Tiểu luận môn kế toán quốc tế kế toán công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính ở việt nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kế toán quốc tế - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

KẾ TOÁN QUỐC TẾ

KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI
SINH TRONG CÁC DOANH NGHIÊP PHI
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KẾ TOÁN
QUỐC TẾ
Họ và tên: Lý Minh Triết
Mã SV: 7701251065
LỚP: 16C1ACC52201
KHÓA 25 (2015 – 2017)
GVHD: TS. PHẠM QUANG HUY

TP. HCM, tháng 08 năm 2016


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................

TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2016


MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sự lớn mạnh của của các doanh nghiệp Việt Nam cùng với sự hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới, đã và đang thúc đẩy không ngừng xu thế hội nhập giữa
quy định về kế toán Việt Nam (VAS) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn
mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Điển hình nhất, trong những năm gần
đây Bộ Tài Chính vừa mới ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC thay thế cho quyết
định 15/2006/QĐ-BTC trước đây về chế độ kế toán doanh nghiệp để nhằm có những
bước đi đầu tiên trong tiến trình hội nhập giữa kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế.
Tuy nhiên, mặc dù thông tư 200/2014/TT-BTC đã được sửa đổi khá nhiều quy định về
kế toán thậm chí còn quy định các chuẩn mực kế toán trái với thông tư này đều không
còn hiệu lực (Điều 128 – thông tư 200) nhưng đáng tiếc rằng thông tư 200 vẫn còn “bỏ
ngỏ” về các sửa đổi liên quan tới việc trình bày các công cụ tài chính. Trong khi đó, sự
phát triển của các công cụ tài chính đặc biệt là các công cụ tài chính phái sinh trên thị
trường quốc tế đang ngày càng phát triển, ngày càng lan rộng khắp các nước.
Hiện nay, Bộ tài chính chỉ mới ban hành thông tư 210/2009/TT-BTC “Hướng
dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày Báo cáo tài chính và thuyết minh
thông tin đối với công cụ tài chính” - quy định rõ các khái niệm về các công cụ tài
chính nhưng lại chưa có những hướng dẫn cụ thể về phương pháp xác định giá trị hợp
lý của các công cụ tài chính cũng như về việc xử lý các nghiệp vụ kế toán liên quan tới
các công cụ tài chính phái sinh. Xuất phát từ thực tiễn đó, từ thực tế hội nhập nghề kế
toán, sau một thời gian nghiên cứu tác giả lựa chọn đề tài “kế toán công cụ tài chính
phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện

hiện nay.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp
phi tài chính. Hiện nay, dưới góc độ pháp lý của Việt Nam, các doanh nghiệp được
chia thành hai loại chính: Doanh nghiệp tài chính kinh doanh tiền tệ - loại hình doanh
nghiệp này cần phải thỏa mãn điều kiện về vốn pháp định và các quy định khác của
nhà nước và Doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông thường.
Doanh nghiệp tài chính bao gồm: Công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, các
ngân hàng… không thuộc đối tượng nghiên cứu của bài viết. Bài viết chỉ tập trung
nghiên cứu các doanh nghiệp phi tài chính - các doanh nghiệp có hoạt động chính là
cung cấp hàng hóa, dịch vụ
5. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm tư
duy logic, tiếp cận hệ thống, so sánh…. Từ đó, bài viết tổng hợp, phân tích, đánh giá
thực trạng về kế toán công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính
ở Việt Nam hiện nay.
6. Những đóng góp của đề tài


Bài viết nhằm cung cấp tầm trọng trong việc sử dụng các công cụ tài chính phái
sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời cung cấp
các phương pháp nhận diện, ghi nhận, xử lý kế toán đối với các nghiệp vụ liên quan
tới các công cụ tài chính phái sinh.
7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, tiểu luận gồm 4 chương:

cụ tài chính phái sinh ở Đức là 78% so với Mỹ là 58%. Bên cạnh việc xem xét về quy
mô sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở cả hai nước. Bài viết khẳng định rằng ở cả
hai nước việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa cho các giao dịch
ngoại tệ là phổ biến nhất, theo sau đó là việc phòng ngừa rủi ro lãi suất và cuối cùng là
việc phòng ngừa rủi ro giao dịch hàng hóa dịch vụ. Ngược lại, với điểm tương đồng đó
ở hai nước có những điểm khác nhau trong việc lựa chọn công cụ tài chính phái sinh
cũng như quan điểm của họ về thị trường khi sử dụng công cụ tài chính phái sinh.
Những điểm khác biệt này sẽ có những thúc đẩy khác nhau trong kế toán công cụ tài
chính phái sinh cũng như việc quản lý các công cụ này trong các doanh nghiệp phi tài
chính của cả hai nước.
Lopes and Rodrigues (2007) trong bài viết “Accouting for financial instrument:
An analysis of the determinants of disclosure in the Portuguese stock exchange”. Bài
viết nghiên cứu mức độ công bố thông tin trong kế toán công cụ tài chính của các công
ty ở Bồ Đào Nha. Những quy định công bố của IAS 32 và IAS 39 được các công ty
nước này lựa chọn áp dụng. Phân tích trong mối quan hệ giữa đặc trưng cơ cấu vốn và
các quy định tại Bồ Đào Nha được giải thích thông qua lý thuyết thể chế. Bài viết
khẳng định rằng mức độ công bố thông tin chịu ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp,
[8]


loại doanh nghiệp kiểm toán, tình trạng niêm yết và tình trạng kinh tế. Nghiên cứu này
nhằm đề xuất việc cải thiện các báo cáo và sự can thiệt vào các quy định trên thị
trường vốn của nước này trong bối cảnh áp dụng bắt buộc IAS vào năm 2005.
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Thu Hiền (2010),“Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong
NHTM tại Việt Nam” (2010) đã đề cập đến những nguyên tắc, phương pháp kế toán cơ
bản nhằm phản ánh các nghiệp vụ về công cụ tài chính trong các ngân hàng thương
mại Việt Nam. Tuy nhiên hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp
phi tài chính có những điểm khác biệt so với Ngân hàng thương mại vẫn chưa được
xem xét, nghiên cứu.

giá trị của các công cụ này. Bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề về việc sử
dụng công cụ tài chính chưa đi sâu phân tích về công cụ phái sinh được sử dụng phòng
ngừa trong vấn đề nào.
Ngô Thị Thùy Linh (2015), “Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở
Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro” , bài viết nêu lên thực trạng việc sử dụng công cụ
tài chính phái sinh ở các ngân hàng và các doanh nghiệp ở Việt Nam. Đánh giá các
mặt hạn chế trong việc phát triển thị trường phái sinh cũng như nêu ra các quy định
pháp lý hiện hành trong kế toán công cụ tài chính phái sinh. Song, tác giả chưa cung
cấp những phương thức hạch toán kế toán cho các nghiệp vụ liên quan tới kế toán
công cụ tài chính phái sinh.
1.3 Khe hỏng nghiên cứu
Thông qua quá trình tổng hợp nghiên cứu trong nước và ngoài nước, có thể thấy
rằng đã có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề kề toán công cụ tài chính nói chung
và kế toán công cụ tài chính phái sinh nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa
nêu bật lên được nhu cầu cần thiết đối với việc cần đẩy nhanh tiến trình xây dựng
chuẩn mực kế toán công cụ tài chính phái sinh. Các nghiên cứu chưa tập trung đi sâu
vào phân tích thực trạng của các công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp
phi tài chính hiện nay. Đồng thời chưa đưa ra được các giải pháp đồng bộ trong mối
quan hệ giữa các nhà lập chính sách và các ý kiến của các doanh nghiệp phi tài chính
về vấn đề xử lý kế toán đối với việc ghi nhận, xác định và công bố thông tin liên quan
đến các công cụ tài chính phái sinh trên báo cáo tài chính.

[10]


CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH
2.1 Nhận diện công cụ tài chính phái sinh
Theo bài viết “Tìm hiểu về chứng khoán phái sinh”- sở giao dịch chứng khoán


Bộ Tài chính: Công cụ tài chính phái sinh là một công cụ tài chính hoặc một hợp đồng
có đồng thời ba đặc điểm sau:
(a) Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng
hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả hoặc lãi suất, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số
tín dụng, hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp các chỉ số khác

[11]


này là các biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đến các bên tham
gia hợp đồng (còn được gọi là các biến số cơ sở);
(b) Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp
hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi
của các yếu tố thị trường;
(c) Được thanh toán vào một ngày trong tương lai.
Như vậy công cụ tài chính phái sinh gắn liền với một khoản phải thu (tài sản tài
chính) hoặc nợ phải trả tài chính trong tương lai, do đó cần được ghi nhận trên Bảng
cân đối kế toán.
2.2 Phân loại công cụ tài chính phái sinh
Về công cụ tài chính phái sinh, theo Ingersoll (1987): Theory of financial
dicision making. Một hợp đồng tài chính được gọi là một công cụ tài chính phái sinh
nếu giá trị của hợp đồng đó ở thời điểm đáo hạn T có thể được xác định hoàn toàn bởi
giá trị thị trường của tài sản cơ bản. Theo cách này ta hiểu tại thời điểm đáo hạn của
hợp đồng phái sinh thì giá trị của tài sản phái sinh được xác định hoàn toàn bởi giá trị
của các tài sản cơ bản, sau thời hạn này hợp đồng phái sinh không còn tồn tại nữa.
Công cụ tài chính phái sinh được chia thành 4 loại cơ bản: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp
đồng tương lai; Hợp đồng quyền chọn; Hợp đồng hoán đổi.
2.2.1 Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa hai bên

sàn (trung tâm môi giới) để mua hay bán một số loại hàng hóa chuẩn vào một ngày
trong tương lai. Giá được xác định ngay tại thời điểm ký hợp đồng. Hàng hóa chuẩn
trong giao dịch mua bán có thể là hàng hóa thông thường hoặc sản phẩm tài chính. Tại
ngày bắt đầu hợp đồng, cả người mua và người bán đều phải đặt cọc một khoản tiền
tối thiểu gọi là tiền ký quỹ tại Sở Giao dịch. Mức độ ký quỹ thực tế được tính toán bởi
Sở giao dịch. Tiền ký quỹ được niêm yết công khai cho từng hợp đồng tương lai và số
tiền ký quỹ này có thể thay đổi tùy theo sự biến động của thị trường. Hợp đồng tương
lai được tính hàng ngày theo giá thị trường. Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ
biết ngay lãi/lỗ sau phiên giao dịch, nếu doanh nghiệp có lãi sẽ được cộng vào tiền ký
quỹ, ngược lại khoản lỗ sẽ trừ vào tài khoản ký quỹ của doanh nghiệp.
2.2.3 Hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người nắm
giữ nó được phép mua hoặc bán một khối lượng hàng hoá nhất định với giá nhất định
và trong một khoảng thời gian xác định (quyền chọn kiểu Mỹ) hoặc điểm thời gian xác
định (quyền chọn kiểu Châu Âu). Một điều quan trọng là người nắm giữ quyền chọn
có thể thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng. Vì vậy khi rủi ro xảy ra, thị trường
không theo đúng hướng dự đoán của người nắm giữ quyền chọn thì lỗ lãi được tối
thiểu hoá chỉ ở mức giá của hợp đồng quyền chọn. Hàng hoá ở đây có thể là thương
phẩm, cổ phiếu, trái phiếu, vàng, ngoại tệ…

[13]


2.2.4 Hợp đồng hoán đổi
Theo IAS 32, Hợp đồng hoán đổi là loại công cụ tài chính phái sinh thể hiện
một quyền hoặc nghĩa vụ phải trao đổi trong tương lai, bao gồm trao đổi lãi suất, tiền
tệ, trao đổi lãi suất, trao đổi cam kết cho vay, giấy tờ bản lãnh hoặc thư tín dụng.
Như vậy, bản chất của Hợp đồng hoán đổi là sự thỏa thuận mang tính chất pháp
lý riêng lẻ giữa hai bên với thời gian cụ thể, với lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả được
quy định trong hợp đồng. Hợp đồng hoán đổi được thực hiện dựa vào nhu cầu nhận

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
PHÁI SINH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM
3.1 Thực trạng kế toán công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài
chính ở Việt Nam hiện nay.
3.1.1 Sự hiện hữu của các giao dịch phái sinh và các công cụ cơ sở.
Những giao dịch phái sinh và công cụ cơ sở hàng hóa : Việt Nam đã có một số mặt
hàng nông sản chủ lực và có thế mạnh trong xuất khẩu có thể làm công cụ cơ sở cho
các sản phẩm phái sinh hàng hóa như cà phê, hồ tiêu, gạo…Năm 2007 mặt hàng cà
phê của Việt Nam được đưa vào giao dịch thử nghiệm tại sàn giao dịch hàng hóa.
Đến nay, Việt Nam ngoài cà phê cũng có một số mặt được giao dịch trên thị trường
phái sinh thông qua các sở giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới như : Gạo (Thái Lan),
Cao su (Tokyo), coca, đường trắng (London, NY), dầu cọ, dầu đậu nành, đậu nành
(Malaysia, CBOT), lúa mì, bông, ngô, nhôm, thiếc…
Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở
Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999. Tuy nhiên giao
dịch chỉ chiếm khoảng 5-7% khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ liên Ngân
hàng.
Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện theo quyết định số 430/QĐ-NHNN ngày
24/12/1997 và sau này là quyết ñịnh số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của
thống đốc NHNN.
Các công cụ phái sinh lãi suất và tỷ giá ngoại tệ tiếp tục xuất hiện và được các
ngân hàng sử dụng do nhu cầu nội tại của các NHTM nhằm theo kịp chuẩn mực hoạt
động Ngân hàng quốc tế.
Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng là những công cụ phái sinh được thị trường
hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh
lãi suất, tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục.
3.2.1 Các quy định kế toán về công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam
Giai đoạn trước khi ban hành Thông tư 210/2009/TT-BTC ngày 6 tháng 11 năm
2009, kế toán công cụ tài chính đã được trình bày rải rác, chưa trọng tâm trong các

công cụ tài chính.
Giai đoạn sau khi ban hành Thông tư 210/2009/TT/BTC, các quy định về việc xử
lý các nghiệp vụ liên quan tới công cụ tài chính lần lượt ra đời:
 Thông tư số 210/2009/TT-BTC áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có các giao

dịch liên quan đến công cụ tài chính với 03 nội dung chủ yếu như sau: (i) Quy
định các thuật ngữ liên quan đến công cụ tài chính; (ii) Hướng dẫn các nguyên
tắc trong việc trình bày các công cụ tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC); (iii)
Hướng dẫn thuyết minh về công cụ tài chính để giúp cho người sử dụng BCTC
đánh giá sự ảnh hưởng của công cụ tài chính đến tình hình tài chính và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp; Đánh giá bản chất, phạm vi của các rủi ro phát
sinh từ công cụ tài chính và cách thức quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Theo đó,
[16]


công cụ tài chính được phân nhóm phù hợp với bản chất của các thông tin được
trình bày và theo đặc điểm của các công cụ tài chính.
 Thông tư 201/2009/TT-BTC ngày 15 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn xử lý chênh
lệch do thay đổi tỷ giá có hiệu lực từ năm tài chính 2010.
 Thông tư 179/2012/ TT- BTC ngày 24 tháng 10 năm 2012, quy định về ghi

nhận, đánh giá, xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái trong doanh nghiệp
áp dụng từ năm tài chính 2012 thay thế cho thông tư 201/2009/TT-BTC
 TT 228/2009/TT-BTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự

phòng giảm giá HTK, tổn thất đầu tư tài chính.
3.2 Nhận xét
Hiện nay, có 3 chuẩn mực kế toán quốc tế quy định về công cụ tài chính, đó là
chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) số 39 – Công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá
trị; IAS số 32 – Công cụ tài chính: Chuẩn mực quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài

Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính là
một trong những điều kiện tiên quyết để tạo thuận lợi cho sự phát triển của công cụ tài

-

chính phái sinh tại Việt Nam. Điều này còn mang lại các lợi ích cụ thể như sau:
Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính đem lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp.
Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đối

-

tượng sử dụng thông tin.
Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính nhằm phục vụ quản lý vĩ mô
Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính nhằm đáp ứng xu thế phát triển của thị trường
chứng khoán và các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán.
4.2 Kiến nghị
Quá trình phân tích thực trạng cũng như sự cần thiết của việc phát triển kế toán
công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính ở Việt Nam, cho thấy
rằng nhu cầu về việc thiết lập các quy định trong vấn đề kế toán công cụ tài chính phái
sinh đang trở thành một trong những vấn đề cấp thiết của bộ tài chính. Để tiếp tục
hoàn thiện các quy định kế toán liên quan tới các công cụ này, tác giả đề xuất một số
giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định rõ những nội dung nào không áp dụng hoặc áp dụng có giới hạn
của chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính đặc biệt là về giao dịch chứng
khoán phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro và mục đích thương mại để tạo sân

[18]


chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin


TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Thị Thu Hiền (2010),“Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong

NHTM tại Việt Nam”, luận án tiến sỹ Đại học Kinh tế TP HCM.
2. Phạm Thị Thu Thủy(2006), “Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính tại các

doanh nghiệp Viêt Nam hiện nay”, Đề tài cấp Bộ, mã số B2006-07-09, lĩnh
vực: Kế toán, kiểm toán.
3. Hà Thị Tường Vy (2008), “Kế toán công cụ tài chính của thị trường chứng

khoán Việt Nam”, Đề tài cấp viện, Viện chiến lược và chính sách, Bộ Tài chính.
4. Hà Thị Ngọc Hà (2013) “Xây dựng chuẩn mực kế toán công cụ tài chính phái
sinh”, tạp chí chứng khoán số 12 – 2013.
5. Hà Thị Phương dung (2014), “Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính phái sinh
trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh doanh
và quản lý trường Đại học kinh tế quốc dân.
6. Ngô Thị Thùy Linh (2015) khoa kinh tế, “Thực trạng sử dụng công cụ tài
chính phái sinh ở Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro”, www.saigonact.edu.vn,
phần 1 ngày 31/05/2015, phần 2 ngày 06/08/2015
7. Bùi Thụy Nam (2010), “Phát triển các công cụ phái sinh trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
8. Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2015) “Tìm hiểu về chứng khoán phái
sinh”, ngày 01/03/2015.
9. Thông tư 210/2009/TT-BTC hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về
trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính,
ngày 06 tháng 11 năm 2009
B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
1. Cairns, D. (1998), Compliance must be enforced. Accountancy: International


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status