Lời mở đầu
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội NSNN đã trở
thành công cụ điều chỉnh vĩ mô cực kỳ quan trọng. Muốn sử dụng tốt công
cụ này phải đổi mới nội dung của nó. Đổi mới NSNN không chỉ liên quan
tới việc hoạt động thu chi Nhà nước mà còn gắn liền với việc đổi mới cơ
chế cung cấp ngân sách các cơ cấu cân đối ngân sách và đổi mới quy trình
ngân sách. Những vấn đề trên có liên quan chặt chẽ với nhau, đòi hỏi phải
đổi mới đồng bộ và nhất quán. Với Luật NSNN Bộ Luật đầu tiên về ngân
sách ngân sách của nước ta được Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 20/3/1996 nền tài chính Nhà nước đã có một
bước tiến mới. Điểm nổi bật trong Luật NSNN là xác định một cơ chế mới
trong công tác chấp hành ngân sách trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của
cơ chế cũ và đổi mới những điểm bất cập cho phù hợp với tình hình mới.
Sau năm năm thực hiện Luật NSNN trên địa bàn cả nước những cơ chế mới
đó có phát huy được tính tích cực hay không những điểm nào vẫn chưa phù
hợp với thực tế, những nguyên nhân và hướng khắc phục - đó là những vấn
đề mà em muốn đề cập tới trong Luận Văn tốt nghiệp này với đề tài :
"Một số vấn đề về công tác chấp hành ngân sách Nhà nước trên
địa bàn cả nước sau năm năm thực hiện Luật NSNN ".
Để hoàn thành bản Luận Văn này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của Thầy giáo Phạm Văn Khoan cùng các cô chú trong Phòng Quản lý
ngân sách -Vụ ngân sách - Bộ Tài chính. Tuy nhiên do điều kiện có hạn nên
bản Luận Văn này không thể tránh khỏi những khiếm khuyết rất mong được
sự tham gia góp ý của các thầy, cô và những người quan tâm đến vấn đề
này
1
Chương1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về
ngân sách nhà nước
là một năm.
ở nước ta luật ngân sách được quốc hội thông qua ngày 20/3/1996
trong đó điều một qui định : “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của
nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của nhà nước”.
Các quan niệm trên đây đều đã nêu ra được mặt vật chất của NSNN,
đã tách ra được những thuộc tính làm cho người ta không nhầm lẫn giữa
khái niệm NSNN với khái niệm khác .Đó là nếu chỉ nhìn bề ngoài thì các
biểu hiện của NSNN rất đa dạng phong phú, nó là bảng tổng hợp mọi
khoản thu, chi Tài chính nhà nước; là sự động viên các nguồn tài chính
nhà nước vào trong tay Nhà nước dưới hình thức thuế ,phí ,lệ phí.Nó là
khoản chi tiêu của Nhà nước cho nhu cầu an ninh, quốc phòng ,giáo
dục , y tế
Trong qúa trình nhận thức về NSNN, ngoài việc xem xét các khái
niệm, chúng ta cần nghiên cứu thêm một số vấn đề khác có liên quan đến
NSNN.Những vấn đề đó đã được trình bày trong luật NSNN năm 1996
như sau:
3
-NSNN được tổ chức thành một hệ thống trong đó bao gồm ngân sách
trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương( gọi chung là
ngân sách địa phương)
-NSNN được thực hiện theo từng năm và được gọi là năm ngân
sách.Năm ngân sách được bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào
ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
- Chu trình ngân sách là toàn bộ các quá trình hoạt động kể từ lúc hình
thành ngân sách cho đến lúc tổng kết chuyển sang năm ngân sách
-Quyền lực về NSNN thuộc về nhà nước.Mọi khoản thu và chi tài
chính của nhà nước đều do Nhà nước quyết định và nhằm mục đích
phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Những nội dung trên là những mặt những mối liên hệ quyết định
đến sự phát sinh, phát triển của NSNN. Do đó có thể đi đến kết luận
về bản chất của NSNN như sau:
NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội
phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài
chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều
hành nền kinh tế - xã hội của mình.
1.1.3Chức năng của NSNN
-Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự toán
của nhà nước.
Khi nhà nước ra đời cần phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho mục
đích bảo vệ sự tồn tại ngày càng vững chắc của mình, đó là các khoản chi
cho bộ máy quản lý của nhà nước, cho cảnh sát và quân đội.Tiếp đến là
5
các nhu cầu chi khác nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước như chi
cho các nhu câù văn hoá , giáo dục , y tế, phúc lợi xã hội, trợ cấp xã hội ,
chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, hệ thống kết cấu hạ tầng, chi phát triển
sản xuất...Tất cả các nhu cầu chi tiêu tài chính của nhà nước đều được
đảm bảo thực hiện thông qua nguồn thu của ngân sách nhà nước.
-Thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi bằng tiền của Nhà
nước.Bắt buộc mỗi khoản chi phải theo dự toán, mỗi khoản thu phải tuân
theo luật định.
1.1.4.Vai trò của NSNN
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng nhiệm vụ của
chuyển sang cơ chế mới hợp lý hơn.
Bên cạnh đó , việc sử dụng NSNN thông qua các nguồn hình thành của
nó cũng có ý nghĩa rất lớn.Các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo
vai trò định hướng đầu tư , kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
+ Về mặt xã hội :
Việc sử dụng NSNN cũng quyết định tới sự thành công trong việc thực
hiện các chính sách xã hội của nhà nước.Để giải quyết các vấn đề xã
hội ,Nhà nước cũng sử dụng công cụ thuế, chẳng hạn thuế thu nhập và
thuế lợi tức có vai trò quan trọng nhằm điều tiết thu nhập cao, phân phối
lại cho các đối tượng có thu nhập thấp.Các loại thuế gián thu ngoài mục
đích trên còn có tác dụng hướng dẫn người tiêu dùng hợp lý.Tuy nhiên
trong nhiều trường hợp các giải pháp trên lại có tác dụng ngược lại , tức là
làm cho vấn đề xã hội thêm căng thẳng và gay gắt,chẳng hạn kinh phí của
NSNN được cấp phát cho trợ giá điện ,xăng dầu , truyền hình thi những
7
đối tượng được hưởng không phải là người nghèo mà là những người có
thu nhập trung bình hoặc thu nhập cao.Cho nên khi sử dụng các công cụ
ngân sách vào giải quyết các vấn đề xã hội đòi hỏi phải được nghiên cứu
đầy đủ,phải có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp.
+Về mặt thị trường
NSNN có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về
bình ổn giá cả,thị trường và chống lạm phát.Bằng công cụ thuế và chính
sách chi ngân sách, Nhà nước có thể chủ động điều chỉnh giá cả, thị
trường.Trong cơ chế thị trường,giá cả phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và
các yếu tố khác.Sẽ có lúc giá cả lên quá cao và có lúc giá cả xuống quá
thấp,để bảo đảm cho quyền lợi người tiêu dùng và kích thích sản suất ,nhà
nước phải có nguồn tài chính, hàng hoá dự trữ để điều chỉnh, nguồn dự trữ
thể về thu ngân sách,tổ chức và cơ chế tiến hành thu ngân sách.
1.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:
Thu NSNN có một số đặc điểm chủ yếu như sau:
Thu của NSNN được lấy từ nhiều nguồn khác nhau,cả trong nước và
ngoài nước; cả sản xuất lưu thông , phân phối ,tiêu dùng nhưng chủ yếu
vẫn là từ thu nhập quốc dân.Tăng thu nhập quốc dân là cơ sở để tăng thu
ngân sách và tăng thu ngân sách cũng phảI có những tác động để tăng thu
nhập quốc dân.Thu NSNN được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
nhưng trong đó thuế là hình thức thu phổ biến nhất và quan trọng nhất.
- Xét về mặt định lượng, thu NSNN luôn gắn với thực trạng kinh tế ,
khi nền kinh tế phát triển, nguồn thu trong xã hội dồi dào thì thu
9
NSNN sẽ thực hiện dễ dàng và tăng lên.Ngược lại , thu NSNN sẽ
gặp khó khăn nếu như nền kinh tế lâm vào khủng hoảng.Tăng thu
nhập quốc dân là cơ sở để tăng thu ngân sách và tăng thu ngân sách
cũng phải có đủ những tác động để kích thích tăng thu nhập quốc
dân.
Xét về mặt định tính, thu NSNN luôn gắn liền với quyền lực chính trị của
nhà nước,nó thể hiện tính cưỡng chế bằng luật lệ do nhà nước qui
định.Trong thực tế các khoản thu từ thuế phí lệ phí là những khoản thu chủ
yếu cho NSNN đều được Nhà nước qui định thành luật và buộc mọi người
phải chấp hành. Nói cách khác, thu của NSNN là sự biểu hiện kết quả của
việc xử lý mối quan hệ lợi ích giữa một bên là Nhà nước và một bên là các
chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Trong thực tiễn việc giải quyết mối quan
hệ này hết sức phức tạp, không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà đòi hỏi cả nghệ
thuật của Nhà nước. Nếu xử lý không đúng đắn mối quan hệ này thì không
chỉ ảnh hưởng tới thu của NSNN hiện tại mà còn ảnh hưởng không nhỏ
+ Nguồn thu tiềm năng: chưa biểu hiện dưới dạng tiền tệ nhưng có khả
năng chuyển hoá thành tiền như tài nguyên, khoáng sản.
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý điều hành ngân sách thì các khoản thu
NSNN được chia làm 2 loại:
+ Thu trong cân đối ngân sách: khoản thu này tương đối ổn định và
mang tính chất thường xuyên, có cơ sở ổn định vững chắc để đảm bảo
cho NSNN, bao gồm: thu về thuế, phí, lệ phí, thu từ tài sản của Nhà
nước và thu khác.
11
+ Thu ngoài cân đối ngân sách: để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN bao
gồm vay trong nước và vay ngoài nước.
Sau khi xem xét việc phân loại thu của NSNN, ta cần lưu ý một điểm
sau đây: Tổng số thu của NSNN (còn gọi là số tiền mà Nhà nước huy động
được vào NSNN) mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp
cho đối tượng nộp gọi là thu nhập của NSNN. Với quan niệm như vậy thì
thu nhập của NSNN không bao gồm các khoản vay nợ của Nhà nước.
Thu nhập của NSNN có ý nghĩa rất quan trọng, nó phản ánh đúng số
thực thu của Nhà nước; thể hiện chính xác số bội chi và tỷ lệ bội chi, tránh
sự nhầm lẫn giữa thực tế thu của NSNN và số Nhà nước phải đi vay để chi.
13 CHI NSNN
1.3.1.Khái niệm chi NSNN:
Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân phối, sử dụng khối lượng tiền tệ
đã tập trung thông qua thu của NSNN để duy trì sự tồn tại và hoạt động
bình thường của bộ máy Nhà nước và để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, xã hội của Nhà nước.
Chi của NSNN bao gồm: các khoản chi phat triển kinh tế xã hội, đảm
bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả
ngang giá, ví dụ chi để mua hàng hoá dịch vụ, thiết bị là những khoản chi
mang tính chất ngang giá. Còn chi trợ cấp, trợ giá, bảo hiểm xã hội là
những khoản chi có tính chất không ngang giá.
Chi của NSNN còn gắn liền với sự vận động của các phạm trù thuộc lĩnh
vực tiền tệ như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá.Chính vì vậy trong Luật
13
NSNN cho phép các cấp điều chỉnh dự toán ngân sách trong những trường
hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.
13.3 Phân loại chi NSNN:
-
Căn cứ vào lĩnh vực chi thì chi NSNN được chia thành:
+ Chi đầu tư phát triển kinh tế
+ Chi y tế
+ Chi giáo dục
+ Chi quản lý Nhà nước
+ Chi an ninh quốc phòng
+ Chi viện trợ, trả nợ, cho vay
- Căn cứ theo đối tượng trực tiếp của các khoản chi:
+ Các khoản chi cho nhân viên (lương, trợ cấp, một số khoản có tính
chất lương)
+ Chi về mua sắm vật liệu dụng cụ cho cơ quan quản lý Nhà nước
+ Chi cho công tác xây dựng
+ Chi về các loại trợ cấp, các khoản chi mang tính chất tài trợ và
hoàn trả nợ vay của Nhà nước.
- Căn cứ theo yếu tố thời gian có:
20/03/1996. Việc ra đời và triển khai thực hiện Luật NSNN đánh dấu một
bước ngoặt quan trọng trong công cuộc hoàn thiện nền tài chính quốc gia và
xây dựng một Nhà nước pháp quyền.
15
Luật NSNN bao gồm 8 chương với 82 điều trong đó quy định về việc
lập, chấp hành, quyết toán, kiểm tra NSNN và về nhiệm vụ , quyền hạn của
cơ quan Nhà nước các cấp trong lĩnh vực NSNN.
Luật NSNN ra đời để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây
dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỹ thuật tài chính, sử dụng tiết kiệm có
hiệu quả tiền của của Nhà nước, tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh,
đối ngoại.
1.4.2Công tác chấp hành ngân sách sau khi có Luật NSNN
Một trong những điểm nổi bật của Luật NSNN là đã xác định được quy
trình chấp hành ngân sách mới, phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản
lý tài chính Nhà nước. Có thể điểm qua một số nết mới của công tác chấp
hành ngân sách được quy định trong Luật NSNN năm 1996 như sau:
- Về công tác phân bổ dự toán:
Sau khi được Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao kế hoạch ngân sách, các
cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương có trách nhiệm phân bổ dự
toán được giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, đảm bảo đúng với dự
toán ngân sách được giao cả về tổng mức và chi tiết. Đồng thời, kết quả
phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải gửi cơ
quan Tài chính cùng cấp và Kho bạc nơi giao dịch để theo dõi cấp phát và
quản lý.
Ngoài cơ quan giao ngân sách không một tổ chức hoặc cá nhân nào
17
Mọi khoản thu chi cua NSNN đều được thực hiện theo nguyên tắc thanh
toán trực tiếp từ Kho bạc nhà nước.
- Về kiểm tra công tác chấp hành NSNN:
Các đơn vị sử dụng NSNN có nhiệm vụ báo cáo định kỳ tình hình thực
hiện chi NSNN gửi cho cơ quan Tài chính theo quy định của pháp luật. Tất
cả các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước, chịu sự kiểm tra của cơ quan Tài chính và Kho bạc trong quá trình
cấp phát thanh toán, sử dụng kinh phí.
Trong quá trình chấp hành NSNN, nếu có sự thay đổi về thu, chỉ thị Chính
phủ sẽ điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các cơ quan Trung ương,
Uỷ ban nhân dân các cấp điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các cấp
trực thuộc.
Chương 2 : Công tác chấp hành Ngân sách trên cả nước sau năm
năm thực hiện luật ngân sách
(1997-2001)
2.1.Tổng quan về tình hình kinh tế
Trong năm 2001 bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nền kinh tế Việt
nam phải đương đầu với những khó khăn: Kinh tế thế giới tiếp tục trì trệ,
giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm mạnh, thiên tai ở miền Trung và Nam
bộ. Những khó khăn đó đã tác động đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu
kinh tế xã hội của đất nước so với dự kiến đầu năm.
Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế năm 2001
18
vụ
- Tốc độ tăng xuất khẩu
- Chỉ số giá cả
- Vốn đầu t toàn xã hội so GDP
- Bội chi NSNN so GDP
(Nguồn số liệu: Vụ ngân sách)
16%
vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện các chương trình xoá đói
giảm nghèo; tăng dự trữ tài chính ở cả trung ương và 61 tỉnh, thành phố;
đảm bảo dự phòng xử lý những nhiệm vụ quan trọng đột xuất phát sinh, chi
phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai.Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả
20
nợ đến hạn và đã cơ bản cơ cấu lại các khoản nợ ngoài nước.Dư nợ chính
phủ , dư nợ quốc gia ở mức hợp lý, góp phần tạo ổn định kinh tế vĩ mô.
Việc quản lý ngân sách đã dần đi vào nề nếp ,chủ động hơn, hiệu quả
hơn.Cụ thể là:
o
Đã bước đầu phân định trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức trong lĩnh vực ngân sách như: Quyền quyết định dự
toán ngân sách nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước của
quốc hội và Hội đồng nhân dân; quyền quản lý và điều hành ngân sách nhà
nước của chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp;quyền hạn trách nhiệm của
cơ quan tài chính, các cơ quan , đơn vị sử dụng ngân sách.
o
Việc cân đối ngân sách nhà nớc được thực hiện theo nguyên
tắc tích cực hơn ,đảm bảo thu lớn hơn chi thường xuyên và trả nợ ; chỉ bội
chi cho đầu tư phát triển và được kiểm soát chặt chẽ.
o
Quy định cụ thể về dự phòng ngân sách,dự trữ tài chính để
cùng với việc thực hiện các quy định kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua
hệ thống kho bạc nhà nước đã từng bước góp phần quản lý chi tiêu có hiệu
quả, tiết kiệm , hạn chế các khoản chi sai chế độ chính sách.
o
Công tác kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước đã dần đi
vào nề nếp. Công tác công khai ngân sách bước đầu đạt được kết quả ở
nhiều Bộ , cơ quan trung ương và địa phương, góp phẩn thúc đâỷ sử dụng
ngân sách tiết kiệm, hạn chế tiêu cực lãng phí.
Năm 2001 nền kinh tế nước ta phải đương đầu với những khó khăn rất
lớn; kinh tế toàn cầu tăng trởng thấp và tiếp tục trì trệ; trong nước, tình hình
sản xuất kinh doanh còn khó khăn: chất lượng tăng trưởng thấp, chưa vững
chắc, năng lực cạnh tranh của sản phẩm còn yếu, thị trường bị thu hẹp, giá
cả hàng hóa xuất khẩu, nhất là nông sản giảm mạnh, thiên tai lớn xảy ra ở
nhiều địa phương. Điều đó đã tác động nhất định đến kết quả thực hiện
ngân sách Nhà nước năm 2001. Mặt khác, năm 2001 tuy tăng trưởng kinh tế
không đạt chỉ tiêu như Nghị quyết của Quốc hội (7,5%), Nhà nớc đã thực
hiện nhiều chính sách tác động đến thu ngân sách Nhà nước (NSNN) như
22
cắt giảm thuế quan theo tiến trình hội nhập, miễn giảm thuế sử dụng đất
nông nghiệp ở diện rộng..., nhưng tổng thu và hầu hết các chỉ tiêu về thu
NSNN trong từng lĩnh vực cụ thể đều đạt và vượt dự toán ở mức cao.Trên
cơ sở thực hiện 10 tháng, ước tổng thu trong cân đối NSNN năm 2001 vượt
13% so với dự toán, tăng 7,4% so với số thực hiện năm 2000.
Để đạt được kết quả đó, Chính phủ đã tổ chức triển khai thực hiện dự
và thu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu năm 2001 chiếm 46,8% tổng thu
NSNN). Mặt khác, từ đầu tháng 10 đến nay giá xuất khẩu dầu thô đang có
xu hướng giảm thấp; vì vậy cần bám sát diễn biến tình hình để tích cực điều
hành NSNN, tránh bị động trong những tháng cuối năm. Không riêng gì thu
từ dầu thô, theo kết quả thực hiện thu NSNN 10 tháng và ước tính cho cả
năm 2001 này thì các lĩnh vực khác cũng đạt mức vượt dự toán. Như thu
nội địa ước tính vượt 9,9%, thu từ hoạt động XNK vượt 9,4%, các khoản
thu quan trọng cũng đều đạt và vượt dự toán. Các tỉnh, thành phố đều thu
đạt và vượt dự toán giao, trong đó có nhiều địa phương có nguồn thu lớn, ước vượt trên 10% như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng,
Bình Dương, Đồng Nai, Cần thơ, Long An, Vĩnh Long.v.v. Hơn nữa như
tôi đã nói ở trên, trong quá trình chỉ đạo, điều hành, Chính phủ đã đề ra
nhiều giải pháp quan trọng để khuyến khích sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu,
tạo thêm vốn và việc làm như: bổ sung vốn đầu tư đối với các công trình
quan trọng để hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm, nhất là các công trình
phục vụ nông nghiệp, nông thôn; tăng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp sản
24
xuất những sản phẩm trọng điểm và xuất khẩu; hỗ trợ giống cây trồng, vật
nuôi; miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; bù lãi suất tạm trữ gạo và cà
phê; thưởng khuyến khích xuất khẩu cho một số mặt hàng quan trọng... Các
giải pháp kịp thời của Chính phủ cộng với sự tích cực chủ động của các Bộ,
địa phương, đã hỗ trợ sản xuất phát triển và tạo điều kiện tăng nguồn thu
cho ngân sách.
Thêm vào đó một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá, từ đó dẫn tới kết
quả hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN được giao. ở đây cũng phải
nói tới những nỗ lực của ngành Tài chính. Trong công tác chỉ đạo đối với
hoạt động tài chính - NSNN cũng đã tập trung phát huy nội lực, ưu tiên đầu
tư cho những nhiệm vụ quan trọng, từng bước cơ cấu lại ngân sách, thực