Lời mở đầu
Đầu tư là một hoạt động kinh tế chủ yếu quyết định sự tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói
riêng. Xu hướng phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay là đầu tư theo
dự án. Như vậy, dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt với sự
nghiệp phát triển kinh tế nói chung và đối với từng doanh nghiệp
nói riêng. Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
việc dự án đầu tư được thực hiện có hiệu quả hay không. Đến lượt
mình, chất lượng thực hiện dự án đầu tư lại phụ thuộc vào chất
lượng thẩm định nhất là chất lượng thẩm định tài chính .
Nhận thức được điều đó, trong quá trình thẩm định dự án
trước khi quyết định đầu tư , Tổng công ty xây dựng Hà Nội đã chú
trọng tới khía cạnh tài chính của dự án bởi nếu không thực sự
nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án thì không thể đo
lường được hiệu quả trong xây lắp, trong việc đa dạng hoá sản
xuất kinh doanh và hiệu quả thực hiện dự án không được đảm
bảo theo chiến lược phát triển của Tổng công ty . Tuy nhiên,
trong công tác này hiện nay Tổng công ty đang gặp không ít khó
khăn, chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư vì thế chưa cao,
đặc biệt đối với dự án đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh xây dựng .
Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư đang là vấn
1
đề được Tổng công ty rất quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả của dự
án.
Trong thời gian thực tập tại Tổng công ty, với mong muốn
góp phần tìm kiếm giải pháp cho vấn đề trên, em đã lựa chọn đề tài
cho luận văn tốt nghiệp
Tên đề tài:
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các bước thiết lập dự án đầu tư của
doanh nghiệp
“ Hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài
chính , lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất
khác nhằm trực tiếp hay gián tiếp sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng các cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế nói chung, của
địa phương , của ngành , của các cơ sở sản xuất kinh doanh , dịch
vụ , các cơ quan quản lí nhà nước và xã hội nói riêng. “
Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư , đặc điểm và sự phức
tạp về mặt kĩ thuật , hậu quả và hiệu quả tài chính , kinh tế-xã hội
của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư
phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Có nghĩa là mọi công
cuộc đầu tư phải thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong
muốn.
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ . Theo
nghị định 177/CP ngày 20/10/1994 qui định : “ Dự án đầu tư là
tập hợp đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng hoặc cải
4
tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt sự tăng trưởng về số
lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ
nào đó trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy , dù xét theo một góc độ nào , dự án đầu tư đều có
những đặc điểm cơ bản sau:
- Mục tiêu của dự án đầu tư: Đó là những mục tiêu chính cần đạt
được thông qua việc thực hiện dự án đầu tư, đó là những kết
quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhà đầu tư và xã hội.
- Các kết quả : Đó là những kết quả cụ thể , có thể định lượng ,
được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án.
tiếp, vốn đầu tư trực tiếp.)
Trong thực tế, dự án đầu tư còn được phân chia theo nhiều tiêu
thức để đáp ứng các yêu cầu khác nhau nhưng dù đựoc phân chia
như thế nào thì bản chất đó cũng là một sự chuẩn bị cẩn thận và
nghiêm túc cho hoạt động đầu tư, nó đóng vai trò quan trọng đối
với mọi chủ thể đầu tư : Nhà nước, doanh nghiệp hay các thể chế
tài chính.
Một dự án đầu tư khi bắt đầu tiến hành đến khi kết thúc thường
phải trải qua ba giai đoạn:
• Giai đoạn tiền đầu tư: Đây là quá trình chuẩn bị cho dự án
đầu tư bao gồm các hoạt động chính:
6
- Nghiên cứu cơ hội đầu tư: Sản phẩm của bước này là báo
cáo kinh tế kĩ thuật về cơ hội đầu tư.
- Nghiên cứu tiền khả thi : Đây là bước sơ bộ lựa chọn khả
năng đầu tư chủ yếu từ cơ hội đầu tư. Lựa chọn này dựa
trên một số tiêu chuẩn sau :
Dự án phải phù hợp với chính sách phát triển của Đảng và
Nhà nước.
Sản phẩm của dự án có thị trường tiêu thụ và khả năng
cạnh tranh.
Khả thi về mặt tài chính .
Phù hợp về khả năng tài chính của chủ đầu tư.
- Nghiên cứu và xây dựng dự án khả thi : Sản phẩm của bước
này là luận chứng kinh tế kĩ thuật.
- Thẩm định và ra quyết định đầu tư: sau bước này dự án đầu
tư hoặc bị bác bỏ hoặc được tiến hành đầu tư.
nhiệm vụ các cơ sở phải giao nộp sản phẩm và chỉ tiêu pháp lệnh
đã ban hành. Với mô hình này , doanh nghiệp thường chờ đợi , ỷ lại
vào Nhà nuớc , thiếu năng động , sáng tạo thiếu trách nhiệm trước
kết quả sản xuất - kinh doanh của mình. Chính mô hình kinh tế này
8
đã làm cho các doanh nghiệp Việt nam không phát triển lên được ,
hoạt động thường xuyên lỗ , không quan tâm dến việc cải tiến kĩ
thuật công nghệ mà chỉ dựa dẫm hoàn toàn vào Nhà nước.
Sau đại hội đảng thứ VI , Nhà nước đã thực hiện quỳên giao
vốn cho các doanh nghiệp và các doanh nghiệp đã thực hiện nhiệm
vụ nhận và sử dụng có hiệu quả, hạch toán kinh doanh độc lập ,
chịu trách nhiệm trước hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã phải thay đổi tư duy và nếp nghĩ
truyền thống , ỷ lại để chuyển hướng sang hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Như đã khẳng định ngay ở trên, doanh nghiệp phải tính toán
khả năng sản xuất của nền kinh tế và của bản thân doanh nghiệp để
lưạ chọn đầu tư vào đâu để đạt được mục tiêu mà nhà quản lí
doanh nghiệp đề ra. Nhu cầu trên thị trường thì đa dạng và phong
phú, ngày càng tăng về số lượng và chất lượng nhưng trên thực tế
nhu cầu có khả năng thanh toán lại thấp hơn vì vậy doanh nghiệp
phải sáng suốt tính toán , cân nhắc quyết định lựa chọn sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, để đứng vững và cạnh tranh thắng lợi trên thị
trường ,
các doanh nghiệp phải luôn đổi mới kĩ thuật và công nghệ , nâng
cao trình độ công nhân và quản lí nhằm tăng hàm lượng chất xám
trong hàng hoá và dịch vụ. Chất lượng hàng hoá, dịch vụ là vấn đề
9
hiện trong dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư. Có thể nói , dự
án đầu tư được soạn thảo tốt là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, là
tiền đề cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt hiệu quả mong
muốn. Trên góc độ doanh nghiệp,
doanh nghiệp phải tiến hành
xây dựng tốt dự án đầu tư, thẩm định tất cả những yếu tố liên quan
đến dự án và đặc biệt phải chú trọng vào thẩm định tài chính bởi
chất lượng thẩm định tài chính ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc vào
hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
1.1.3 Quá trình thẩm định dự án đầu tư của doanh nghiệp.
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xét duyệt một cách
khách quan có cở khoa học và toàn diện các nôị dung cơ bản ảnh
hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án, từ đó ra quyết định đầu
tư và cho phép đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư nhằm đánh giá được tính hiệu quả của dự
án thông qua việc xem xét đánh giá:
Thứ nhất, tính khả thi của dự án : Nếu tính hiệu quả của dự
án là điều kiện cần cho một dự án được thực hiện thì tính khả
thi của dự án là điều kiện đủ. Tính khả thi của dự án chủ yếu
thể hiện tính khả thi về công nghệ, về thị trường, về năng lực
quản lí, về nguyên vật liệu. Nếu các kết quả thẩm định cho
11
thấy dự án sẽ không thể huy động đủ số vốn thực tế cần dùng
(nếu khẳng định là có hiệu quả) thì không thực hiện dự án hay
hoãn thực hiện chắc chắn là cáh làm tối ưu hơn cả.
Thứ hai, tính hợp lí của dự án : Tính hợp lí của dự án thể
- Thẩm định về thị trường:
Đây là các qui trình tìm hiểu để kiểm tra tính toán về nhu cầu
thị trường, khả năng chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh. Liệu dự
án khi đưa vào thực hiện sẽ được công chúng và khách hàng quan
tâm, đón nhận như thế nào, lợi ích mà dự án đem lại cũng phụ
thuộc rất lớn vào nhu cầu thị trường trong thời điểm khai thác dự
án.
Tiếp theo là việc xem xét vùng thị trường. Nếu cần qui định
vùng thị trường cho dự án (thị trường trong nước) để đảm bảo cân
đối với các khu vực khác.
- Thẩm định về kĩ thuật:
Đó là công việc kiểm tra các phép tính toán, tính phù hợp của
công nghệ, thiết bị đối với từng dự án, đối với điều kiện Việt nam
(trình độ, khí hậu), khả năng phát triển trong tương lai, tỉ lệ phụ
tùng thay thế, điều kiện vận hành bảo trì.
13
Việc kiểm tra kĩ thuật công nghệ phải có ý kiến của chuyên
ngành kĩ thuật trên tất cả các yếu tố kể cả thẩm định các khoản chi
phí dự toán, đối chiếu với các công trình tương tự.
-Thẩm định về tài chính:
Thẩm định tài chính liên quan trực tiếp đến quyền lợi của chủ
đầu tư và một phần quyền lợi chung của đất nước và xã hội nên cần
phải xem xét kĩ về các khía cạnh như phương pháp tính toán, xác
định tổng vốn, cơ cấu vốn và độ an toàn về tài chính….
-Thẩm định về kinh tế xã hội:
Thẩm định kinh tế- xã hội là việc xác định và so sánh các
chi phí và lợi ích của dự án. ở đây lợi ích của dự án được xem xét
bằng sự đóng góp cho các mục tiêu phát triển của nền kinh tế.
phải xây dựng được một hệ thống định mức tiêu chuẩn các chỉ tiêu
thông qua việc nghiên cứu kĩ thị trường cũng như mặt bằng hàng
hoá , dịch vụ cung ứng ở thời điểm tiến hành triển khai dự án.
1.2.1.1 Thẩm định việc tính toán tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn
và tiến độ bỏ vốn :
Về cơ bản, đây là việc xem xét tính toán tổng vốn đầu tư cho
dự án có đầy đủ, chính xác và phù hợp hay không. Vốn đầu tư cho
15
dự án thường bao gồm vốn đầu tư cơ bản, vốn lưu động và các chi
phí khác.
Vốn đầu tư cơ bản là toàn bộ lượng vốn cần thiết để hoàn
thành công trình sẵn sàng đưa vào sử dụng bao gồm vốn đầu tư ,
xây lắp ; vốn đầu tư thiết bị ; chi phí chuẩn bị mặt bằng.
Vốn lưu động là toàn bộ chi phí cần thiết để khai thác và sử
dụng công trình. Vốn lưu động thường bao gồm : nguyên vật liệu,
tiền lương, phụ tùng, thành phẩm tồn kho, hàng hoá bán chịu, chi
phí đột xuất.
Việc xác định đúng chi phí khác như chi phí thành lập, chi
phí trả lãi vay có chú ý đến giá trị thời gian của tiền, chi phí dự
phòng…cũng là yếu tố rất quan trọng trong quyết định bỏ vốn đầu
tư.
Các khoản tài chính dài hạn phải trang trải đủ các chi phí đầu
tư của dự án bao gồm vốn cố định và vốn lưu động cần thiết cho
việc vận hành bình thường. Các khoản tài chính có thể huy động
dưới dạng vốn cổ phần và vốn vay dài hạn. Việc giải quyết nhu cầu
của dự án không những quyết định khả năng sinh lợi trong tương
lai mà cả những cân đối thu chi của nó. Bởi vậy, trong quá trình
đánh giá dự án, cơ cấu vốn do chủ đầu tư dự tính sẽ được xem xét
Để xác định được tổng sản phẩm dự kiến đưa vào lưu thông cần
căn cứ vào công suất thiết bị đưa vào hoạt động, chu kì của dự án,
17
thời gian đưa sản phẩm vào lưu thông, các đại lí và tiêu thụ sản
phẩm, chất lượng thành phẩm và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của
công ty.
Để xác định giá bán một đơn vị sản phẩm phải căn cứ vào gía thành
sản phẩm, giá cùng loại sản phẩm trên thị trường, các chi phí phát
sinh trong quá trình lưu thông hàng hoá để xác định một mức gía
hợp lí. Dự kiến biến động về giá của các yếu tố đầu vào, cung cầu
thị trường.
- Lợi nhuận ròng ( Dòng tiền hoạt động sau thuế )
Dòng tiền này được xác định dựa vào số chênh lệch giữa
doanh thu dự án nhận được và những chi phí đã chi tiêu. Việc tính
toán dòng tiền của một dự án đầu tư cần phải xác định những
khoản thu, chi ở thời điểm ghi nhận nó và dựa trên dòng tiền sau
thuế .
Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao.
Trong kế toán, khấu hao là một loại chi phí làm giảm giá trị
TSCĐ được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm, vì thế khấu hao được
khấu trừ vào chi phí để xác định lợi nhuận trong kì. Tuy nhiên,
khấu hao là loại chi phí không xuất quĩ nên không được tính như
một dòng tiền đi ra, khấu hao chỉ là một yếu tố của chi phí làm
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, khấu hao được coi là
một nguồn thu nhập của dự án .
- Khoản thu hồi vốn lưu động ròng
18
vốn lưu động ròng ở đây là phần vốn đầu tư vào tài sản lưu động
(các khoản phải thu và hàng tồn kho) đòi hỏi nguồn tài trợ từ bên
ngoài.
- Chi phí cơ hội :
Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp đã sở hữu sẵn một tài sản
hữu dụng cho việc thực hiện dự án, điều đó có nghĩa là, doanh
nghiệp không phải bỏ tiền ra để mua những tài sản này . Tuy nhiên
khi sử dụng tài sản này vào dự án, doanh nghiệp đã từ bỏ cơ hội
khác sử dụng tài sản đó tạo ra thu nhập .
Do vậy, giá trị thị trường của tài sản đó tại thời điểm đầu tư phải
được đưa vào chi phí đầu tư, nó phản ánh chi phí cơ hội chứ không
phải chi phí xuất quĩ.
Cần chú ý rằng khi tính toán giá trị của dòng tiền đầu tư không
được tính chi phí chìm vào dòng tiền đầu tư. Chi phí chìm là chi
phí đã xuất hiện từ trước đó mà không thể bù đắp được cho dù dự
án có được chấp nhận hay không. Ví dụ điển hình của chi phí chìm
là chi phí khảo sát địa điểm xây dựng dự án và chi phí tư vấn, thiết
kế dự án.
• Dòng tiền ròng của dự án
20
Dòng tiền ròng của dự án =
Dòng tiền vào của dự án - Dòng tiền ra của dự án.
Thông thường dòng tiền ròng của dự án có gía trị âm trong những
năm đầu dự án khi các khoản đầu tư ban đầu đã được thực hiện và
dự án chưa thu được nhiều lợi ích từ việc bán các sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ của dự án. Sau một thời gian, khi sản phẩm hàng hoá ,
dịch vụ, của dự án đã được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, dòng
tiền thu của dự án sẽ lớn hơn dòng chi phí bỏ ra và dòng tiền của
kể KH và lãi vay
Khấu hao TSCĐ
Lợi nhuận trước lãi
Năm 1
Năm n1
đầu
tư
vào
vay và thuế .
21
Năm n
8
9
10
Lãi vay
Lợi nhuận trước thuế
Thuế thu nhập doanh
11
Mục đích của thẩm định thị trường là nhằm phân tích, đánh giá
khả năng tiêu thụ sản phẩm để từ đó xác định được doanh thu dự
tính của dự án. Trong nội dung thẩm định này ta xem xét các khía
cạnh sau đây:
- Cung cầu của sản phẩm:
Đó là xem xét tình hình tiêu thụ trong thời gian qua của sản
phẩm cùng loại trên thị trường mà dự án dự kiến xâm nhập. Đồng
thời dự báo nhu cầu trong tương lai và mức độ đáp ứng của các
nguồn sản phẩm tương tự, sản phẩm thay thế. Từ cơ sở này, sẽ dự
tính được mức độ tiêu thụ của sản phẩm dự án.
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án:
Nhà đầu tư phải tìm hiểu xu hướng cạnh tranh cũng như các đối
thủ cạnh tranh chủ yếu trên thị trường. Nghiên cứu khả năng cạnh
tranh trực tiếp là
xem xét, đánh giá, so sánh sản phẩm của dự án với sản phẩm cùng
loại hiện
có trên thị trường về qui cách , chất lượng, giá cả...để thấy được ưu
thế của sản phẩm dự án.
Bên cạnh đó, nghiên cứu khả năng cạnh tranh gián tiếp là đánh
giá so sánh uy tín, kinh nghiệm của doanh nghiệp với các đối thủ
cạnh tranh trên thị trường.
23
Khi đánh giá được khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án
cùng với các quá trình nghiên cứu khác sẽ có thể dự tính được mức
tiêu thụ sản phẩm của dự án.
- Các biện pháp marketing:
Đây cũng là một yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến sức
những dự án cung cấp sản phẩm dịch vụ .
- Thẩm định về dây chuyền công nghệ và thiết bị được lựa chọn:
Trên cơ sở dây chuyền công nghệ và thiết bị cho dự án đã được
lựa chọn, nhà đầu tư sẽ tính toán được số tiền đầu tư vào trang thiết
bị và dây chuyền công nghệ.
- Thẩm định nguyên liệu cung cấp và các yếu tố đầu vào khác :
Dựa vào loại nguyên liệu và yếu tố đầu vào được cung cấp cho
dự án, nhà đầu tư sẽ tiến hành phân tích và tính toán số lượng
nguyên vật liệu tiêu dùng và dự trữ hàng năm và cũng từ đó sẽ dự
tính được dòng tiền chi mua nguyên vật liệu cho dự án.
Sau khi thẩm định các yếu tố thuộc phương diện tài chính đặc
biệt là các chỉ tiêu tài chính quan trọng để đánh giá tính khả thi
thực hiện dự án cũng như thẩm định các yếu tố thuộc phương diện
thị trường và kĩ thụât có liên quan đến dòng tiền của dự án có thể
25