MỤC LỤC
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI........................................................................................02
II. GIỚI THIỆU.................................................................................................03
1. Thực trạng................................................................................................03
2. Giải pháp thay thế......................................................................................04
3. Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài.......................................05
4. Vấn đề nghiên cứu....................................................................................05
5. Giả thuyết nghiên cứu..............................................................................05
III. PHƯƠNG PHÁP.........................................................................................05
1. Khách thể nghiên cứu................................................................................05
2. Thiết kế nghiên cứu...................................................................................06
3. Quy trình nghiên cứu.................................................................................07
4. Đo lường và thu thập dữ liệu....................................................................07
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ....................................................07
1.Trình bày kết quả.......................................................................................07
2. Phân tích dữ liệu........................................................................................08
V. BÀN LUẬN KẾT QUẢ...............................................................................09
VI. KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ..............................................................09
5.1. Kết luận..................................................................................................09
5.2. Khuyến nghị...........................................................................................09
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................10
CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI..........................................................................11
Phụ lục 1: Mẫu thiết kế giáo án bài 12: Nước Văn Lang - Lịch sử 6 có vận dụng
phương pháp kể chuyện.......................................................................................11
Phụ lục 2: Các câu chuyện được sử dụng trong bài và khai thác kiến thức lịch
sử, ý nghĩa của các câu chuyện............................................................................21
Phụ lục 3: Đề và đáp án kiểm tra sau tác động...............................................38
Phụ lục 4: Bảng điểm kiểm tra trước và sau tác động của nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm...............................................................................................42
Phụ lục 5: Một số bài kiểm tra của học sinh...................................................46
lĩnh hội, chia sẻ kiến thức một cách tốt nhất, làm thế nào để nâng cao hứng thú học
tập bộ môn cho học sinh, giúp các em từ những kiến thức lịch sử đã học có thể vận
dụng để giải quyết các tình huống trong thực tế. Theo tôi, để làm được điều đó thì
trước tiên người thầy cần phải giúp học sinh có những nền tảng vững chắc, sự ham
thích học tập từ khi mới bắt đầu biết về lịch sử, tức là đối tượng cần được tác động
ban đầu chính là những em học sinh lớp 6_ lứa tuổi có nhiều sự chuyển biến và khá
bỡ ngỡ khi vừa chuyển từ môi trường cấp 1 sang cấp 2. Do vậy, người giáo viên
cần tìm ra một phương pháp tối ưu nhất giúp các em có thể hợp tác cùng nhau giải
quyết các vấn đề lịch sử mang tính khái quát nhất, thông qua đó có thể nắm kiến
thức một cách dễ dàng. Chính vì thế, theo tôi, đối với lứa tuổi này thì việc vận dụng
phương pháp kể chuyện là phương pháp được xem là tối ưu nhất và đem lại hiệu
quả truyền tải kiến thức lịch sử tốt nhất.
2
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này Tôi xin được đưa ra một phương
pháp mà bản thân đã áp dụng có hiệu quả đó chính là vận dụng phương pháp kể
chuyện trong giảng dạy bài 12: “Nước Văn Lang”, giúp học sinh nắm vững hoàn
cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang, qua đó giúp học sinh nắm vững kiến
thức, đồng thời rèn phương pháp, kỹ năng kể chuyện, từ đó ghi nhớ kiến thức lịch
sử một cách sâu sắc. Cũng xin được nói thêm, việc vận dụng phương pháp kể
chuyện trong giảng dạy Lịch sử không phải là một vấn đề mới, đây là một vấn đề
mà các cấp lãnh đạo Sở Giáo Dục Bình Dương cũng đã khởi xướng, nhưng hiệu
quả mang lại chưa cao. Riêng bản thân tôi đã mạnh dạn đẩy mạnh vận dụng
phương pháp kể chuyện thực nghiệm đối với bài 12: “Nước Văn Lang” trong
chương trình lịch sử 6 do bản thân phụ trách trong năm học 2015- 2016. Kết quả
cho thấy rất khả quan, học sinh tiếp thu tốt phần nội dung trọng tâm, năng động
hơn trong việc tự mình lĩnh hội và chia sẻ tri thức thông qua các câu chuyện lịch
sử.
Do hạn hẹp về thời gian, nên trong đề tài nghiên cứu này tôi chỉ xin được
ham thích, hứng thú, nắm vững kiến thức trọng tâm trong bài 12: Nước Văn Lang Lịch sử 6, thông qua tiết học lịch sử. Từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn
Lịch sử.
Như chúng ta đã biết, trong các phương pháp dạy học tích cực thì phương
pháp kể chuyện là một trong những phương pháp khá phổ biến và đạt kết quả
truyền tải kiến thức tốt nhất, đặc biệt là đối với học sinh lớp 6, lứa tuổi chuyển tiếp
từ trẻ con sang người lớn.
Mục tiêu của phương pháp kể chuyện là giúp học sinh thông qua các câu
chuyện, truyền thuyết mà các em đã biết, đã đọc, đã học, tìm ra các ý nghĩa lịch sử
bên trong đó, từ đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức lịch sử hơn, thêm hứng thú khi
tìm hiểu lịch sử.
Mỗi một câu chuyện kể là một kho tàng lịch sử được lưu truyền từ đời này
đến đời khác dưới nhiều hình thức khác nhau, rất có giá trị. Dù đó là những câu
chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết thì đều mang ý nghĩa lịch sử rất lớn. Việc
cụ thể hóa thành truyện kể cũng là một cách giúp người xưa ghi nhớ, lưu giữ nét
lịch sử của dân tộc từ xưa đến nay.
Để phương pháp kể chuyện đạt hiệu quả cao, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên
và học sinh là:
+ Giáo viên: nắm vững nội dung câu chuyện, cách kể chuyện truyền cảm, cuốn
hút, rút ra ý nghĩa bên trong câu chuyện, liên hệ kiến thức lịch sử, phát hiện ra
những học sinh có năng khiếu kể chuyện.
+ Học sinh: chuẩn bị trước các câu chuyện mà giáo viên yêu cầu, biết tóm tắt
cốt truyện, rèn kỹ năng kể chuyện trước lớp, rút ra ý nghĩa chuyện, liên hệ thực tế.
Các câu chuyện được vận dụng trong bài 12: “Nước Văn Lang” bao gồm:
“Sơn Tinh - Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng Tử - Tiên Dung”, “Con rồng
cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy”. Đây là những
câu chuyện mà các em học sinh lớp 6 đã được học, được biết đến trong sách kể
chuyện trong chương trình ở cấp tiểu học. Qua các câu chuyện giúp lớp học sinh
động hơn, học sinh hứng thú hơn khi tìm hiểu và biết được các câu chuyện truyền
thuyết đều có liên quan đến những sự kiện, kiến thức lịch sử, từ đó ghi nhớ kiến
thức lịch sử một cách sâu sắc. Thông qua việc vận dụng phương pháp này, học sinh
Tôi và cô Võ Thị Thu Hà phụ trách, hai chúng tôi đều có trình độ tương đương
nhau, có lòng nhiệt tình và trách nhiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục học
sinh.
1. Vương Trần Huyền Trân - Giáo viên dạy sử lớp 6A10 (lớp thực nghiệm)
2. Võ Thị Thu Hà - Giáo viên dạy sử lớp 6A3 (lớp đối chứng).
* Học sinh: Tôi lựa chọn hai lớp: Lớp 6a10 (Nhóm thực nghiệm), lớp 6A3
(Nhóm đối chứng), vì đó là hai lớp có sự tương đồng về dân tộc, giới tính, trình độ
và sỉ số lớp.
Học sinh hai lớp này có thái độ và kết quả học tập là tương đương nhau.
5
Số HS các nhóm
Dân tộc
Tổng
số
Nam
Nữ
Kinh
Dân
tộc
khác
Kết quả:
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
TBC
p=
Đối chứng
Thực nghiệm
6.28
6.31
0.45
p = 0.45 > 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai
nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa (sự chênh lệch xảy ra là ngẫu
nhiên), hai nhóm được coi là tương đương.
Tôi lựa chọn thiết kế 2: Thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các
nhóm tương đương.
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu :
Nhóm
Thực nghiệm
(6A10)
Đối chứng
(6A3)
KT trước TĐ
Tác động
như vận dụng kiến thức liên môn, vấn đáp, tường thuật,..., thông qua đó, giúp học
sinh khai thác kiến thức lịch sử trong bài, từ đó biết liên hệ thực tế. Việc vận dụng
phương pháp kể chuyện như đã trình bày ở trên vẫn đảm bảo về thời lượng và phân
phối chương trình theo quy định, đồng thời có sự chuẩn bị đồ dùng dạy học kĩ hơn,
chu đáo hơn. Sau tiết sẽ sử dụng 25 phút để tiến hành làm một bài test 25 phút thu
kết quả.
3.2. Tiến hành thực hiện :
Thời gian tôi tiến hành dạy thực nghiệm bài 12: “Nước Văn Lang” theo đúng
phân phối chương trình là tuần 13, tiết 13.
Các câu chuyện sử dụng trong bài 12: “Nước Văn Lang” bao gồm: “Sơn Tinh
- Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng Tử - Tiên Dung”, “Con rồng cháu tiên”,
“Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy”. Các câu chuyện này sẽ
được sử dụng đan xen trong bài, giúp học sinh khai thác được các kiến thức lịch sử
quan trọng, từ đó nắm vững hoàn cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang - Nhà
nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta.
Đối với lớp 6A3 (lớp đối chứng) thì cô Hà cũng vẫn dạy bình thường theo
phân phối chương trình của bài 12 là tuần 13, tiết 13.
4. Đo lường và thu thập dữ liệu:
Kết quả kiểm tra trước tác động là các điểm số lấy từ bài kiểm tra 1 tiết trong
học kì I.
Kết quả kiểm tra sau tác động là điểm bài kiểm tra sau khi tôi đã tiến hành áp
dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang” (khảo sát dưới hình
thức kiểm tra trắc nghiệm và tự luận).
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:
1. Trình bài kết quả:
Tiến hành kiểm tra và chấm bài.
Sau khi thực hiện dạy xong bài 12: “Nước Văn Lang” bằng việc sử dụng
phương pháp kể chuyện, tôi ra đề và cho học sinh làm bài kiểm tra. Tôi tiến hành
7
Nhóm đối chứng
Nhóm thực nghiệm
Điểm trung bình
6.80
7.82
Độ lệch chuẩn
1.08
1.30
Giá trị p của T-test
Chênh lệch giá trị
trung bình chuẩn SMD
0.0001
0.94
2. Phân tích dữ liệu:
Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm thực
nghiệm là 7.82 cao hơn so với điểm trung bình kiểm tra trước tác động là 1.02.
Điều này chứng tỏ rằng chất lượng học tập môn lịch sử của học sinh lớp 6A10 đã
được nâng lên đáng kể.
Sau quá trình tác động và kiểm chứng sự chênh lệch giá trị trung bình bằng
phép kiểm chứng t-test đã cho ta kết quả p= 0.0001 cho thấy sự chênh lệch điểm
1. Kết luận:
Việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang” đã
góp phần giúp cho học sinh lớp 6 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nắm vững hoàn
cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang, từ đó làm tăng sự hứng thú học tập lịch
sử đối với học sinh của nhà trường.
2. Khuyến nghị:
Đối với các cấp lãnh đạo và nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa tới bộ môn
Lịch sử, cũng như đời sống của giáo viên bộ môn này để họ có thể tận tâm, nhiệt
huyết với nghề. Nhà trường cung cấp và trang bị thêm sách và tài liệu tham khảo
liên quan đến nội dung môn học này.
Đối với giáo viên: Phải không ngừng đầu tư trong soạn giảng từng tiết dạy
về nội dung và phương pháp. Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ của bản thân, tích lũy kinh nghiệm từ đồng nghiệp và bản thân, biết
cách áp dụng hợp lí với trình độ lớp mình giảng dạy.
Với kết quả của đề tài nghiên cứu, tôi rất mong muốn được sự quan tâm,
giúp đỡ của các cấp lãnh đạo giáo dục. Những ý kiến đóng góp quý báu, chân thành
của quý đồng nghiệp giúp cho tôi hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu này.
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Trọng Kim, “Việt Nam Sử Lược”, NXB Văn hóa thông tin, 2002.
- Đào Duy Anh, “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX”, NXB Khoa
học xã hội, 2011.
- Tài liệu tập huấn nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng dự án Việt Bỉ - Bộ
GD&ĐT.
- Tài liệu nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trường THCS Nguyễn Văn
Trỗi.
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Lịch sử 6 – Nhà xuất bản giáo dục – Bộ
GD&ĐT.
- Bản đồ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
- Tranh ảnh hiện vật phục chế
- Sơ đồ tổ chức nhà nước.
- Chuẩn bị các câu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng
Tử - Tiên Dung”, “Con Rồng cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh
chưng, bánh dầy”.
2. Học sinh: đọc và trả lời các câu hỏi trong SGK.
- Chuẩn bị các câu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng
Tử - Tiên Dung”, “Con Rồng cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh
chưng, bánh dầy”. Tóm tắt và nêu ý nghĩa các câu chuyện.
C. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP:
1. Kiểm tra kiến thức cũ:
Câu hỏi: Em hãy nêu những nét mới về kinh tế, xã hội của cư dân Lạc Việt?
2. Giảng kiến thức mới:
11
*GTB: Những chuyển biến lớn trong sản xuất và xã hội đã dẫn đến sự kiện
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người dân Việt Cổ- sự ra đời của nhà nước
Văn Lang, mở đầu cho một thời đại mới của dân tộc. Để biết được nhà nước Văn
Lang được thành lập và tổ chức như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu Bài 12: “Nước
Văn Lang”.
HOẠT ĐỘNG THẦY VÀ TRÒ
NỘI DUNG
Hoạt động 1
1. Nhà nước Văn Lang ra đời trong
hoàn cảnh nào?
GV cho HS quan sát trên lược đồ, giới
thiệu cho HS vùng đồng bằng ven sông
Hồng, sông Cả, sông Mã. Đây là khu
HS: Sự mâu thuẫn giữa người giàu và
người nghèo ngày càng sâu sắc.
GV liên hệ chuyện kể “Chử Đồng Tử Tiên Dung”
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện. (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
Cuối cùng GV chốt: trong xã hội lúc bấy
giờ đã bắt đầu có sự phân chia người
giàu – người nghèo.
- Mâu thuẫn giữa người giàu và người
nghèo ngày càng sâu sắc.
GV: Việc mở rộng nghề nông trồng lúa
nước ở vùng đồng bằng ven sông lớn có
rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển nghề nông trồng lúa nước như
đất phù sa màu mỡ, đủ nước tưới quanh
năm từ đó cây trồng phát triển tốt cho
năng suất cao, đảm bảo cuộc sống của
người dân. Bên cạnh đó cũng có không
ít khó khăn rất lớn làm ảnh hưởng đến
nền sản xuất nông nghiệp và đời sống
của cư dân Lạc Việt.
GV: Đó là những khó khăn gì?
HS trả lời theo suy nghĩ
GV: Khó khăn: Lũ lụt thường xuyên xảy
GV: GV cho HS Q.sát H 31, 32 SGK/34
của Bài 11. Lưỡi giáo, dao găm gọi
chung là gì? (Vũ khí).
GV: Sự xuất hiện của nhiều loại vũ khí
chứng tỏ điều gì? (Có giặc ngoại xâm và
xung đột giữa các bộ lạc)
GV: câu chuyện nào của nhân dân ta
thời xưa nói về hoạt động chống ngoại
xâm? (Thánh Gióng).
GV liên hệ truyện “Thánh Gióng”
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện. (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV giảng: Các loại vũ khí thời Đông
Sơn gồm các loại mũi giáo đồng và dao
găm đồng. Sự xuất hiện nhiều loại vũ
khí chứng tỏ sự phát triển của nghề săn
bắt. Nhưng chủ yếu cho chúng ta thấy
trong xã hội đã có tranh chấp, xung đột
giữa các bộ lạc và giữa người Lạc Việt
với các bộ tộc khác.
→ Tự bảo vệ khi có xung đột và xâm
14
lược.
GV: Để giải quyết các xung đột và
- Đặc biệt khu vực Sông Hồng: từ Ba Vì
(Hà Tây) đến Việt Trì (Phú Thọ) nơi Bộ
lạc Văn Lang sinh sống là phát triển hơn
cả, Vì sao? Vì: Ở đây có Làng Cả (Việt
Trì - Phú Thọ) chuyên làm nghề đúc
đồng nên nền kinh tế sớm phát triển hơn
cả, dân cư tập trung đông đúc. Nhờ vậy
tù trưởng bộ lạc Văn Lang ở đây được
các tù trưởng ở các vùng khác ở xung
quanh tôn trọng và ủng hộ.
15
GV: Dựa vào thế mạnh của mình thủ
lĩnh bộ Lạc Văn Lang đã làm gì?
HS: Đã hợp nhất các bộ lạc khác trong
vùng thành một liên minh Bộ lạc (1
nước). Gọi là nhà nước Văn lang.
GV: Nhà nước Văn lang ra đời vào thời
gian nào? Đứng đầu là ai? Đóng đô ở
đâu?
HS: Thế kỉ VII TCN, thủ lĩnh Bộ Lạc
Văn Lang đứng đầu nhà nước, tự xưng
là Hùng Vương đóng đô ở Bạch Hạc.
GV giải thích :
- Đặt tên nước là Văn Lang (tên của Bộ
lạc gốc)
- Hùng là mạnh, Vương là vua (Là đất
nước Hùng mạnh )
- Vào khoảng thế kỉ VII TCN, thủ lĩnh
diện cho cả cộng đồng các dân tộc trên
đất nước ta.
GV mở rộng: Ngoài các câu chuyện kể
nói trên, em hãy cho biết còn có những
câu chuyện nào nói về sự thành lập và tổ
chức của Nhà nước Văn Lang?
GV liên hệ truyền thuyết “Quả dưa
hấu” và “Sự tích bánh chưng, bánh
dầy”.
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện. (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV: Tất cả các câu chuyện, truyền
thuyết kể trên đều phản ánh sự tồn tại
trong thực tế Nhà nước Văn Lang - Nhà
nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc với
những nét văn hóa mang đậm tính dân
tộc, được lưu truyền đến ngày nay thông
qua các mẫu chuyện lịch sử.
Vậy, Nhà nước Văn Lang đã được tổ
chức như thế nào? Chúng ta bước sang
tìm hiểu phần 3.
Hoạt động 3
3. Nhà nước Văn Lang được tổ chức
như thế nào?
Thảo luận nhóm:
Dãy 1: Tìm hiểu về sơ đồ và cách tổ
? Dưới Bộ có các cơ quan nào? Ai đứng
đầu?
(Chiềng, chạ: đứng đầu là Bồ Chính)
? Giúp việc cho Bồ chính còn có ai?
(Giúp việc cho Bồ chính ở các chiềng
chạ có những người già, có uy tín và đầy
kinh nghiệm.)
GV cho HS xem sơ đồ Nhà nước Văn
Lang hoàn chỉnh và tóm lại (HS ghi bài)
(Sơ đồ được cụ thể hóa trong phần phụ
lục 2 của đề tài nghiên cứu này)
* Sơ đồ tổ chức Nhà nước Văn Lang
(HS vẽ sơ đồ trong SGK)
GV trình bày: Nhà nước Văn Lang
được chia làm 3 cấp:
+ Trung ương: do Hùng Vương đứng
đầu có Lạc hầu, Lạc tướng giúp.
+ Bộ là cơ quan trung gian giữa trung
ương và địa phương do Lạc tướng đứng
đầu.
+ Địa phương là các chiềng, chạ do Bồ
chính đứng đầu.
GV: nhận xét sơ đồ tổ chức Nhà nước
Văn Lang?
18
(- Vua đứng đầu nắm mọi quyền hành,
cha truyền con nối.
- Tổ chức còn đơn giản, chưa có luật
- Đặt tên cho các con đường,các
ngôi trường (Trường THPT
chuyên Hùng Vương)
GV: Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày
nào?
HS: 10/3 âm lịch.
GV yêu cầu HS đọc 2 câu thơ nói về
ngày giỗ tổ Hùng Vương
19
HS: “Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 – 3”
GV: Bác Hồ đã căn dặn đều gì nhân dịp
về thăm đền vua Hùng (Phú Thọ)? Cho
biết ý nghĩa của câu nói đó?
HS: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy
nước”.
GV: Vua Hùng là người dựng nên nhà
nước Việt Nam đầu tiên. Trách nhiệm
của thế hệ sau, đặc biệt là thế hệ trẻ của
chúng ta, phải ra sức học tập, cống hiến
sức trẻ cho quê hương đất nước, xây
dựng đất nước tươi đẹp, giàu mạnh và
văn minh.
* GV tóm lại: Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang có ý nghĩa rất quan trọng
đối với người Việt Nam. Người Việt Nam đã có một nhà nước riêng do mình thành
lập và làm chủ, không còn là những làng bản, chiềng chạ riêng lẻ, không có quan
đùng, mây tuôn gió nổi, bốn bề nước đổ, trời đất tối tăm. Cả một vùng đất rung
chuyển, thật là rùng rợn. Đến lượt Sơn Tinh liền khoan thai vẫy tay hóa phép dời
núi, đổ cây, phá rừng vung đất chống lại trận nước dâng lên của Thủy Tinh. Sơn
Tinh giơ gậy thần chỉ bốn phương, lập tức cảnh vật trở lại bình thường, trời trong,
sông lặng, cây cỏ xanh tươi.
Vua Hùng thấy hai người cùng tài giỏi không biết nên gả con gái cho ai. Vua
ngẫm nghĩ một lúc rồi phán rằng:
21
- Sơn Tinh và Thủy Tinh đều tài giỏi cả. Nhưng muốn lấy công chúa thì phải có
lễ vật ra mắt ta! Vậy rạng sáng mai, ai đem của lạ vật quý đến trước, ta sẽ gả con
gái cho người ấy!
Tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến dâng vua, lễ vật của Sơn
Tinh có voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao và bao nhiêu vàng bạc,
châu báu. Vua Hùng giữ lời hẹn gả công chúa cho Sơn Tinh.
Thủy Tinh cũng đem ngọc châu, đồi mồi, san hô, bao giống tôm cá quý đến
dâng vua. Nhưng Thủy Tinh đến chậm quá. Sơn Tinh đã rước công chúa về núi mất
rồi.
Thủy Tinh không lấy được công chúa nổi giận dâng nước lên bao vây núi.
Suốt ngày đêm, đất trời đen tối, mưa gió mịt mùng, đồng ruộng, đất đai ngập nước.
Sơn Tinh bình tĩnh tìm cách chống trả lại Thủy Tinh. Nước dâng cao bao nhiêu thì
Sơn Tinh lại hóa phép làm cho núi dâng cao lên bấy nhiêu. Quân của Sơn Tinh từ
trên núi ném đá tới tấp xuống nước làm cho quân lính của Thủy Tinh chết rất
nhiều. Xác cá, xác ba ba, thuồng luồng… nổi đầy mặt nước.
Thủy Tinh đánh mãi vẫn không thắng được Sơn Tinh. Cuối cùng Thủy Tinh
đành rút nước, lui quân về. Tuy vậy Thủy Tinh vẫn không quên được chuyện xưa.
Hàng năm cứ vào khoảng tháng bảy, tháng tám là Thủy Tinh lại dâng nước lên
đánh Sơn Tinh.
* Phân tích truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh:
bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà sửng
sốt kêu lên: - “Ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”.
Bà thấy lạ nên đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Một thời gian sau bà
bỗng có mang. Tận 12 tháng sau, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là
Gióng. Nhưng thằng bé lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi
biết lẫy, cũng không biết nói biết cười gì cả.
Ngày ấy có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung hăng tàn ác,
cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân Vương, hình dung cổ quái dữ tợn. Chúng nó
đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương
nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ
giả đi khắp nơi trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước.
Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc
nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng:
- Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói là vậy, thì biết bao giờ mới đi đánh giặc
giúp vua được đây!
Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng:
- Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!
24
Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm
giềng. Mọi người đổ tới, ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói:
- Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.
Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhà nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng:
- Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến để làm gì?
Gióng trả lời rất chững chạc:
- Ông hãy về bảo với vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một
giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi quân giặc.
Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập
tức phi ngựa về tâu vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn
bay, sải từng bước dài hàng chục con sào, rung chuyển cả trời đất. Chỉ trong chớp
25