Quản lý hành nghề luật sư ở việt nam hiện nay – thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý - Pdf 38

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN
LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ

QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

Học viên: XXX
MSHV: XXX
Lớp: XXX
2016
TRANG BÌA
1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 3
1.Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................................................3
2.Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................................................4
3.Giới hạn đề tài.................................................................................................................................4
4.Kết cấu tiểu luận..............................................................................................................................5

CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ.....................5
1.1.Khái niệm luật sư và hành nghề luật sư........................................................................................5
1.1.1.Khái niệm luật sư...................................................................................................................5
1.1.2.Hành nghề luật sư..................................................................................................................6
1.1.3.Đặc điểm của hành nghề luật sư............................................................................................7
1.2.Quản lý hành nghề luật sư............................................................................................................7
1.2.1.Đặc thù của nghề luật sư và vấn đề quản lý hành nghề luật sư.............................................7

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hành nghề luật sư.............27
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về quản lý hành nghề luật sư và triển khai có hiệu quả các quy định
pháp luật hiện hành......................................................................................................................27
3.2.2. Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư.....................................................................................28
3.2.3. Tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong hành nghề;
xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp....................29
3.2.4. Tiếp tục củng cố và kiện toàn tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của
luật sư, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp...............................................................30
3.2.5. Đổi mới việc thực hiện những nội dung trong công tác quản lý luật sư, đặc biệt là tăng
cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm........................................................................................31
3.3. Một số kiến nghị......................................................................................................................31

KẾT LUẬN................................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................34

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, càng phát sinh thêm nhiều mối quan hệ giữa công
dân với công dân, giữa công dân với các cơ quan, tổ chức và giữa các cơ quan, tổ chức
với nhau. Những mối quan hệ này nhiều khi phát sinh mâu thuẫn, ảnh hưởng đến
quyền lợi của mỗi bên. Điều đó dẫn đến một nhu cầu thiết yếu của các tổ chức, cá
nhân sử dụng các dịch vụ pháp lý do các tổ chức hành nghề luật sư cung cấp để dự liệu
và hành động nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp trong đàm phán, giao kết và
3


thực hiện giao dịch. Đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình giải quyết
tranh chấp, thi hành án.. Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý đang tăng
lên một cách rõ rệt. Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập ngày càng nhiều.
Việc phát triển mạnh mẽ của đội ngũ luật sư cùng các tổ chức hành nghề luật sư


Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hành nghề luật sư hiện nay.

-

Thông qua thực tiễn để thấy được những bất cập trong quản lý hoạt động hành
nghề luật sư.

-

Đề ra giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hành nghề luật sư.

3. Giới hạn đề tài
Tiểu luận tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý hành nghề luật sư,
góp phần từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý hành nghề luật sư ở Việt Nam.
4


Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề về hành nghề luật sư, nôi dụng của quản lý
hành nghề luật sư trong điều kiện tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Thời gian nghiên cứu là thực trạng quản lý hành nghề luật sư từ khi ban hành
Luật luật sư năm 2006 đến nay.
4. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu
luận gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận về hành nghề luật sư
Chương 2: Thực trạng quản lý hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hành nghề luật



Tiêu chuẩn để có thể trở thành luật sư người đó phải là công dân Việt Nam
trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt,
có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề
luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư [3].
1.1.2. Hành nghề luật sư
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 thì “hành nghề luật sư” được
hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ
pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của họ theo quy định của pháp luật [17].
Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã khái quát hơn, mở rộng
hơn khái niệm “hành nghề luật sư”. Theo đó, hành nghề luật sư là việc luật sư thực
hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng
cho khách hàng và làm các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức [3].
“Hành nghề luật sư” theo quy định của Luật luật sư là phải hành nghề chuyên
nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và kỹ năng hành nghề. Việc
hành nghề luật sư chủ yếu phải bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn mà đối
tượng phục vụ là khách hàng. Luật sư cung cấp “dịch vụ pháp lý” cho khách hàng và
nhận thù lao từ khách hàng.
Theo thông lệ của các nước trên thế giới, cũng như theo quy định của pháp luật
Việt Nam thì nội dung của hành nghề luật sư bao gồm việc tham gia tố tụng với tư
cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
6


quan đến vụ án hình sự; hoặc tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự hoặc hành
chính; hoặc tham gia tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp; tư vấn pháp luật, soạn
thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức; đại diện ngoài tố tụng để


-

Thể hiện ở tính độc lập, tính độc lập là điều kiện tất yếu cho hoạt động hành
nghề luật sư.

1.2.

Quản lý hành nghề luật sư

1.2.1. Đặc thù của nghề luật sư và vấn đề quản lý hành nghề luật sư
1.2.1.1.

Đặc thù của hành nghề luật sư

Chức năng xã hội của luật sư là tham gia bảo về cộng lý, góp phần bảo đảm
công bằng xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thông qua việc cung cấp các dịch vụ pháp lý. Các
nước trên thế giới và Việt Nam đều coi nghề luật sư là một nghề đặc biệt so với các
ngành nghề khác. Tính đặc thù được thể hiện ở chỗ:
7


-

Thứ nhất, hành nghề luật sư không lấy điểm xuất phát là vốn và cũng không
dựa vào vốn mà chủ yếu dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của
luật sư. Nghề luật sư gắn với pháp luật và việc thi hành pháp luật.

-


Những đặc điểm đặc thù trên của hành nghề luật sư là những yếu tố rất quan
trọng quy định và chi phối nội dung, cách thức quản lý hành nghề luật sư.
1.2.1.2.

Vấn đề quản lý hành nghề luật sư

Quan niệm về quản lý hành nghề luật sư hiện nay ở nước ta bao gồm hoạt động
quản lý về nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư (Đoàn
luật sư và Liên đoàn luật sư), mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với việc tự quản của
tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. Quan niệm về quản lý như vậy là phù hợp
với những đặc thù của hành nghề luật sư đã nêu ở trên.
Pháp lệnh về tổ chức luật sư năm 1987 đã có quy định những nội dung về quản
lý hành nghề luật sư bao gồm nội dung quản lý nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quản lý về hành nghề luật sư, đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ quyền
hạn của Đoàn luật sư với tư cách là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trong việc
quản lý hành nghề luật sư. Tuy nhiên, Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 còn có quan
niệm quá đơn giản về hoạt động quản lý hành nghề luật sư.
8


Khi pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm
2012) được ban hành. Vấn đề quản lý hành nghề luật sư đã bước đầu được coi trọng
hơn. Có những quan niệm chung phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với bối cảnh
đất nước. Đã có những quy định rõ hơn về những nội dung quản lý hành nghề luật sư.
Cụ thể hóa nội dung quản lý nhà nước, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước,
chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Liên đoàn luật sư, Đoàn luật sư trong quản lý hành
nghề luật sư. Tuy nhiên, vẫn chưa làm rõ được mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với
hoạt động tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. Vì vậy, hoạt động
quản lý hành nghề luật sư còn chung chung, có nơi nhà nước làm thay công việc, can

9


luật sư năm 1987 nói chung và vấn đề quản lý nhà nước về hành nghề luật sư nói
riêng. Theo đó thì hoạt động quản lý nhà nước về hành nghề luật sư là không thể thiếu.
Nội dung quản lý nhà nước về hành nghề luật sư đã có phân định rõ nội dung và thẩm
quyền quản lý nhà nước, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.
Với những quy định mới được ban hành cho thấy một sự tiến bộ lớn trong việc
quản lý nhà nước về hành nghề luật sư của chính phủ. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực
tế thì hoạt động quản lý hành nghề luật sư theo quy định chưa đạt được hiệu quả cao.
Từ những quy định đem áp dụng vào thực tế vẫn còn một khoảng cách khá lớn. Do đó,
cần phải tiếp tục nghiên cứu và từng bước thay đổi, hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về hành nghề luật sư trong thời gian tới cho phù hợp với thực tiễn.
1.2.3. Hoạt động tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư
Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, hoạt động theo
nguyên tắc tự quản nhằm phục vụ những lợi ích hợp pháp của các thành viên và tham
gia vào việc quản lý nhà nước, xã hội.
Hoạt động quản lý xã hội không chỉ được tiến hành bởi các cơ quan công quyền
mà còn được tiến hành bởi các tổ chức xã hội và công dân. Là một bộ phận không thể
tách rời của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã góp phần to lơn vào công cuộc
xây dựng và bảo vệ chủ quyền dất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp là một loại hình tổ chức xã hội đặc thù được nhà
nước cho phép thành luật và hoạt động theo quy định của nhà nước. Muốn trở thành
thành viên của tổ chức xã hội – nghề nghiệp phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện do
nhà nước và tổ chức quy định. Hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp đặt
dưới sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư hiện nay là các Đoàn luật sư địa
phương và Liên đoàn luật sư Việt Nam. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư là
một bộ phận của tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị, được thành lập để đại diện,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư. Ngoài ra còn có thể bồi dưỡng chuyên

trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Sau gần 10 năm thi hành Luật
luật sư, công tác quản lý hành nghề luật sư đã đạt được những kết quả nhất định. Nhìn
chung, các Đoàn luật sư cùng với Liên đoàn luật sư đã có nhiều cố gắng trong việc
thực hiện chức năng tự quản của mình. Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư đã phối hợp
chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý hành nghề luật sư, trong
việc kiểm tra hoạt động hành nghề của các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, kịp thời
phát hiện và xử lý các biểu hiện vi phạm pháp luật và Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề
nghiệp luật sư.
1.2.4. Mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội – nghề
nghiệp của luật sư
Nghề luật sư có những đặc thù riêng nên trong việc quản lý luật sư cũng có
điểm khác biệt so với việc quản lý đối với các ngành nghề khác. Việc quản lý hành
nghề luật sư ở các nước đều là sự kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản của tổ
chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Thông thường, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của
luật sư ở các nước được hình thành ở hai cấp là cấp trung ương và địa phương. Tổ
chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư Việt Nam hiện nay cũng đang áp dụng mô hình
này, với Liên đoàn luật sư Việt Nam là cấp trung ương và các Đoàn luật sư địa
phương.
Nghề luật sư là một nghề dựa trên sự hiểu biết pháp luật và áp dụng pháp luật.
Chức năng xã hội cao cả của luật sư là hoạt động vì công lý, công bằng xã hội. Hoạt
động hành nghề luật sư ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật nói
chung và có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Chính vì thế, việc quản lý luật
11


sư không thể chỉ giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư mà nhà nước cần có
vai trò quan trọng trong việc quản lý.
Các nước đều quy định cho một cơ quan nhà nước (ở Việt Nam là Bộ Tư pháp)
công nhận luật sư và cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý danh sách luật sư. Sở dĩ
nhà nước cần phải nắm việc công nhận luật sư là vì nghề luật sư là nghề tự do nên cần


Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý hành nghề luật
sư được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đó chính là những tư tưởng
chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý thực
hiện có hiệu quả các công việc của mình khi được phân công.
12


Nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc tự quản của tổ chức xã hội - nghề
nghiệp luật sư là những nguyên tắc cơ bản, chủ yếu trong quản lý hành nghề luật sư.
Đây là những nguyên tắc chi phối mọi hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Ở Việt Nam, nguyên tắc quản lý hành nghề luật sư nằm trong hệ thống các
nguyên tắc quản lý nhà nước nói chung. Đó là:
-

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp
luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đoàn
thể quần chúng, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, cán bộ, công chức nhà nước và
mọi công dân trở thành một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc chung trong việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt
động hành nghề luật sư ở nước ta, việc tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa là yêu cầu cần thiết và khách quan [22].
-

Nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội –

-

Cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư; cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt
động của tổ chức hành nghề,
13


-

Cho phép thành lập, giải thể tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư;

-

Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
hành nghề luật sư,

-

Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư và thực hiện quản lý
nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư.[22]

Vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư ngày càng được khẳng
định. Để phát huy hiệu quả quản lý hành nghề luật sư của tổ chức xã hội - nghề nghiệp
luật sư thì những nội dung quản lý hành nghề luật sư của tổ chức xã hội - nghề nghiệp
luật sư cũng cần được cụ thể hóa trên cơ sở những quyền hạn và trách nhiệm nhà nước
giao cho.
Do đó, Liên đoàn luật sư Việt Nam cần:
-

Ban hành quy chế tập sự hành nghề luật sư và hướng dẫn việc thực hiện quy


-

Giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của
luật sư;

-

Giám sát hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư;

-

Yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khi
cần thiết đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý;

-

Hòa giải tranh chấp có liên quan đến hành nghề giữa luật sư với tổ chức hành
nghề luật sư; giữa các tổ chức hành nghề luật sư với nhau, giữa khách hàng
với tổ chức hành nghề luật sư;

-

Tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và thực hiện
các biện pháp khác nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho luật sư,
phản ánh ý kiến đóng góp, kiến nghị của luật sư về xây dựng chính sách, pháp
14


luật của nhà nước, tổ chức để các luật sư tham gia phổ biến, giáo dục pháp

28/2007/NĐ-CP và Thông tư số 02/2007/TT-BTP; đã quy định, đồng thời phát
huy hơn nữa chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, đề
cao trách nhiệm của tổ chức luật sư đối với thành viên của mình. Trên cơ sở
các quy định có liên quan của Luật Luật sư và pháp luật về hội, Nghị định đã
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, địa vị pháp lý, thành lập, giải thể, đại hội, phê duyệt Điều lệ, miễn
nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư, quản lý
nhà nước đối với Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư nhằm giải quyết những khó
khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.

-

Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp trong đó quy định cụ thể về hành vi
vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động hành nghề luật sư.
Nghị định này thay thế Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của
Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp;

-

Thông tư số 02/2007/TT-BTP ngày 25/4/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một
số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Luật sư. Thông tư 02/2007/TT-BTP hướng dẫn cụ
thể về các điều kiện và thủ tục thành lập cơ sở đào tạo nghề luật sư; hướng dẫn
chi tiết về thủ tục thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, thanh tra, kiểm tra và
chế độ báo cáo;

-

Thông tư liên tịch số 66/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 19/6/2007 hướng dẫn và

đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật.

-

Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân
và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

-

Thông tư 19/2013/TT-BTP hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp ban hành

Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp ở các địa phương chủ động trong việc hướng dẫn
những vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của luật sư như việc chuyển tiếp đối
với các văn phòng luật sư do một số luật sư thành lập theo Pháp lệnh Luật sư năm
2001 sang hình thức công ty luật hợp danh theo quy định của Luật Luật sư 2006, hoạt
động của các Đoàn Luật sư, việc đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề luật sư
v.v… Công tác đào tạo nghề luật sư, bồi dưỡng nghiệp vụ cho luật sư đã được quan
tâm và thực hiện có hiệu quả bước đầu. Học viện Tư pháp đã được thành lập và được
giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo nghề luật sư, tính đến tháng 9/2009 Học viện đã đào tạo
8 khóa đào tạo nghề luật sư và cấp chứng chỉ tốt nghiệp cho khoảng 14.000 học viên
[20]. Bộ Tư pháp đã có chính sách ưu tiên đào tạo nghề luật sư miễn phí cho các tỉnh
khó khăn như tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang,
Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Bình, Quảng Trị, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum,
Bình Phước, Bạc Liêu. Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều khóa, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ
cho hàng trăm luật sư về kỹ năng hành nghề, về Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ, về kỹ năng tranh tụng để thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự v.v…
Các Sở Tư pháp đã thực hiện cấp đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề
luật sư. Việc cấp đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề luật sư chủ yếu tập

hành nghề luật sư còn công tác thanh tra, kiểm tra thì hầu như không thực hiện.
Có thể nói, trong gần 10 năm thi hành Luật luật sư, các cơ quan quản lý nhà
nước đã quan tâm và có nhiều cố gắng trong việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ,
quyền hạn trong lĩnh vực quản lý hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, hoạt động quản lý hành nghề luật sư vẫn còn một số nhược điểm:
-

Nội dung quản lý nhà nước được Luật luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung năm
2012) quy định còn mang tính chất dàn trải, hình thức. Việc Luật luật sư quy
định nội dung quản lý, thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư chưa thể hiện
sự phân cấp mạnh mẽ, đáp ứng nhiệm vụ cải cách hành chính hiện nay. Cơ
quan quản lý nhà nước về hành nghề luật sư ở trung ương chưa thực sự là cơ
quan thực hiện những nội dung mang tầm vĩ mô, trong khi ở địa phương quy
định thẩm quyền quản lý về hành nghề luật sư còn rất chung chung. Quá trình
triển khai thi hành Luật Luật sư chưa kịp thời phát hiện, chủ động tháo gỡ một
số vướng mắc, khó khăn trong tổ chức, hoạt động hành nghề luật sư.

-

Xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư là một nội
dung rất quan trọng nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước, nâng cao tính
hiệu lực quản lý đối với hoạt động hành nghề luật sư, góp phần nâng cao ý
18


thức trách nhiệm, tuân thủ pháp luật của luật sư trong hành nghề luật sư. Luật
luật sư có quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm đối luật sư, tổ chức hành nghề
luật sư mà phải dựa vào nghị định xử lý vi phạm hành chính của chính phủ ban
hành. Ngoài ra, trong quá trình hành nghề, luật sư còn có thể vi phạm và phát
sinh các trách nhiệm dân sự và hình sự. Tuy nhiên, vẫn chưa có những quy định


-

Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với
tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn hạn chế do chưa phân định rõ và
hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước với trách nhiệm tự quản của tổ chức xã
hội - nghề nghiệp của luật sư. Sự phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng
với các cơ quan quản lý nhà nước về hành nghề luật sư chưa chặt chẽ dẫn đến
việc quản lý nhà nước thiếu thông tin và kém hiệu quả.

2.1.2.

Hoạt động quản lý của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

2.1.2.1. Hoạt động quản lý của Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Liên đoàn Luật sư Việt Nam ra đời vào tháng 5/2009 là bước ngoặt mang tính
lịch sử đối với nghề luật sư Việt Nam. Theo thời gian hoạt động, dù còn nhiều khó
khăn nhưng Liên đoàn đang từng bước ổn định về tổ chức, cơ cấu bộ máy và bước đầu
triển khai thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, qua đó
19


nâng cao, phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Tuy
thời gian từ khi thành lập đến nay chưa lâu, nhưng Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã
triển khai thực hiện nhiều hoạt động và đạt được những kết quả nhất định như:
Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp của luật sư; Liên
đoàn đang phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp, Ban Tổ chức Trung ương Đảng
thành lập tổ chức đảng trong Liên đoàn Luật sư và chỉ đạo các Đoàn Luật sư quán triệt
đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng với tổ chức và hoạt động của luật sư; phát động
“Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; ban hành bộ

nắn và có biện pháp xử lý nghiêm minh các trường hợp luật sư vi phạm Quy tắc đạo
20


đức nghề nghiệp luật sư và Điều lệ Đoàn Luật sư, đặc biệt là vi phạm pháp luật, trong
thời gian qua đã có nhiều trường hợp bị xử lý kỷ luật, thậm chí có trường hợp bị xử lý
kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn.
Một số Đoàn Luật sư đã tổ chức các hội thảo chuyên đề cho luật sư. Đặc biệt là
tổ chức rút kinh nghiệm đối với luật sư trong các vụ án lớn có tính chất điểm, điển
hình như vụ án Năm Cam và đồng bọn, vụ án xét xử Lã Thị Kim Oanh, v.v… Thông
qua việc rút kinh nghiệm này luật sư đã thấy rõ những mặt được và chưa được, tích
cực và hạn chế về quan điểm bào chữa, kiến thức pháp luật, kỹ năng tham gia tranh
tụng, phong cách, văn hóa ứng xử của luật sư. Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư Hà Nội đã
tổ chức hội thảo “Luật sư Việt Nam và hội nhập quốc tế” với sự tham gia của gần 300
luật sư và đại biểu. Tổ chức hội thảo về “Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự thực trạng và giải pháp”; hội thảo “Vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết
khiếu nại hành chính - thực trạng và giải pháp”, tổ chức diễn đàn giao lưu “Luật sư và
doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế” hay tham gia hội thảo “Quy chế tập sự hành
nghề luật sư” với Bộ Tư pháp v.v…[20]
Trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ban chủ nhiệm nhiều
Đoàn Luật sư đã phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng và
các cơ quan quản lý nhà nước khác ở địa phương. Tháng 4/2009 Đoàn Luật sư Hà Nội
cùng với Sở Tư pháp Hà Nội ký Quy chế phối hợp công tác quản lý nhà nước về quản
lý luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội, Đoàn Luật sư
Thành phố Hồ Chi Minh cùng Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đang xây dựng quy
chế phối hợp quản lý hoạt động luật sư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. [20]
Những kết quả bước đầu đạt được trong công tác quản lý của các Đoàn Luật sư
là vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cho việc phát huy hơn nữa vai trò tự quản của tổ
chức luật sư trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, Đoàn Luật sư còn bộc lộ một số hạn chế đó là:
-

quản của tổ chức hành nghề luật sư và về quản lý nhà nước đối với hành nghề
luật sư, dẫn đến việc thiếu sự phối hợp với Sở Tư pháp trong việc thực hiện
nhiệm vụ quyền hạn của mình;

-

Việc giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư chưa được Ban chủ
nhiệm các Đoàn Luật sư quan tâm đúng mức hoặc chưa quan tâm và nhìn
chung chưa được thực hiện tốt. Mặt khác, Ban chủ nhiệm một số Đoàn Luật sư
chưa có quan niệm đúng về trách nhiệm của Đoàn Luật sư trong việc quản lý
các tổ chức hành nghề luật sư, chưa chủ động sáng tạo trong việc thực hiện
nhiệm vụ.

2.2. Nguyên nhân những hạn chế về quản lý hành nghề luật sư hiện nay
2.2.1. Quy định của pháp luật về quản lý hành nghề luật sư còn nhiều hạn chế
Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật về hành nghề luật sư hiện nay đã có
nhiều đóng góp tích cực khẳng định tầm quan trọng của luật sư trong xã hội đồng thời
phần nào tạo được một hành lang pháp lý để luật sư hành nghề. Tuy nhiên, các văn bản
pháp luật này vẫn không tránh được những khiếm khuyết, những khiếm khuyết này
xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Các văn bản quy phạm pháp luật
về quản lý hành nghề luật sư còn quy mang tính chất dàn trải, hình thức. Việc Luật
luật sư quy định nội dung quản lý, thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư chưa thể
hiện sự phân cấp rõ ràng, đáp ứng nhiệm vụ cải cách hành chính hiện nay. Cơ quan
quản lý nhà nước về hành nghề luật sư ở trung ương chưa thực sự là cơ quan thực hiện
những nội dung mang tầm vĩ mô, những chiến lược quản lý cụ thể, trong khi ở địa
phương quy định thẩm quyền quản lý về hành nghề luật sư còn rất chung chung.
Nguyên nhân chủ quan là những vấn đề chưa hoàn hảo trong quá trình các cơ
quan chức năng xây dựng các văn bản liên quan đến vấn đề hành nghề luật sư. Đã có
nhiều học giả cho rằng Việt Nam là một “vương quốc của các văn bản pháp luật” bởi
sự đồ sộ của hệ thống các văn bản pháp luật ở Việt Nam. Nhiều văn bản pháp luật thì

pháp. Nhiều Sở Tư pháp còn lúng túng, chưa chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình. Lãnh đạo một số Sở Tư pháp chưa có quan niệm đúng về trách
nhiệm quản lý đối với hành nghề luật sư dẫn đến hiện tượng buông lỏng quản lý hoặc
can thiệp không đúng thẩm quyền vào hoạt động hành nghề luật sư tại địa phương.
Sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp, ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quản lý nhà
nước về hành nghề luật sư còn hạn chế.
Công tác kiểm tra, thanh tra đối với tổ chức hành nghề luật sư và hành nghề luật
sư chưa được cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương quan tâm đúng
mức; việc kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và hiệu quả chưa cao.
Việc giám sát người tập sự hành nghề luật sư của các Đoàn Luật sư, tổ chức
hành nghề luật sư nhận người tập sự chưa được quan tâm đúng mức và chưa được thực
hiện có hiệu quả. Người tập sự chỉ đăng ký tập sự tại Đoàn luật sư địa phương, tuy
nhiên, trong quá trình tập sự, nhiều người tập sự không báo cáo đầy đủ những thay đổi
trong quá trình tập sự (thay đổi nơi tập sự, luật sư hướng dẫn…) cũng như kết quả tập
sự.
Sự phối hợp giữa đoàn luật sư và cơ quan quản lý nhà nước ở một số địa
phương đối lúc chưa được tốt, việc hiểu về bản chất, nội dung công tác tự quản của tổ
chức luật sư và nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước về hành nghề luật sư với công tác
tự quản của tổ chức hành nghề luật sư còn chưa đầy đủ và thống nhất. Có xu hướng
23


quá đề cao thậm chí tuyệt đối hóa tính tự quản của nghề luật sư, ngược lại, có những
xu hướng quan niệm về quản lý nhà nước đối với nghề luật sư không phù hợp với tính
chất của nghề luật sư là một nghề tự do, có tính độc lập cao trong hành nghề. Trong
việc phối hợp xử lý vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư và
những hiện tượng tiêu cực khác của luật sư chưa chặt chẽ.
Năng lực quản lý, điều hành của cơ quan lãnh đạo một số tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư còn hạn chế, chưa thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có nơi còn hành chính hóa hoạt động quản lý điều

các bên chưa chặt chẽ, chưa thực sự thông cảm và tin cậy lẫn nhau, gây khó khăn cho
quá trình làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
24


Công tác theo dõi, giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức
và ứng xử nghề nghiệp luật sư chưa được thực hiện hiệu quả; việc phát hiện, xử lý vi
phạm còn chưa kịp thời, chưa nghiêm minh. Việc bồi dưỡng, giáo dục về đạo đức
nghề nghiệp chưa được thực hiện thường xuyên. Công tác giáo dục về chính trị tư
tưởng cho đội ngũ luật sư hầu như chưa được quan tâm.
Một bộ phận luật sư lại lợi dụng sự hiểu biết pháp luật của mình để vi phạm
pháp luật, lợi dụng danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và an
ninh quốc gia hoặc lợi dụng uy tín nghề nghiệp và tiếng nói của mình trên các diễn đàn
hành nghề để chỉ trích Đảng, Nhà nước, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc nhằm
đả kích chính quyền.
2.2.4. Một số nguyên nhân khác
Những khó khăn về cơ sở vật chất, bố trí cán bộ làm công tác quản lý, các bộ
phận làm việc chuyên trách, chuyên nghiệp ở cả nhà nước và tổ chức xã hội – nghề
nghiệp của luật sư chưa phù hợp đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của luật sư, cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề
luật sư ở một số địa phương.
Với tính chất của nghề luật sư là nghề tự do, các luật sư cung cấp dịch vụ pháp
lý theo yêu cầu của khách hàng để nhận thù lao từ khách hàng, nên sự phát triển về số
lượng của luật sư trước hết phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý về xã hội.
Do điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta đang phát triển, mức thu nhập của người dân
chưa đồng đều, trình độ dân trí chưa cao nên nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý trong xã
hội đang ở mức độ thấp. Vì thế, nghề luật sư ở nước ta chưa thực sự có sức hấp dẫn,
thu nhập của nhiều luật sư hoạt động nghề nghiệp chưa đủ để bảo đảm cuộc sống, đặc
biệt đối với các tỉnh miền núi, khó khăn. Do vậy, có thể khiến nhiều luật sư sa vào con
đường tội lỗi, có những hoạt động nghề nghiệp không đúng với những quy định của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status