hàng ngày của các em đây? Gia đình hay toàn xã hội?
Thực tế, một số cha mẹ chỉ lo làm việc như thế nhưng ít ai quan tâm tới việc
học hành của chúng. Có đứa không biết chữ, có đứa mới chỉ học xong bậc tiểu học
phải nghỉ để đi kiếm thêm tiền, đi xa nhà vào đời với biết bao cám dỗ. Có đứa hiếu
học nhưng ngày ngày đến trường với suy nghĩ liệu mình có đi đến cuối được con
đường học vấn hay không? Làm như thế nào đây? Làm gì để tiếp tục học, tiếp tục
thực hiện những ước mơ, hoài bão mà em đã vẽ và ấp ủ.
10
Không chỉ các trẻ em bình thường không được học tập mà cả các em bị
nhiễm HIV cũng đang rơi vào tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử gây trở ngại cho
việc học tập của trẻ em nhiễm HIV rất nổi cộm ở các nhà trường, song chủ yếu là
do người lớn chứ trẻ em thì rất vô tư. Chỉ có rất ít trường học ở Việt Nam hiện nay
5. Lê thị Mai Hường – Quyền trẻ em trong lĩnh vực giáo dục theo Công ước của
Liên Hợp Quốc năm 1989 và pháp luật Việt Nam – HN 2011
12
Mục lục
II.
Một số lý luận về quyền trẻ em và quyền ..............................................1
1.Quyền trẻ em.........................................................................................1
2.Quyền được học tập của trẻ em...........................................................2
2.1 Trẻ em có quyền được học tập...........................................................3
2.2.Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải
trả học phí.......................................................................................................5
II. Trách nhiệm của gia đình trong việc đảm bảo thực hiện.........................7
III.Thực tiễn về quyền được học tập và trách nhiệm của gia đình trong việc đảm bảo
thực hiện............................................................................................10
IV.Kết luận
13