Sáng kiến kinh nghiệm xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập để dạy tốt một tiết dạy - Pdf 38

TRƯỜNG THPT TRƯỜNG XUÂN
---------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP
ĐỂ DẠY TỐT MỘT TIẾT DẠY
BÀI 12: DI TRUYỀN LIÊN KẾT VỚI GIỚI TÍNH
VÀ DI TRUYỀN NGOÀI NHÂN
SINH HỌC 12 - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

Giáo viên: Võ Huỳnh Vương
Môn: Sinh
Tổ: Hoá – Sinh


Tháng 03 năm 2012

2


1. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế đổi mới toàn diện nền giáo dục ở nước ta hiện nay thì phương pháp dạy
học là một trong những yếu tố được chú trọng hàng đầu. Có nhiều phương pháp dạy học
tích cực đã được vận dụng vào giảng dạy và đã đem lại nhiều kết quả.
Điều trước tiên là khi giáo viên vận dụng bất kỳ phương pháp nào thì vấn đề quan trọng
là phải sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập để tổ chức quá trình dạy học nhằm đạt được mục
tiêu đề ra. Như vậy hệ thống câu hỏi, bài tập được xây dựng phải có giá trị và chính xác.
Nhưng trong thực tế vấn đề đặt câu hỏi, bài tập trong tiết dạy của từng giáo viên đôi lúc có
những điều chưa hợp lý.
Vấn đề thứ hai là giáo viên thường sử dụng câu hỏi,bài tập giống nhau cho tất cả các
lớp dẫn đến hiệu quả không cao do các lớp có trình độ nhận thức khác nhau. Nếu yêu cầu

Câu hỏi, bài tập sinh học được thiết kế theo những nguyên tắc cơ bản
2.1.3.1. Quán triệt mục tiêu dạy-học
Mục tiêu dạy-học là mục tiêu rộng hay mục tiêu cụ thể đến từng đơn vị bài học, được
hiểu là cái đích cần đạt được của quá trình dạy-học.
Quán triệt mục tiêu dạy-học là nguyên tắc đầu tiên ta cần chú ý đến trong quá trình thiết
kế câu hỏi, bài tập.
Xác định được mục tiêu bài học thì người giáo viên mới có thể xác định được biện
pháp, phương pháp, con đường dạy học, hình thức tổ chức dạy học. Từ đó người giáo viên
3


có thể thiết kế được hoạt động học tập cho học sinh bằng những câu hỏi, bài tập và việc
giải quyết các câu hỏi, bài tập đó chính là thực hiện mục tiêu đề ra.
Mục tiêu của bài học là yêu cầu cần đạt được của người học, nhiệm vụ học tập mà học
sinh phải hoàn thành; học sinh phải đạt được tri thức, kỹ năng gì và có thái độ, hành động
như thế nào sau khi học xong nội dung bài. Câu hỏi, bài tập chính là phương tiện qui định,
định hướng cách tìm tòi nội dung học tập, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục
nhân cách.
Như vậy, phải xác định được mục tiêu dạy học (dạy gì ? học gì ?) thì việc xây dựng câu
hỏi, bài tập mới có thể đạt hiệu quả. Không xác định được mục tiêu dạy học thì những câu
hỏi được đặt ra sẽ không thể hiện đúng vai trò của nó trong quá trình dạy học.
2.1.3.2 Đảm bảo tính chính xác của nội dung
Câu hỏi, bài tập dùng để mã hóa nội dung dạy-học nên cần đảm bảo tính chính xác
khoa học. Xây dựng câu hỏi, bài tập phải đảm bảo tính chính xác của nội dung.
Câu hỏi, bài tập không chính xác nội dung thì không thể định hướng tìm tòi của học
sinh và câu hỏi, bài tập đó sẽ không phải là phương tiện để thực hiện mục tiêu dạy học.
Tính chính xác của nội dung không chỉ ở các dấu hiệu bên ngoài mà còn phải được thể
hiện ở các dấu hiệu bản chất bên trong. Hiểu sai nội dung thì câu hỏi, bài tập xây dựng
được hoàn toàn không có giá trị. Câu hỏi, bài tập là phương tiện để thực hiện các mục tiêu
dạy học mà bản thân chúng lại không chính xác về nội dung thì quá trình dạy học sẽ không



Câu hỏi, bài tập gắn với thực tiễn, gần gũi đời sống hằng ngày, giải thích được các vấn
đề của thế giới xung quanh thì học sinh sẽ cảm thấy điều mình học được rất gần gũi, rất
thực tế và có thể ứng dụng vào cuộc sống. Điều này sẽ giúp học sinh yêu thích môn học
hơn và tích cực học tập hơn.
Các câu hỏi, bài tập không gắn với thực tế và mang tính lý luận sẽ làm cho học sinh dễ
chán nản, không tạo được hứng thú học tập cho học sinh. Trong tiết học nếu sử dụng nhiều
câu hỏi dạng này và thiếu liên hệ thực tiễn thì học sinh khó tiếp thu được nội dung bài và
hiệu quả tiết dạy sẽ thấp.
Tóm lại, việc xây dựng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học đòi hỏi người giáo viên
phải tuân thủ các nguyên tắc trên để các câu hỏi xây dựng được có thể trở thành phương
tiện để người giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh và thực hiện các mục
tiêu của quá trình dạy học. Thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập người giáo viên có thể kích
thích được tư duy học sinh, phát huy tính tích cực của các em từ đó có thể tăng cường khả
năng nhận thức và rèn luyện các kỹ năng tư duy cho học sinh.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thời gian và phạm vi khảo sát thực trạng
Tháng 10 năm 2011 tại trường THPT Trường Xuân.
2.2.2. Quá trình khảo sát thực trạng
- Phát phiếu điều tra giáo viên. (xem phụ lục 1)
- Trong các tiết dự giờ lưu ý cách sử dụng câu hỏi của giáo viên.
2.2.3. Kết quả khảo sát thực trạng
Qua các tiết dự giờ giáo viên sử dụng câu hỏi, bài tập trong tiết dạy có một số vấn đề:
- Về ưu điểm: có sử dụng các dạng câu hỏi ở các mức độ khác nhau trong tiết dạy, có
đặt các câu hỏi kích thích tư duy cho học sinh để các em tìm tòi.
- Về hạn chế: một số câu hỏi chưa rõ nghĩa đôi khi học sinh không hiểu ý giáo viên
muốn hỏi gì, các câu hỏi chưa tạo thành một hệ thống nên học sinh khó tiếp thu bài một
cách có hệ thống, cách sử dụng câu hỏi chưa phát huy hết hiệu quả do kết hợp với phươg
tiện dạy học chưa tốt.

câu hỏi giáo viên đặt ra thường ở mức độ biết.
- Một số ít câu hỏi, bài tập đặt ra học sinh không quan tâm, chứng tỏ câu hỏi đưa ra
không kích thích học sinh tư duy.
2.3. Các biện pháp giải quyết thực trạng
- Giáo viên cần nghiên cứu kỹ các kỹ thuật đặt câu hỏi, bài tập sao cho rõ nghĩa.
- Khi xây dựng, sử dụng câu hỏi, bài tập phải tuân thủ theo 5 nguyên tắc.
- Các lớp khác nhau có thể sử dụng câu hỏi ở các mức độ khác nhau tuỳ trình độ nhận
thức của học sinh từng lớp nhưng những câu hỏi này cần phải được chuẩn bị trước. Theo
các bước
+ Xác định mục tiêu bài dạy.
+ Xác định các nội dung của bài có thể mã hoá thành câu hỏi bài tập.
+ Đặt câu hỏi, bài tập theo các mức độ và dự định sử dụng cho khâu nào trong quá
trình dạy học theo mẫu sau:
Nội dung

Nghiên cứu tài
Củng cố, hoàn
liệu mới
thiện kiến thức
Các đề mục của Thường là các Thường là các
bài học
dạng câu hỏi ở dạng câu hỏi ở
mức độ biết
mức độ hiểu, vận
dụng
Tổng số câu hỏi

Kiểm tra, đánh
giá
Thường là các

- HS yêu thích môn học hơn khi giải thích được cơ chế xác định giới tính, sự di truyền
các tính trạng do gen nằm trên NST giới tính quy định
- Giáo dục HS tư tưởng trọng nam khinh nữ.
2.3.1.2. Sắp xếp các câu hỏi, bài tập theo các khâu của quá trình dạy học
Nội dung

Nghiên cứu tài liệu Củng cố, hoàn thiện
mới
kiến thức
I. Di truyền liên kết với 1. NST giới tính là gì? 1. Thế nào là di
giới tính
Dựa vào H12.1, mô tả truyền liên kết với
1. NST giới tính và cơ cặp NST XY ở người. giới tính ?
chế tế bào học xác định
2. Cặp NST giới tính
giới tính bằng NST
là cặp NST tương
a. NST giới tính
đồng hay không
tương đồng ? Giải
thích.
b. Một số cơ chế tế bào 2. Trình bày cơ chế 3. Viết sơ đồ cơ chế
học xác định giới tính tế bào học xác định xác định giới tính
bằng NST
giới tính ở một số bằng NST ở một số
nhóm động vật khác loài động vật.
nhau.
2. Di truyền liên kết với 3. Nhận xét kết quả 4. Kết quả thí nghiệm
giới tính
phép lai thuận và về sự di truyền màu

giá

1. Giải thích tại tỉ
lệ nam: nữ ở
người xấp xỉ 1:1?
2. Bệnh mù màu
do gen lặn a nằm
trên trên NST X
quy định. Nếu bố
bị mù mà, mẹ
không bị bệnh
sinh được một
người con trai bị
bệnh mù màu.
Người con trai
này nhận gen gây
bệnh từ bố hay
mẹ? Giải thích

3. Vấn đề
phân biệt
giới tính ở
vật là rất

sớm
được
động
quan
7


thí nghiệm của Coren
tự thụ phấn thì kết
quả F2 sẽ thế nào?
7. Phân biệt di truyền
ngoài nhân với di
truyền liên kết với
giới tính

7

3

2.3.2. Sử dụng câu hỏi, bài tập để xây dựng một giáo án
Bài 12: Di truyền liên kết với giới tính và di truyền ngoài nhân
Sinh học 12 (chương trình chuẩn)
(Xem phụ lục 2)
2.4. Kết quả đạt được
Tôi đã áp dụng bảng câu hỏi để soạn giảng và thực nghiệm ở lớp 12CB3
Lớp 12CB5 là lớp đối chứng.
Kết quả
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng
Lớp
Số HS
1 câu

3.2%
6.4% 19.4% 38.8%
13%
9.6%
6.4%
29%
71%

Đúng
8 câu
0
0
1
3.2%

Qua kết quả trên chúng ta nhận thấy:
- Lớp 12CB3 có tỉ lệ % từ trung bình trở lên cao hơn lớp 12CB5.
- Tuy nhiên lớp 12CB3 không có em nào làm đúng cả 8 câu trong khi lớp 12CB5 có 1
em làm đúng cả 8 câu.
8


Nguyên nhân kết quả thực nghiệm đạt như vậy là do lớp 12CB3 học sinh yếu hơn lớp
12CB5 nên trong quá trình soạn giảng chỉ áp dụng các các câu hỏi vừa sức để học sinh nắm
được các kiến thức cơ bản nhất đủ để đạt điểm trung bình. Lớp 12CB5 mặc dù có em đúng
cả 8 câu nhưng tỉ lệ dưới trung bình cao hơn lớp 12CB3 chứng tỏ nếu không áp dụng
phương pháp hỏi đáp với hệ thống câu hỏi phù hợp thì sinh học sinh khá giỏi có thể tiếp
thu được bài học nhưng học sinh trung bình trở xuống sẽ khó tiếp thu các kiến thức cơ bản
và khó đạt được mức trung bình.
Như vậy việc giáo viên soạn giảng áp dụng phương pháp hỏi đáp với hệ thống câu hỏi



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập, Đặng Hữu Lanh và Mai Sỹ Tuấn, 2009. Sách giáo khoa
Sinh học 12. Nxb Giáo dục.
2. Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập, Đặng Hữu Lanh và Mai Sỹ Tuấn, 2009. Sách giáo viên
Sinh học 12. Nxb Giáo dục.
3. Lê Thanh Oai, 2010. Chuyên đề xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học Sinh học,
trường Đại học Vinh.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status