Hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng việt - Pdf 38

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

BÙI THANH TUYÊN

HIỆN TƢỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP
VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN
PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

BÙI THANH TUYÊN

HIỆN TƢỢNG BIỆT LẬP CÚ PHÁP
VÀ BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN
PHỤ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

i




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
TÁC GIẢ

Bùi Thanh Tuyên

XÁC NHẬN
CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN

XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

Nguyễn Văn Lộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ii





iii




2.4 Tiểu kết chương 2 ...................................................................................... 65
Chƣơng 3. BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA TRẠNG NGỮ VÀ ĐỊNH NGỮ ... 66
3.1 Nhận xét chung .......................................................................................... 66
3.2 Biến thể biệt lập của trạng ngữ .................................................................. 66
3.2.1 Vài nét về các biến thể của trạng ngữ................................................. 66
3.2.2 Các biến thể biệt lập về hình thức của trạng ngữ ............................... 71
3.3 Biến thể biệt lập của định ngữ ................................................................... 79
3.3.1 Vấn đề xác định vị trí cơ bản của định ngữ ........................................ 79
3.3.2 Các kiểu biến thể biệt lập của định ngữ ............................................. 81
3.4 Tiểu kết chương 3 ...................................................................................... 88
Chƣơng 4. BIẾN THỂ BIỆT LẬP CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÂU XÉT
VỀ MẶT CÚ PHÁP GIAO TIẾP (NGỮ DỤNG) ........................................... 89
4.1 Vài nét về cú pháp giao tiếp ...................................................................... 89
4.2 Tác dụng của các biến thể biệt lập đối với việc xác lập chủ đề, liên kết
chủ đề và tạo chủ đề tương phản ..................................................................... 92
4.3 Tác dụng nhấn mạnh.................................................................................. 96
4.4 Tính đơn phong cách của một số biến thể biệt lập của các thành phần câu .. 100
4.5 Tiểu kết chương 4 .................................................................................... 103
KẾT LUẬN....................................................................................................... 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 107
NGUỒN TƢ LIỆU TRÍCH DẪN ................................................................... 111

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn. Về lí luận, việc nghiên cứu vấn đề này sẽ
giúp làm rõ thêm lí thuyết về biệt lập cú pháp, về thành phần câu, đặc biệt là
các biến thể của thành phần câu trong lời nói và các nhân tố chi phối sự hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1




thực hóa mô hình cú pháp của câu trong lời nói. Về mặt thực tiễn, kết quả
nghiên cứu đề tài này sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu
và dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Hiện tượng biệt
lập cú pháp và biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng
Việt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử ngôn ngữ học, câu là đơn vị ngữ pháp được nghiên cứu từ
rất sớm. Từ thời cổ đại đến nay, câu đã được các trường phái, các khuynh
hướng ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau.
Trong đó, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên
cứu về các thành phần câu.
Trong ngôn ngữ học nước ngoài, vấn đề biệt lập cú pháp và biến thể biệt
lập của các thành phần câu đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả khác nhau.
Chẳng hạn, trong cuốn Cú pháp tiếng Nga [55], tác giả E.M.Galkina Phêđôruk đã dành hẳn một mục để miêu tả về các thành phần thứ yếu biệt lập
của câu như định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ biệt lập.
Hiện tượng biệt lập cú pháp cũng được L.Tesnière đề cập tới khi bàn về
các diễn tố biệt lập của động từ. Theo quan điểm của L.Tesnière, trong câu,

Chẳng hạn, biệt tố tình thái tham gia vào việc tạo cấu trúc thức, biệt tố cảm
thán tạo nên tính tình thái cảm thán, biệt tố gọi - đáp tham gia vào việc thiết
lập và duy trì quan hệ giao tiếp... Diệp Quang Ban khẳng định: “Tôi coi các
biệt tố đều là thành phần của câu... Việc tách ra cái gọi là “biệt tố” cốt phân
biệt chúng với tư cách những yếu tố cú pháp không tham gia vào việc hình
thành nghĩa biểu hiện của câu với các gia ngữ là những yếu tố có tham gia
vào nhiệm vụ này”. [4, Tr.416].
Tuy nhiên, theo quan điểm của Đào Thị Vân, phần phụ chú không được
coi là thành phần câu. Mặc dù vậy, hiện tượng biệt lập cú pháp của phần phụ
chú (tạm thời chưa xét đến việc phần phụ chú có được coi là thành phần câu
hay không) là vấn đề đã được tác giả đề cập trong công trình Phần phụ chú
trong câu tiếng Việt [51].
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [46], các tác giả cũng đề cập đến tính
biệt lập của các thành phần câu. Trong công trình này, các tác giả đã dành trọn
chương II để nói về các thành phần ngoài nòng cốt gồm thành phần than gọi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

3




thành phần chuyển tiếp, thành phần chú thích, thành phần tình huống và thành
phần khởi ý. Các tác giả cho rằng tất cả các thành phần ngoài nòng cốt đều có
tính độc lập nhất định, trong đó “thành phần than gọi có tính chất độc lập hơn
cả, trong quan hệ với nòng cốt” [46, Tr.235]. Tương tự như vậy, khi nói về
thành phần chuyển tiếp, các tác giả khẳng định: “Do vai trò chuyển tiếp của nó,
thành phần này thường được đặt ở trước nòng cốt. Bằng ngữ điệu, nó cũng
được tách khỏi nòng cốt khá rõ” [46, Tr.236].
Bùi Minh Toán cũng đã thừa nhận sự tồn tại của các thành phần biệt

về hình thức này làm cho mối quan hệ hình thức giữa động từ và kết tố đối thể
ở trước động từ bị yếu đi. Cũng như trong trường hợp kết tố chủ thể chủ động
khi chuyển ra sau động từ không có khả năng chiếm vị trí liền sau động từ, kết
tố đối thể khi được chuyển lên vị trí trước động từ là vị trí không phải vốn có
của mình, nó cũng không có khả năng chiếm vị trí liền trước động từ - vị trí đặc
trưng của kết tố chủ thể. Do tính biệt lập về hình thức của kết tố đối thể ở trước
động từ, nên “sau động từ, trong một số trường hợp, có thể xuất hiện một kết tố
đối thể nữa (thường được biểu hiện bằng đại từ và có quan hệ đồng nhất hoặc
chỉnh thể - bộ phận với kết tố đối thể ở trước động từ)” [20, Tr.116].
Tóm lại, hiện tượng biệt lập cú pháp của các thành phần phụ của câu đã
được ngôn ngữ học trong và ngoài nước đề cập đến từ lâu. Nhưng cho đến nay,
hiện tượng này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và
chuyên sâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ bản chất của hiện tượng biệt lập
cú pháp, chỉ ra những đặc điểm và giá trị của những biến thể biệt lập của các
thành phần phụ trong câu tiếng Việt; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu tiếng Việt nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về biệt lập cú pháp và hiện tượng biệt lập của
các thành phần câu.
- Nghiên cứu đặc điểm và phương thức tạo ra hiện tượng biệt lập cú pháp
và các biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu, tiến hành phân loại và
miêu tả các kiểu biến thể biệt lập của các thành phần phụ của câu trong tiếng Việt.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

5

như: khái niệm biệt lập cú pháp, khái niệm biến thể biệt lập cú pháp…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

6




+ Làm rõ thêm đặc điểm ý nghĩa và hình thức của các biến thể biệt lập của
các thành phần phụ trong câu tiếng Việt, mối quan hệ giữa mô hình cấu trúc của
câu với các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời nói.
- Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu hiện tượng biệt lập cú pháp và biến thể biệt lập của
các thành phần phụ trong câu tiếng Việt có thể được sử dụng để biên soạn các
tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường theo
hướng đổi mới.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Biến thể biệt lập của chủ ngữ và bổ ngữ
Chương 3: Biến thể biệt lập của trạng ngữ và định ngữ
Chương 4: Biến thể biệt lập của các thành phần câu xét về mặt cú pháp
giao tiếp (ngữ dụng)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7





8




thống luôn được định nghĩa dựa vào hai mặt: khối lượng và chức năng. Cụ thể,
câu được định nghĩa như sau: “Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang
một thông báo tương đối hoàn chỉnh” [5, Tr.363].
Tuy không nêu được dấu hiệu hình thức đặc trưng của câu, nhưng cách
định nghĩa này cũng có những ưu điểm cơ bản. Không chỉ ngắn gọn, dễ nhớ,
định nghĩa này còn mang tính hệ thống rõ rệt, nêu lên được những tiêu chí cần
thiết cho phép xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn
thuộc cùng hệ thống.
Có thể nói rằng, cho đến nay, vẫn chưa có được cách định nghĩa câu thỏa
mãn được tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp. Trên cơ sở xem xét hai khuynh
hướng chính trong việc định nghĩa câu với một số cách định nghĩa cụ thể,
chúng tôi tạm thời chọn cách định nghĩa câu dựa vào mặt khối lượng và chức
năng vì tính ngắn gọn, rõ ràng, hệ thống và tiện lợi của nó. Theo đó, câu được
định nghĩa là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ.
1.1.2 Câu và phát ngôn
Câu và phát ngôn không phải là hai đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác
nhau như âm vị và hình vị. Việc phân biệt câu với phát ngôn cũng tương tự như
việc phân biệt âm vị với âm tố.
Theo V.S.Panfilov, phát ngôn là sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời
nói. “Thuật ngữ này bao gồm một phạm vi rộng các sự kiện, tuy chỉ một phần
trong số các sự kiện này là sự hiện thực hóa mô hình cấu trúc câu… Ở dạng
chung nhất, phát ngôn là bất kì một đơn vị lời nói nào có ngữ điệu trọn vẹn”
[29, Tr.100]. Theo định nghĩa này thì các nhận xét mang sắc thái tình cảm,
những câu trả lời biểu hiện sự đồng ý hay không đồng ý và những đơn vị thể

Có thể thấy, ở bậc trừu tượng, khái quát, câu không gắn với tình huống sử
dụng mà ở trạng thái cô lập, và việc phân tích câu cũng chỉ tập trung vào mặt cấu
tạo ngữ pháp. Nhưng ngày nay, câu không chỉ được nghiên cứu riêng về mặt cấu
trúc, mà còn được nghiên cứu ở mặt sử dụng. Nghĩa là, câu được xét ở cả
phương diện cấu trúc lẫn tình huống sử dụng cụ thể. Do vậy, khái niệm câu cũng
không chỉ bó hẹp trong phạm vi câu - cấu trúc nữa, mà là câu - phát ngôn.
1.1.3 Vị trí của câu trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp
Trong ngôn ngữ học, các đơn vị của ngôn ngữ thường được xác định
trong mối quan hệ với các cấp độ ngôn ngữ. Về bản chất, các đơn vị ngôn ngữ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

10




vốn có tính trừu tượng. Chúng chỉ tồn tại cụ thể trong những biến thể nhất định.
Chẳng hạn, âm vị tồn tại và được thể hiện trong những biến thể âm vị, hình vị
tồn tại trong các hình tố, từ tồn tại trong các biến thể ngữ âm, cú pháp… Các
đơn vị ngôn ngữ có thể xác định từ ba mặt chính sau: mặt tổ chức bên trong,
mặt so sánh khối lượng và mặt chức năng.
Nói đến mặt tổ chức bên trong của các đơn vị ngôn ngữ là nói đến “việc
phân tích chúng thành thành tố, việc đánh giá số lượng, chất lượng của các
thành tố cũng như việc xác lập quan hệ giữa các thành tố, đánh giá số lượng,
chất lượng của các mối quan hệ có thể có đó” [5, Tr.347]. Nói đến mặt so sánh
khối lượng là nói đến sự phân biệt đơn vị lớn, đơn vị nhỏ. Còn xác định các
đơn vị ngôn ngữ dựa vào mặt chức năng chính là việc dựa vào các đặc điểm
như: khu biệt nghĩa, mang nghĩa, vận dụng độc lập, thông báo.
Dựa vào ba mặt trên đây, khi xác định các đơn vị ngôn ngữ và vị trí của


Vận dụng
độc lập
-

Hình vị

+

+

-

-

Từ

+

+

+

-

Câu

+

+

Tổ hợp âm vị

Tổ hợp hình vị

Tổ hợp từ

Tổ hợp câu

Âm vị

Hình vị

Từ

Câu

Chú thích:
Theo con đường thuần tổ chức
Theo con đường nửa tổ chức, nửa chức năng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

12




1.1.4 Khái quát về các bình diện của câu
Trong việc nghiên cứu câu, việc xác định các bình diện của câu cho đến
nay vẫn còn các vấn đề tranh luận.
Simon C.Dik cho rằng các quan hệ chức năng trong câu được chỉ định ở



nghĩa học (ngữ nghĩa) và bình diện dụng học (dụng pháp). Lí thuyết về ba
bình diện của câu còn được gọi chung là lý thuyết tam phân. Trong đó, nghiên
cứu bình diện cú pháp là nghiên cứu tổ chức cú pháp của câu với các thành
phần như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…; nghiên cứu bình diện nghĩa học là
nghiên cứu nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu), nghĩa tình thái trong
câu; nghiên cứu bình diện dụng học của câu là nghiên cứu câu gắn với chủ thể
nói năng, theo đó xác định cấu trúc giao tiếp của câu với các thành tố như đề,
thuyết, tiêu điểm thông báo, đồng thời xác định các kiểu câu xét theo mục
đích giao tiếp.
1.1.5 Bình diện cú pháp của câu
1.1.5.1 Bản chất của bình diện cú pháp
Về bản chất của bình diện cú pháp, cho đến nay vẫn tồn tại hai quan niệm.
1) Coi bình diện cú pháp là bình diện hình thức thuần túy.
Quan điểm trên được thể hiện rõ trong ý kiến của Cao Xuân Hạo. Ông
cho rằng: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định
bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy” [15, Tr.8]. Theo tác giả, các chức
năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ… được xác định không
phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà vào mối quan hệ ngữ
pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng các phương tiện hình thức gọi
là tác tử cú pháp.
Quan niệm này đã mâu thuẫn với lí thuyết ngữ pháp đại cương mà theo
đó, các đơn vị ngữ pháp được coi là đơn vị hai mặt: hình thức và ý nghĩa. Quan
điểm này khiến cho việc xác định các thành phần cú pháp của câu dựa vào
nghĩa gặp những khó khăn, mâu thuẫn rất khó khắc phục. Đồng thời, nó đã phủ
nhận sự tồn tại của các thành phần câu đã được thừa nhận rộng rãi như chủ
ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…
2) Coi bình diện cú pháp là bình diện có cả mặt hình thức lẫn mặt ý nghĩa.
Cơ sở để xác định sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự đối lập với nghĩa

là người dành nhiều sự quan tâm nhất cho việc xác định khái niệm quan hệ cú
pháp. V.S.Panfilov cho rằng “sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai từ
(phương án tối thiểu) được chứng minh thông qua khả năng sử dụng độc lập
của tổ hợp những từ này, mà phần nào đó là khả năng sử dụng tổ hợp này với
tư cách là biến thể tỉnh lược của cấu trúc phức tạp hơn” [29, Tr.77, 78].
Gần với định nghĩa của V.S.Panfilov là định nghĩa của các tác giả cuốn
Dẫn luận ngôn ngữ học: “Quan hệ ngữ pháp là quan hệ hình tuyến giữa các từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

15




tạo ra những tổ hợp từ có khả năng được vận dụng độc lập, được xem như là
dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn và có ít nhất một thành tố có khả
năng được thay bằng từ nghi vấn” [14, Tr.254].
Về cơ bản, Nguyễn Mạnh Tiến cũng tán thành cách xác định quan hệ cú
pháp theo hướng dựa vào dấu hiệu hình thức mang tính khách quan mà V.S.
Panfilov đưa ra, nhưng ông đã có sự bổ sung, điều chỉnh. Theo tác giả, “Quan
hệ ngữ pháp là một dạng của mối quan hệ hình tuyến giữa các đơn vị ngữ pháp
(hình vị, từ, cụm từ) nảy sinh trên cơ sở ý nghĩa của hình vị hoặc từ tạo thành
các tổ hợp tự thân có ý nghĩa nhất định và có khả năng hoạt động độc lập hoặc
hoạt động với tư cách là thành tố của cấu trúc phức tạp hơn” [42, Tr.53].
Như vậy, có thể thấy rằng sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai
từ được xác định dựa trên cả hai tiêu chí: tiêu chí nội dung (mối quan hệ ý
nghĩa giữa chúng) và tiêu chí hình thức (khả năng sử dụng độc lập hoặc sử
dụng với tư cách là câu tỉnh lược của tổ hợp do chúng tạo thành). Theo cách
hiểu này, hoàn toàn có thể phân biệt trường hợp giữa hai từ có quan hệ ngữ
pháp với trường hợp giữa hai từ chỉ có quan hệ thuần túy ngữ nghĩa.

thành tố kia; không quy định bản chất, vai trò, chức năng của cấu trúc; là thành
tố bị chi phối về ý nghĩa và hình thức. Xét theo vai trò bên ngoài, thành tố phụ
là thành tố không có khả năng đại diện cho cấu trúc trong mối quan hệ cú pháp
với yếu tố bên ngoài. Thành tố có đặc điểm ngược lại những đặc điểm trên là
thành tố chính.
Theo nguyên tắc trên, có thể xác định hai kiểu quan hệ cú pháp chính: quan
hệ phụ thuộc và quan hệ đẳng lập. Ở kiểu quan hệ phụ thuộc giữa hai thành tố,
một thành tố có vai trò chính, thành tố còn lại có vai trò phụ thuộc. Ở kiểu quan hệ
đẳng lập, các thành tố trong mối quan hệ này có vai trò bình đẳng, ngang hàng
nhau, nghĩa là không thành tố nào có chức năng đối với thành tố nào.
1.1.5.3 Hệ thống thành phần cú pháp của câu
Thành phần cú pháp của câu là các thành tố cú pháp (các thực từ) tham
gia vào các mối quan hệ cú pháp với tư cách là yếu tố chính (được bổ sung) hay
các yếu tố phụ thuộc (bổ sung). Như vậy, thành phần câu không chỉ bao gồm
thành phần chính và các thành phần phụ có quan hệ trực tiếp với các thành
phần chính mà gồm tất cả các thành tố cú pháp (các thực từ) có mặt trong câu
(gồm cả bổ ngữ và định ngữ của từ).
1) Thành phần chính của câu - vị ngữ
Theo quan niệm mới, vị ngữ được coi là đỉnh cú pháp của câu. Tác giả
Nguyễn Văn Lộc định nghĩa: “Vị ngữ là thành phần chính duy nhất của câu có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

17




ý nghĩa ngữ pháp hoạt động hay đặc điểm, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng
vị từ với ý nghĩa, hình thức thời thể nhất định, chiếm vị trí trung tâm của câu”
[23, Tr.108].



trị của vị từ, sau khi xác định được vị từ giữ vai trò vị ngữ, ta dễ dàng xác định
được số lượng các thành phần bắt buộc còn lại. Ngoài ra, vị ngữ còn chi phối
khả năng cải biến của câu. Chẳng hạn, nếu vị ngữ là động từ nội hướng thì chủ
ngữ bên nó thường có khả năng cải biến vị trí nhưng không có khả năng cải
biến bị động; ngược lại, nếu vị ngữ là động từ ngoại hướng thì chủ ngữ thường
có khả năng tham gia cải biến bị động nhưng hầu như không có khả năng cải
biến vị trí.
- Vị ngữ là thành tố duy nhất có khả năng quan hệ cú pháp với các yếu tố
ngoài cấu trúc. Khi hai cụm chủ vị quan hệ với nhau, trong nhiều trường hợp,
nếu lược bỏ chủ ngữ thì bộ phận còn lại không những đứng được mà bản chất
của quan hệ cú pháp trong đó cũng không thay đổi. Ngược lại, nếu lược bỏ vị
ngữ thì cấu trúc sẽ không đứng được.
So sánh:
Nếu trời mưa thì chúng ta nghỉ (+)
Nếu mưa thì chúng ta nghỉ (+)
Nếu trời mưa thì nghỉ (+)
Nếu mưa thì nghỉ (+)
Nếu trời thì chúng ta nghỉ ( - )
Nếu trời thì chúng ta ( - )
Như vậy, không thể cho rằng chủ ngữ và vị ngữ ngang hàng nhau về vai
trò ngữ pháp. Trong cấu trúc của câu nói chung, vị ngữ là thành phần có vai trò
quan trọng nhất, là trung tâm tổ chức câu.
2) Các thành phần phụ của câu
a) Chủ ngữ
“Chủ ngữ là thành phần cú pháp phụ của câu có ý nghĩa cú pháp chủ
thể, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ không được dẫn nối bởi quan
hệ từ phụ thuộc, chiếm vị trí liền trước vị từ” [23, Tr.108].
Chủ ngữ có những đặc điểm chính sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status