hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC
!
!
Bạn muốn đọc nhanh
những thông tin cần thiết ?
Hy đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi
đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào
mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )
! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó
!
!
Bạn muốn phóng to hay thu nhỏ
trang báo cáo trên màn hình ?
Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th
thưước
có sẵn trên thanh Menu
, hoặc
! Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to
! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th
thưước
muốn,, Nhấn OK
hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn
Chúc bạn hài lòng
với những thông tin đđưược cung cấp
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................................................. 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................. 3
2.1. Các lời giới thiệu tập truyện, các giáo trình, công trình tổng quát. ........................ 3
2.2. Các công trình nghiên cứu chuyên sâu: ................................................................ 4
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ........................................................ 6
3.1. Đối tượng.............................................................................................................. 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 6
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................................... 6
5. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN .......................................................................... 7
6. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN ................................................................................ 7
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................................... 8
1.1. Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học ....................................................... 8
1.1.1. Nhân vật – hình thức thể hiện con người trong văn học ............................... 8
1.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người............................................................. 9
1.2. Hình tượng nhân vật nữ. ..................................................................................... 11
1.3. Cuộc đời và sáng tạo nghệ thuật của tác giả O’Henry ........................................ 13
1.3.1. Tuổi thơ và gia đình ................................................................................... 13
1.3.2. Đỉnh cao của sự nghiệp .............................................................................. 16
1.4 O’Henry – nhà văn bậc thầy của truyện ngắn cổ điển.......................................... 18
CHƯƠNG 2. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ THỂ HIỆN TRONG QUAN NIỆM
NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI ........................................................................... 21
2.1. Người phụ nữ nhỏ bé về địa vị............................................................................ 24
2.2. Người phụ nữ cao thượng trong tâm hồn ............................................................ 31
2.3. Người phụ nữ giàu đức hi sinh............................................................................ 36
2.4. Con người chung thủy trong tình yêu ................................................................. 40
2.5. Trọng danh dự và nhân phẩm ............................................................................. 44
2.5.1. Vượt qua cám dỗ của đồng tiền để giữ gìn danh dự và nhân phẩm ............ 44
2.5.2. Chủ động đối mặt với đồng tiền vượt qua thử thách trong cuộc sống ........ 47
niềm vui, ngọt ngào, hạnh phúc cho nam giới, nhưng cũng không ít nỗi khổ đau.
Bởi vậy mà khám phá về phụ nữ luôn là vấn đề mới mẻ và muôn thuở. Chiếu
theo dòng thời gian về văn học, thì vấn đề về phụ nữ đã không ít nhà văn, nhà thơ
tốn mực đầu tư suy nghĩ, bàn luận.
Song song với sự phát triển của văn học phương Đông, văn học phương
Tây ngày càng phát triển và khẳng định vị trí vững chắc trên diễn đàn văn học
thế giới. Trên tất cả các thể loại: thơ, văn xuôi, truyện ngắn, tiểu thuyết đến
kịch…Nền văn học Mỹ có lịch sử phát triển khá non trẻ nhưng thu hút được
nhiều thành tựu to lớn. Nó trở thành một hiện tượng đặc biệt: phong phú về mặt
nội dung, luôn đổi mới các phương thức nghệ thuật, là mảnh đất màu mỡ thu hút
các nhà nghiên cứu. Là cây đại thụ của nền văn học Mỹ giai đoạn cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX, O’Henry là người đã góp phần tô điểm cho vườn hoa văn
học Mỹ thêm hương sắc.
Truyện ngắn của O’Hennry đã đưa ông lên vị trí bậc thầy, với khối lượng
tác phẩm khá đồ sộ, được sáng tác trong khoảng thời gian ngắn, kết cấu truyện
chặt chẽ, cốt truyện xếp vào hàng mẫu mực nhất của truyện ngắn thế kỉ XIX đã
đưa tên tuổi của ông vang xa trên toàn thế giới, khiến không ít các nhà văn trẻ
trong và ngoài nước chịu ảnh hưởng từ ông. Nhân dịp kỉ niệm tám năm sau ngày
O’Henry qua đời, Hội Khoa học Nghệ thuật Mỹ bỏ phiếu và tán thành việc xây
dựng một tượng đài cho bậc thầy truyện ngắn: giải O’Henry. Ông là một trong
những mốc son chói lọi của truyện ngắn hiện thực, mẫu mực cho truyện ngắn cổ
1
điển. Chính ông là người đưa truyện ngắn lên bản đồ thương mại thế giới và góp
phần cho truyện ngắn chiếm lĩnh văn đàn Mỹ.
Đọc truyện ngắn của O’Henry chúng ta cảm nhận được rằng, ông chuyên
viết về những chuyện vặt vãnh liên quan đến những thân phận của những con
người dưới đáy xã hội, đặc biệt ông quan tâm phụ nữ. Họ là những con người
Truyện ngắn của O’Henry đã có tiếng vang rất lớn trên diễn đàn văn học
thế giới. Cho nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và phê bình về truyện của
ông. Mặc dù vậy vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc
vấn đề này. Tựu trung chỉ dựng lại những ý kiến, nhận định tổng quát trên các tạp
chí văn học nước ngoài. Cũng có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu, nhưng vì
mục đích ý nghĩa của đề tài mà các tác giả chưa nghiên cứu hình tượng nhân vật
nữ trong truyện ngắn.
2.1. Các lời giới thiệu tập truyện, các giáo trình, công trình tổng quát.
- Trong lời giới thiệu tập truyện Mỹ Hoa dại tác giả Đức Nam đã đưa ra
những nhận định về truyện của O’Henry: “kết thúc bất ngờ có hậu; màu sắc trữ
tình, hài hước”.
- Ngô Vĩnh Viễn trong lời giới thiệu tập Chiếc lá cuối cùng đã chỉ ra
điểm lôi cuốn nhất trong truyện O’Henry là: “niềm tin của ông vào con người,
vào cuộc sống…cái nhìn vui vẻ, yêu đời trước những thăng trầm của số phận con
người, đặc biệt là những người nghèo khổ, bất hạnh” [28,3].
- Vương Trí Nhàn trong cuốn Sổ tay truyện ngắn đã chỉ ra: “Ở O’Henry
và J.London, tình tiết là một cấu trúc khép kín; còn trong truyện ngắn Mỹ hiện
nay, tình tiết yếu đi, hoặc đó là một thứ tình tiết mở ngỏ” [13;119].
- Trong cuốn Hành trình văn học Mỹ (Nguyễn Đức Đàn) chỉ mới vài
dòng ngắn gọn đã chỉ ra nghệ thuật trong truyện O’Henry “Ông tìm kiếm không
mệt mỏi những cái bất ngờ và kì lạ. Cốt truyện không bao giờ diễn biến một cách
logic và phần cuối bao giờ cũng có một sự kiện đột ngột…” [6;195].
- Beatrice Pidier trong cuốn Dictionaire University des Litturatures cũng
chỉ ra đặc điểm cốt lõi trong truyện O’Henry đó là: “Mở nút bất ngờ; cái tình cờ
và những cái trùng lặp có vai trò kép”.
- Cac Van Đo – ren khi viết về O’Henry nhận xét: “Truyện ngắn
O’Henry là lời tiên tri của những sáng tạo văn xuôi, là sự đổi thay khuôn hình
nhân vật, tính cách đã định hình trước đó” [3;230].
- Van Uych Brucx cũng đã viết: “Newyork dường như thuộc về O’Henry
bởi vì sự hiếu kì mới mẻ mà với nó ông lại mang tình cảm kì diệu của ông về
có nghiên cứu về vấn đề này: “Cốt truyện tuy đơn giản nhưng chứa đựng nhiều yếu
tố bất ngờ, nằm ngoài dự tính độc giả. Tình huống 1: Gionxy đối diện với cái chết
và theo sự cảm nhận thông thường của độc giả chiếc lá rụng và cô sẽ chết. Tình
huống 2: Benman đối diện với cái chết. Tình huống một được giả quyết mà không
ngờ nó lại dẫn đến tình huống hai. Đó là tình huống đảo ngược”.
4
- Trong cuốn sách O’Henry – Chiếc lá cuối cùng, 2006, của Hội nhà Văn
cũng có đoạn viết: “Văn chương của O’Henry nhẹ nhàng, ngắn gọn đến mức sắc
sảo. Giọng văn hài hước, dí dỏm, đôi khi dấu sau những nụ cười là một sự nghiệt
ngã đến không ngờ của cuộc sống. Rất nhiều tác phẩm của O’Henry có những
kết thúc bất ngờ, gây sửng sốt cho người đọc. Nhiều độc giả yêu quý nhà văn này
đã rất ngạc nhiên vì một nhà văn không có học vấn cao nhưng lại rất thành công
với mảng truyện ngắn và đã đưa vào tác phẩm của mình một xã hội đa dạng và
rộng lớn của nước Mỹ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Bạn có thể tìm thấy trong
văn chương O’Henry những tội phạm, thế giới của người vô gia cư, cuộc sống
phiêu lưu của những kẻ cao bồi hay dòng người đi tìm vàng cho đến cuộc sống
giàu sang của thành phô New York…”
Ba công trình trên nghiên cứu truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng đã đi sâu
vào giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật một cách chung chung, tổng thể chỉ dừng ở
truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng. Tuy nhiên, tài liệu này rất bổ ích, nó gợi mở cho
chúng tôi nhiều vấn đề trong quá trình nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong
truyện ngắn của O’Henry.
- Trên một số trang web uy tín, chúng tôi đã đọc những công trình nghiên
cứu như: Hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn của O’Henry. Quan
niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của O’Henry. Hai công
trình nghiên cứu đã đi sâu vào nghệ thuật trong truyện ngắn của O’Henry, và
nghiên cứu tổng thể về con người trong truyện, chưa đề cập gì đến nhân vật nữ.
ngắn của O’Henry.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng
Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của O’Henry.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp ra trường, hơn nữa với số
lượng truyện ngắn khổng lồ của O’Henry chúng tôi không thể nghiên cứu hết mà
chỉ chọn những truyện ngắn tiêu biểu liên quan trực tiếp tới nhân vật nữ, nhằm
làm rõ nội dung của đề tài.
Có mở rộng so sánh đối chiếu với các mảng truyện thuộc văn học Mỹ, liên
quan đến nhân vật nữ như Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Cuốn theo chiều
gió, Người đàn bà ngoa ngoắt…và một số tác giả truyện ngắn ở Việt Nam như
Nam Cao, Thạch Lam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác làm nền
tảng và phối hợp linh hoạt các phương pháp trong quá trình nghiên cứu chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài với những phương pháp sau:
6
1. Phương pháp thống kê, phân loại: Với phương pháp này, chúng tôi đi
tìm và khảo sát các truyện đặc sắc liên quan đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu
để tìm ra đặc điểm nội dung và nghệ thuật.
2. Phương pháp phân tích: Từ chỗ thống kê, phân loại chúng tôi tiến hành
phân tích để làm rõ tính chất của vấn đề.
3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Người viết sử dụng phương pháp này
để thử so sánh, đối chiếu hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của O’Henry
với các nhà viết truyện ngắn trên thế giới đó là Maupassant và Tcheskhov nhằm
chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt.
[20;95].
Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con
người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện
bằng phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ. Đọc bất cứ văn bản văn học nào,
trước hết người đọc đều bắt gặp những con người được miêu tả, trần thuật cụ thể.
Đó chính là những nhân vật văn học. Nhân vật văn học đồng thời cũng là sản
phẩm của sự hư cấu nghệ thuật, hiển hiện trước độc giả như một thể thống nhất
toàn vẹn của nhiều yếu tố: tên gọi, đặc điểm ngoại hình, trang phục, tâm sinh lí,
lời nói hoạt động ứng xử, tính cách, số phận.
Nhân vật không phải là “bản dập” của con người ngoài đời. Nó là một
hiện tượng, một đơn vị nghệ thuật, được sáng tạo theo những ước lệ của văn học.
Ngay cả khi nhà văn xây dựng nhân vật dựa khá sát vào nguyên mẫu, thẩm chí
giữ lại cả danh tính của nguyên mẫu thì ta cũng không đồng nhất hai hiện tượng
đó với nhau. Alecxay Pex-cốp trong Thời thơ ấu của M. Gorki không hoàn toàn
trùng khít với con người tác giả thời thơ ấu. Napoléon, Kutuzov của lịch sử,
nhưng trước hết nó là nhân vật riêng của của L. Tolstoi, không bắt buộc phải
“giống” nguyên mẫu, vả lại, phạm trù “giống” luôn luôn có tính chất chủ quan và
hết sức tương đối.
Mỗi nhân vật văn học thường có chùm dấu hiệu khu biệt để người đọc có
thể nhận biết dễ dàng. Dấu hiệu đầu tiên là cái “tên” mà tác giả hoặc người kể
chuyện tạm đặt. Những dấu hiệu khác là đặc điểm diện mạo, tiểu sử, tính cách,
lời nói, hành động và số phận. Chính nhờ có chùm dấu hiệu khu biệt này mà ta
có thể đếm được số lượng nhân vật có trong tác phẩm, cũng như có thể tách riêng
từng nhân vật ra để phân tích.
8
Nhà văn Nga – Xô viết K.A Fedin từng hình dung nhân vật giống như
“một công cụ” hữu hiệu giúp người viết nhận ra bản chất của đời sống và giúp
9
cuộc sống, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm. Văn học phản ánh cuộc sống
và thể hiện cuộc sống không thể không đề cập đến con người. Bởi con người là
nội dung quan trọng của văn học. Vấn đề con người trong văn học là vấn đề vĩnh
cửu. Chính vì lẽ đó bàn về con người là mục đích và cứu cánh của văn học như
M. Gorki đã nói: “ Văn học là nhân học”.
Theo GS. Trần Đình Sử trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” (Nxb
Giáo dục 1998) thì “Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm
thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật”. Quan niệm nghệ thuật là cách cắt
nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các yếu tố thế giới quan nhất định của
thời đại, tạo ra một quan niệm của mình về thế giới và con người. Văn học là nhân
học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Con người là đối tượng chủ yếu của
văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật, hoặc giản đơn là miêu tả các
nhân vật, văn học đều thể hiện con người.
Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu như không hiểu biết,
cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định. Mặt thứ hai này tạo thành
chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học.
Quan niệm nghệ thuật về con người còn hướng người ta cách cảm thụ và biểu
hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con
người trong văn học và các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch sử, nó là
một sản phẩm của lịch sử và cũng đồng thời là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng và
quan niệm nghệ thuật về con người cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ,
gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ.
Trong các thể loại văn học khác nhau, do chức năng và hệ thống phương tiện
biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật cũng có sự khác nhau quan trọng.
Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới, quan niệm
con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất
nội tại của hình tượng nghệ thuật. Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các đề
phong trở thành thô kệch hoặc ngang tàng hết sức lố lăng. Họ đánh mất “nữ tính”
khi họ coi sự e thẹn, dịu dàng, danh dự của người con gái là những cái đã “cũ
rích” cần phải vứt bỏ. Làm như vậy thật ra họ đã vứt bỏ mất những đặc trưng giới
tính hấp dẫn đối với người khác giới khiến thế giới cũng thiệt thòi vì mất đi vẻ
đẹp dịu dàng của người phụ nữ.
Nhìn từ góc độ giới tính, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Giữa nam giới
và nữ giới có sự khác nhau về hình thức, cấu tạo cơ thể, tâm sinh lí, hành động,
tính cách…Chẳng hạn đặc trưng của nữ giới là hiền dịu, nói năng nhỏ nhẹ, thùy
mị, thụ động. Còn đặc trưng của nam giới là mạnh mẽ, cương quyết, chủ
11
động…Nam thường lo việc xã hội, nữ lo việc nội trợ gia đình. Bản chất nam giới
thường tỏ ra dũng cảm, cường tráng, muốn tỏ rõ năng lực của mình với người
khác. Còn phụ nữ dễ đa sầu, đa cảm, dễ xúc động, cần cù, chịu khó, chịu đựng
giỏi. Ngay cả trong lĩnh vực tình yêu người ta cũng thường nói “phụ nữ yêu bằng
tai, đàn ông yêu bằng mắt” phụ nữ giàu tình cảm nên dễ xiêu lòng khi nghe
những lời âu yếm, ngọt ngào, còn nam giới thường bị hấp dẫn trước hết bởi sắc
đẹp, hình vẻ bên ngoài của phụ nữ.
Từ những đặc điểm khác biệt này mà hai giới bổ sung cho nhau, hòa quyện
vào nhau để tạo thành một thế giới. Giá trị của cộng đồng giới nữ hay giới nam
phụ thuộc vào vị trí, vai trò của giới đối với nền sản xuất và quyền lực của xã
hội. Bởi vậy mà chủ nghĩa nữ quyền ra đời.
Theo dòng lịch sử văn học, hình tượng nhân vật nữ được rất nhiều tác giả
quan tâm. Ở Việt Nam, nhân vật nữ xuất hiện từ văn học trung đại đến văn học
hiện đại với nhiều tên tuổi nổi tiếng như: Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Du, Đoàn Thị Điểm, Thạch Lam, Nam Cao… Các tác giả đã thể hiện sự bênh
vực, cảm thông chia sẽ với người phụ nữ trước thế lực của xã hội phong kiến,
một xã hội trọng nam khinh nữ để lại bao thiệt thòi cho họ. Trên diễn đàn văn
được đổi thành Sydney năm 1898. Thời thơ ấu của O’Henry trải qua trong suốt
thời kì cay đắng của Nội chiến và tái chiến đất nước. Vậy nên sau này, các tác
phẩm của ông bao giờ cũng chạm đến giai đoạn khó khăn của xã hội.
Sinh trưởng trong một gia đình không giàu có nhưng được ngưỡng mộ bởi
dòng họ có tri thức, có nhiều đóng góp nhân đạo cho xã hội. Cha O’Henry là
Angơnon Sitny Potơ một bác sĩ nổi tiếng ở quận Guifox, ông bà nội là Đavit và
Onixo, những người đã thành lập bệnh viện đa khoa đầu tiên vào năm 1820 tại
bang Bắc Carôlina.
Mẹ của O.Henry là bà Mary Jan Vơginia Wât, con gái của chủ bút tờ báo
Ái quốc ở Grinsboro. Bà có khả năng am hiểu, thưởng thức và đam mê nghệ
thuật. Chính bà đã truyền sang con trai, bản tính rụt rè và xấu hổ.
Khi Uy lên 3 tuổi (tên gọi thân mật của Uyliam S. Poto) thì cơn khủng
hoảng bóng đen đã ngả xuống gia đình Uy bởi nhiều sự mất mát vô bờ bến mà
nguyên nhân là do chiến tranh. Mẹ mất sau khi sinh em được sáu tháng. Không
lâu sau đứa bé ấy cũng qua đời. Tình thần của bố Uy suy sụp, mọi khát vọng của
bác sĩ hiền lành đã tan thành mây khói. Rồi ông rút lui vào cuộc sống cô độc,
cách li. Vì vậy mà kí ức sớm nhất của Uy về cha mình đấy là một người đánh
mất hết khát vọng sống và chỉ vài năm sau ông ông uống rượu, ngủ gà, ngủ gật
và qua đời. Đứa trẻ tội nghiệp như Uy lại phải mất mát về tình yêu thương và
giáo dục của cha mẹ.
13
Sau đó, O.Henry được gửi đến ăn học ở một trường mà do cô ruột là
Evelina quản lí, đây là một người phụ nữ bản lĩnh và cương nghị. Và đây cũng là
quá trình giáo dục duy nhất ông được tiếp nhận. Năm mười lăm tuổi, O’Henry
buộc phải rời trường và tự kiếm sống, ông làm mọi việc có thể bán thuốc, viết
lách, kế toán, thư kí, dạy học…
Uy có rất nhiều đam mê, mà ở đam mê nào Uy cũng tỏ ra rất sành sỏi và
Năm 1984 ông bị tố cáo “Biển thủ công quỹ ngân hàng”. Mặc dù bạn bè,
người thân của ông tin là vô tội. Nhưng trong sự khủng hoảng về tài chính nên
ông không chứng minh được mình là người vô tội. O’Henry trốn sang Nam Mỹ.
Chỉ trở về khi vợ hấp hối vào năm 1897. Sau đó, ông bị kết án năm năm tù giam.
Trong tù ông làm dược tá cho bệnh viện nhà tù, thái độ ân cần với những bạn tù
xung quanh cộng với khiến thức y học đã khiến cho mọi người cảm phục, yêu
mến ông. Do vậy, nhà tù đã ban cho Uy đặc ân là thầy thuốc ban đêm của tù nhân
và tạo điều kiện để Uy tiếp tục sáng tác.
Qua những bức thư Uy gửi cho bố mẹ vợ chúng ta thấy hiện thực trong nhà
tù nước Mỹ thật kinh hoàng, bi đát. Ngày nào cũng có người chết, họ tự cắt cổ, treo
cổ, tự vẫn bằng ga hay bất cứ phương tiện nào kiếm được.Tù nhân đánh đập nhau,
thức ăn thường ôi thiu, khẩu phần ăn không đủ no. Uy can đảm chịu đựng vượt qua.
Những con người và thế giới ngục tù cùng với những trải nghiệm đã nếm trên
trường đời là những khuôn hình sinh động và là kho tư liệu vô giá để ông đưa vào
các tác phẩm của mình.
Năm 1901 ông ra tù sớm hơn thời hạn vì thái độ cải tạo tốt. Ông đến New York
kiếm sống bằng cách viết truyện cho nhiều tạp chí nổi tiếng và trở nên lừng danh với
hàng trăm truyện ngắn in dưới bút danh O’Henry (lấy tên của người cai ngục).
Ba năm trước khi mất, ông cưới cô bạn từng là người yêu thời trẻ. Nhưng
cuộc hôn nhân ấy cũng sớm tan vỡ. Ông cô độc tránh xa mọi người. Và tâm hồn
nhạy cảm là nhân tố khoét sâu thêm những bế tắc trong ông. Ông lao vào con
đường nghiện ngập rượu chè.
Năm 1910 Ông mất ở New York City vào ngày 05/06 với một cơn đau
tim. O’Henry đến với cuộc đời trong sự côi cút và giây phút trước khi rơi vào
hôn mê cũng không có người thân bên cạnh. Magaret, cô con gái mà ông hết lòng
yêu thương thì ở xa, chưa về kịp. Ngay cả Sara vợ ông cũng không đến kịp lúc
ông còn tỉnh táo. Cuộc đời của ông, vì thế là cả chuỗi cô độc tiếp nối. Cuộc sống
của O’Henry có thể có bi quan nhưng tác phẩm của ông đa số tràn đầy cảm hứng
lạc quan về con người, về cuộc đời. Chính cuộc đời với tuổi thơ mồ côi, mặc cảm
chiêm nghiệm – một kiểu truyện ngắn riêng biệt hoặc khác đi là kiểu truyện ngắn
thịnh vượng lên nhờ ảnh hưởng của ông. Mười bốn truyện trong tù ấy cho thấy
gần đủ phong cách O’Henry”[3;225]. Ngay từ khi sáng tác ông đã cho độc giả
16
thấy được tài năng viết lách của mình. Sự nghiệp của ông còn vang xa hơn nữa
khi thế kỉ XX chào đón con người tự do – nhà văn O’Henry.
Sau tập truyện ngắn đầu tay có tên là “Lũ cắp vặt và những ông hoàng”
(Cabbages and Kings) in năm 1904. Tiếp theo có mười ba tập truyên ngắn ra đời.
Trong đó có những tập truyện nổi tiếng như:
- Bốn triệu ( The four millions - 1906).
- Trái tim miền Tây (Heart of the Wets – 1907)
- Tiếng nói thị thành (Voice of the city - 1908).
- Đường định mệnh (Roads of the wise men - 1909).
- Công việc nghiêm khắc (Strictli business - 1910).
- Sáu và bảy (Six and seven - 1911).
- Đá lăn (Rolling stones - 1912)
- Trẻ bơ vơ (Waifs and Strais - 1917).
- Tổng tập O’Henry (The complete work of O’Henry - 1953)
Đỉnh cao sự nghiệp của O’Henry được thể hiện qua các tác phẩm. Qùa tặng
của thầy pháp, Căn phòng có đồ sẵn cho thuê, Tên cớm và bản thánh ca, Câu
chuyện chưa kết thúc… mảng truyện này đề cập đến thân phận của người dưới đáy
xã hội. Qua những truyện này O’Henry đã gửi đến những góc xa nhất của thế giới
thông điệp nhân đạo về những người thấp cổ, bé miệng vô danh ở Mỹ. Những
truyện này đưa đến danh hiệu – nhà văn của những kẻ “lừa đảo lương thiện”.
Trong truyện ngắn của O’Henry người ta có thể tìm thấy những nhân vật
làm các nghề mà chính tác giả đã trải qua, có: chủ cửa hiệu, nhân viên bán hàng,
ký giả, họa sĩ, bác sĩ, diễn viên sân khấu, thợ cắt tóc, cảnh sát, thanh tra, dân đi
tiếng lóng, tiếng địa phương, bậc thầy của cái nhìn sâu sắc vào bản chất cuộc
sống…sự kết hợp kỉ thuật tuyệt vời với sự khôn ngoan khác thường, độc đáo với
sự hài hước tuyệt mỹ và sức sáng tạo bền vững là trường hợp hiếm thấy đến mức
độc giả bị cuốn hút ngay lập tức, không thể cưỡng”[3;237].
Nhà phê bình gia Leacock nói “toàn bộ thế giới nói tiếng Anh sẽ nhận ra
O’Henry là một trong những bậc thầy nổi tiếng nhất của văn học hiện đại”
[3;242]. Đúng vậy, O’Henry xứng đáng là bậc thầy bởi phong cách sáng tác và
nghệ thuật sắp xếp, sử dụng ngôn từ của ông. Raun Narcy ca ngợi kiểu “văn
phong linh hoạt, sự thông minh kết hợp với cái nhìn hài hước-châm biếm”
[3;244] ở O’Henry và khẳng định “ông ta thống trị nhân vật của mình hơn là
chịu đựng họ”.
Điểm đặc sắc trong truyện ngắn của O’Henry là những tình tiết ngẫu nhiên,
có lúc khắc nghiệt hoặc oái oăm hoặc mĩa mai, nhiều lúc khôi hài hoặc dở khóc
dở cười, để rồi kết thúc trong bất ngờ làm người đọc bâng khuâng, thích thú.
18
Ông còn là bậc thầy của những cái kết bất ngờ với nhiều biến thái khác
nhau. Có ngờ đảo ngược tình thế, bất ngờ liên tưởng, bất ngờ mở nút kép. Đọc
truyện ngắn của ông ta khó lường trước được kết cục. Với phương châm “giấu kỹ
bầy nhanh”, mãi đến đoạn cuối độc giả mới nhận ra điều tác giả muốn nói.
Ngoài ra, O’Henry còn nổi tiếng với việc xây dựng kết cấu cốt truyện cổ
điển với những cốt truyện li kì, hấp dẫn. Kết thúc truyện của ông thường có hậu,
gần giống với truyện cổ tích. Truyện của O’Henry được đưa vào chương trình
giảng dạy ở Mỹ và cả ở Việt Nam, được các giáo sư phân tích để rèn luyện các kĩ
năng viết cho học sinh. Điều này cho thấy tính mẫu mực từ tác phẩm của ông.
Người ta còn xếp truyện của O’Henry vào dạng “cổ điển đương đại”, như những
giá trị đã trở thành khuôn mẫu.
O’Henry còn là bậc thầy truyện ngắn khi để độc giả đứng trước một bài toán
ngắn của mình. Ông không tự tạo ra danh tiếng, mà danh tiếng tự đến với ông.
Chừng nào con người còn biết cảm xúc, biết rung động, chừng ấy người ta còn
tìm đọc và tôn vinh ông.
20