NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN HỌC TẬP CỦA CON CÁI - Pdf 33

1


2


LỜI MỞ ĐẦU
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì
lợi ích trăm năm trồng người”. Trong suốt cuộc đời của Bác, trong mọi phút giây,
Bác luôn luôn quan tâm đến giáo dục và “trồng người”, Bác luôn tâm niệm giáo
dục và đào tạo con người là điều cực kỳ quan trọng đối với đất nước và toàn thể thế
giới. Việc học tập đối với một cá nhân là không thể thiếu trong quá trình hình thành
và hoàn thiện trí tuệ và nhân cách bản thân. Quyền được học tập đã được ghi nhận
ở rất nhiều ở các văn bản pháp lý cả ở Việt Nam và thế giới. Để đảm bảo cho việc
học tập của cá nhân được tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách hoàn thiện nhất
không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội và
gia đình là yếu tố không thể thiếu vì gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi con
người sinh ra, trưởng thành. Do đó em chọn đề tài: “Xác định nghĩa vụ của cha mẹ
trong việc đảm bảo quyền được học tập của con cái” làm bài tập học kì của mình.

NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Một số khái niệm
Theo từ điển tiếng Việt: học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ
năng. Theo đó ta có thể hiểu học tập là sự kết hợp của tiếp thu kiến thức, đồng
nghĩa với sự khám phá học hỏi và sự luyện sau những gì đã học được. Hay học tập
là sự học hỏi và thực hành với những gì đã học.
Thuật ngữ “nghĩa vụ” là khái niệm khoa học chỉ việc phải làm theo bổn
phận của mình”. Điều 280 BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo
đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi tắt là bên có nghĩa vụ” phải chuyển giao
vât, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền được học tập cũng được ghi nhận
trong rất nhiều văn bản pháp lý như Điều 59 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001:
“Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân… Công dân có quyền học văn hóa và
4


học nghề bằng nhiều hình thức…”. Điều 66 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001
quy định: “Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập,
lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống
dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao
động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.”. Hay được quy định trong các văn bản pháp luật
khác như: Luật HN&GĐ 2000; Bộ luật dân sự 2005; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em 2004…
Qua đó ta khẳng định quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản
của cá nhân, được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện.
3. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo quyền học tập
của con cái
Nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo quyền học tập của con cái là một
dạng của quan hệ pháp luật mà các chủ thể ở đây là cha mẹ - con cái. Quan hệ pháp
luật giữa cha mẹ và con cái phát sinh dựa trên những sự kiện: Sự kiện sinh đẻ và sự
kiện nuôi con nuôi là những sự kiện đưa đến quan hệ cha mẹ và con, những người
con này và cha mẹ là thành viên gia đình của nhau ngay cả khi những người này
không sống cùng nhau. Trong thực tiễn thì quan hệ giữa cha mẹ và con không chỉ
giới hạn do sự kiện sinh đẻ và sự kiện nuôi con nuôi mà còn mở rộng ra trong quan
hệ do hôn nhân đem lại hay nuôi con nuôi thực tế. Chẳng hạn như bố mẹ chồng với
con dâu, bố mẹ vợ với con rể, bố dượng hoặc mẹ kế với con riêng của vợ hoặc
chồng và kể cả con dâu hay con rể riêng của vợ hoặc chồng. Pháp luật hiện hành
quy định việc nuôi con nuôi phải thực hiện thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi.
Nhưng trong thực tế có nhiều trường hợp nhận một đứa trẻ về nuôi nhưng không
đăng ký việc nuôi con nuôi cho dù pháp luật không công nhận quan hệ giữa họ là

người cha, người mẹ, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt. Là nghĩa vụ bởi lẽ,
không một người cha người mẹ nào có quyền ruồng rẫy, ngược đãi hoặc từ chối
trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái do mình sinh ra. Vì lợi ích, vì sự phát
triển lành mạnh của con trẻ, đạo đức xã hội cũng như pháp luật đặt ra những trách
nhiệm, nghĩa vụ tối thiểu của cha mẹ đối với con mình…. (cha mẹ nuôi?)
6


Khoản 1 Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho
con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm,
hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và
các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền
tham gia hoạt động xã hội của con…”
Cha mẹ có nghĩa vụ giáo dục, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập. Việc
giáo dục con không thể phó mặc cho một người (cha hoặc mẹ) mà cả hai đều có
quyền ngang nhau trong giáo dục con cái. Cha mẹ có nghĩa vụ giáo dục con, chăm
lo và tạo điều kiện học tập cho con, hướng dẫn con chọn nghề, tôn trọng quyền
chọn nghề, tham gia hoạt động xã hội của con, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh
của con về trí tuệ, tài năng và nhân cách.
- Lựa chọn trường học: Cha mẹ có nghĩa vụ lựa chọn trường nơi con theo
học để phù hợp với điều kiện đi lại, sinh hoạt của các thành viên trong gia đình
cũng như năng khiếu của con. Cha mẹ theo dõi, kiểm tra việc học tập của con, một
cách độc lập tại gia đình hoặc có sự hợp tác với nhà trường thông qua tổ chức hội
phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm…. Tất nhiên khi đã có khả năng nhận thức nhất
định, con có quyền có ý kiến về việc lựa chọn nơi học tập; cha mẹ về phần mình
chỉ tham gia với tư cách cố vấn. Bên cạnh đó, cha mẹ còn có nghĩa vụ tạo điều kiện
cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt về

phục được tình trạng cha mẹ lợi dụng quyền này áp đặt con cái.
Có thể nói Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên thực hiện có
hiệu quả quy định của Công ước về quyền trẻ em trong việc: “Bảo đảm cho trẻ có
đủ khả năng hình thành quan điểm riêng, được quyền tự do phát biểu những quan
điểm đó về tất cả mọi vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em và những quan điểm của trẻ
8


em phải được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của trẻ
em.” (Điều 12).
Nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo quyền học tập của con cái trong
chừng mực nào đó, thể hiện dưới hình thức nghĩa vụ giám sát. Cha mẹ, theo tục lệ,
có quyền cho phép hoặc không cho phép con chưa thành niên lui tới những nơi nào
đó, giao tiếp với người nào đó, kiểm soát thư từ của con cái. Sự giám sát này là cần
thiết vì qua đó cha mẹ có thế ngăn chặn việc con tiếp xúc với những tệ nạn xã hội:
ma túy, mại dâm…, những người có thể làm ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển
lành mạnh của con cái, những việc có thể ảnh hưởng tới quá trình hình thành nhân
cách của con: văn hóa phẩm đồi trụy, hay yêu đương quá sớm ảnh hưởng đến học
hành…Các quyền này không được ghi nhận trong luật viết có lẽ do chúng không
phù hợp với tinh thần của nguyên tắc tôn trọng quyền trẻ em; nhưng nếu cha mẹ có
thực hiện, thì pháp luật cũng chỉ can thiệp có chừng mực, ví dụ trong trường hợp có
sự lạm quyền của cha mẹ và sự lạm dụng đó ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát
triển lành mạnh của con, nhất là một khi con chưa thành niên đã đủ 15 tuổi.
Nhà nước khuyến khích cha mẹ nên thay đổi quan niệm hay lập trường khô
cững, kiên nhẫn và lắng nghe sự thổ lộ từ con cái, lắng nghe nhưng không bình
phẩm, không phân tích hay quyết đoán một cách vội vàng, từ đó cha mẽ sẽ dễ dàng
cảm thông và hiểu được ý muốn của con cái mà kịp thời khuyên bảo, chỉ dạy,
khuyến khích cha mẹ nên hướng dẫn con cái ý thức rõ ràng trong mối quan hệ
tương quan, sự quan hệ mật thiết giữa mình và muôn loài, từ đó con cái sẽ trau dồi
ý niệm trong lĩnh vực đạo nghĩa. Pháp luật muốn nhấn mạnh nghĩa vụ thiêng liêng

con ngỗ nghịch, hư hỏng, nghiện ngập mà cha mẹ không có khả năng giáo dục.
Tính chất của sự hỗ trợ: Sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức đối với cha mẹ trong
việc giáo dục con có thể coi như một cách Nhà nước thực hiện việc giáo dục công
dân, có thể coi là hình thức thực hiện nghĩa vụ gián tiếp của cha mẹ.
Bên cạnh đó, có những trường hợp mà trong đó cha hoặc mẹ đơn phương
thực hiện nghĩa vụ đối với con cái:
+ Do cha hoặc mẹ đã chết.
10


+ Do cha hoặc mẹ vắng mặt, mất tích hoặc ở trong tình trạng mất năng lực
hành vi.
+ Hay không xác định được cha hoặc mẹ của con là ai.
Đối với những gia đình đã ly hôn nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng
con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 92 Luật HN&GĐ như sau:
+ Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi
dân sự…Nghĩa là cha mẹ vẫn phải có nghĩa vụ đảm bảo quyền học tập của con cái
tới khi thành niên hay có tài sản để tự nuôi mình, có khả năng lao động. Mục đích
của điều luật này là nhắc nhở ca mẹ tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với
con, chứ không phải nhằm mục đích giới hạn nội dung của các quyền và nghĩa vụ
ấy sau khi ly hôn.
+ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của
mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết
dịnh giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con (với tính chất
tham khảo). Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu
các bên không có thỏa thuận khác.
Nếu người trực tiếp nuôi không thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi về
mọi mặt của con thì người không trực tiếp nuôi có thể yêu cầu tòa án quyết định

việc đảm bảo quyền học tập của con) qua đó đảm bảo được quyền bình đẳng,
không phân biệt tư cách cha mẹ trong mối quan hệ với con.
2. Ý nghĩa về mặt xã hội
Vấn đề nêu trên phần nào thể hiện mối quan hệ giữa cha mẹ và con là yếu tố
quan trọng tạo nên sự gắn kết và bền vững của gia đình. Vì vậy, việc quy định
nghĩa vụ và quyền giữa cha mẹ và con, tạo ra các quy tắc xử sự giữa các thành viên
trong gia đình. Góp phần vào sự phát triển toàn diện của con cái đặc biệt là trẻ em
12


cả về trí tuệ và nhân cách. Nó góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cha mẹ
đối với con cái, tạo điều kiện cho việc đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em.
IV. THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT năm học 2009-2010, tỷ lệ học sinh bỏ học ở
hầu hết các vùng đều giảm, chỉ còn là 75.691 học sinh (chiếm tỷ lệ 0,51%) giảm
0,05%.Tuy nhiên, một số vùng khó khăn tỷ lệ học sinh bỏ học đã giảm so với năm
học trước nhưng vẫn còn cao là vùng Tây Bắc 0,94%, vùng Tây Nguyên 0,84%,
vùng đồng bằng sông Cửu Long 0,83%, cá biệt có tỉnh không giảm. Qua đó cho
thấy nhà nước ta quan tâm cho việc giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực tương lai
cho đất nước nhưng qua đó cũng phản ánh phần nào nhận thức của nhiều bậc cha
mẹ đối với việc học tập của con cái. Nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập như
tình trạng con cái không được học tập do hoàn cảnh khó khăn, tình trạng phân biệt
giữa các con cái như phân biệt con đẻ với con nuôi, con chung với con riêng: con
nuôi không được đảm bảo các điều kiện để học tập như con đẻ…. Đây là vấn đề
cần sự giúp đỡ và biện pháp xử lý từ phía nhà nước và toàn xã hội

KẾT LUẬN
Qua đây phân tích ở trên đây ta đã thấy vai trò rất quan trọng của cha mẹ
trong việc đảm bảo quyền học tập của con cái. Góp phần giáo dục và đào tạo những
thế hệ tương tai của đất nước ngày càng hoàn thiện về trí tuệ, tài năng và nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status