LUẬN án TIẾN SĨ CHUYỂN DỊCH cơ cấu NGÀNH ở các nền KINH tế mới CÔNG NGHIỆP hóa và ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM - Pdf 38

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
VIỆN KINH TẾ HỌC
BÙI TẤT THẮNG

SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA
CÁC NỀN KINH TẾ MỚI CÔNG NGHỆP HOÁ
Ở ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

Mã hiệu: 50201
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn: PTS VŨ TUẤN ANH


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lựa chọn đề tài và tên gọi của luận án:
Hơn 50 năm qua kể từ Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đến nay, công nghiệp hoá
chẳng những vẫn luôn được khẳng định là nhiệm trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ
tiến lên CNXH ở nước ta, mà còn nhiều lần được tái xác định là “đã thu được những kết
quả bước đầu quan trọng”, song lại vẫn chỉ đang ở “giai đoạn đầu” hay “chặng đường
đầu tiên”. Điều đó chứng tỏ rằng, công cuộc công nghiệp hoá mà chúng ta đang ra sức
thực hiện hết sức khó khăn phức tạp và còn chứa đựng rất nhiều vấn đề cần phải được
tiếp tục làm sáng tỏ, và hơn thế, thậm chí còn cần phải được nhận thức lại, cả về phương
diện lý luận lẫn thực tiễn, theo như tinh thần đổi mới từ Đại hội lần thứ VI của Đảng
(1986).
Một vấn đề cốt lõi nhất trong số ấy là động thái chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá
trình công nghiệp hoá, bao quát trong đó những điều kiện, xu thế, bước đi, con đường,
làm thành quá trình lịch sử thay thế nền sản xuất xã hội dựa trên phương thức truyền

Từ điểm xuất phát ấy, mục đích nghiên cứu của đề tài sẽ nhằm vào các vấn đề sau:
1.
Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan trực tiếp tới cơ cấu
ngành kinh tế đã được trình bày trong một số trường phái lý thuyết kinh tế chủ yếu.
2.
Phân tích quá trình dịch chuyển cơ cấu ngành trong quá trình công
nghiệp hoá của NIEs Đông Á, xem xét những nguyên nhân chi phối trong qúa trình
này và những bài học kinh nghiệm cũng như khả năng vận dụng chúng trong tình
hình mới ở Việt Nam.
3.
Phân tích quá trình nhận thức và vận động thực tiễn của quá trình
công nghiệp hóa của Việt Nam mấy chục năm qua. Kết hợp sự phân tích về mặt lý
thuyết với so sánh thực tế giữa NIEs Đông Á và Việt Nam, xem xét lại cách tiếp cận
cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích
những điều kiện ràng buộc và chi phối sự thay đổi cơ cấu ngành trong quá trình công
nghiệp hoá, nêu ra một số khuyến nghị về giải pháp cơ cấu ngành trong việc thúc đẩy
quá trình cônghiệp hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3 Đối tượng và phạ vi nghiên cứu
Đề tài có thể được phân tích trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng ở đây, các
vấn đề được đề cập đến dưới giác độ của kinh tế chính trị học. Điều đó hàm nghĩa rằng,
trong quá trình phân tích, việc chỉ ra các xu hướng vận động vĩ mô với các điều kiện
ràng buộc và qui định các quá trình kinh tế được nhấn mạnh hơn là việc trình bày những
tài liệu phản ánh các sự kiện và tình hình nổi lên bề mặt của quá trình công nghiệp hoá.
Phạm vi vấn đề được xác định là sự chuyển dịch cơ cấu ngành – phân biệt với các loại
cơ cấu kinh tế khác.
Phạm vi thời gian được xác định là thời kỳ diễn ra quá trình công nghiệp hóa- phân
biệt với các thời kỳ hay giai đoạn phát triển kinh tế khác trong toàn bộ quá trình lịch sử
phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia.
Phạm vi không gian cũng được xác định rõ là các nền kinh tế mới công nghiệp hoá
(NIEs) Đông Á (bao gồm Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông và Singapo) và Việt

hơn tới giai đoạn đầu tiên tiến hành công nghiệp hoá là giai đoạn được coi là khó
khăn hơn cả- (“vạn sự khởi đầu nan”) - mà NIEs Đông Á đã qua, do đó mà có những
bài học thực tế, còn ở Việt Nam thì mấy chục năm đã qua, nhưng chưa nhích lên xa
hơn được bao nhiêu và vẫn còn đang “gặp khó khăn” của buổi “ban đầu”. Làm như
vậy là bởi hy vọng rằng, từ những so sánh đó, có thể có thêm được những căn cứ cho
những kết luận rút ra, góp lời bàn về các giải pháp cơ cấu ngành trong quá trình công
nghiệp hoá trong những năm cuối cùng của thế kỉ XX ở nước ta.
Ngoài ra, đề tài cũng chú trọng tới các phương pháp hệ thống, phương pháp lôgic,
phương pháp phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch và các phương pháp nghiên
cứu khác đang được vận dụng trong khoa học kinh tế.
5. Đề tài đã nghiên cứu đến đâu?
Vấn đề chuyển đổi cơ cấu ngành trong thời kì công nghiệp hoá từ lâu đã thu hút sự
chú ý rộng rãi của những nhà kinh tế ở cả các cơ quan làm công tác nghiên cứu lý luận
lẫn các cơ quan chỉ đạo thực tiễn. Vì thế, đã có khá nhiều các bài viết đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành (như tạp chí Nghiên cứu kinh tế, tạp chí Kế hoạch hoá, tạp chí
Thống kê v.v..), đề cập tới khía cạnh này hay khía cạnh khác ở các mức độ khác nhau.
Thường thì trong các công trình nghiên cứu về công nghiệp hoá nói chung, các vấn đề
cơ cấu ngành chiếm một nội dung quan trọng.
Trong số những công trình đã xuất bản, liên quan trực tiếp tới phần về lý luận và thực
tiễn Việt Nam của đề tài phải kể đến các công trình:


1.
“Xây dựng cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta” – Tác
giả tập thể, do Viện kinh tế học, UBHKVH Việt Nam xuất bản năm 1986.
2.
“Cơ cấu công nông nghiệp hợp lý”- Tác giả tập thể, Nhà xuất bản
Thông tin lý luận ấn hành năm 1986.
3.
“Sự hình thành cơ cấu kinh tế trong chặng đường đầu của thời kì

học thuật đang còn tập trung vào giải quyết các vấn đề của “sự khởi đầu” của cuộc hành
trình công nghiệp hoá trong điều kiện quá độ sang kinh tế thị trường.
Đặc biệt là trong số này, chưa có công trình nào trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu so
sánh một cách có hệ thống từ cách tiếp cận vấn đề cho đến nội dung của các bước
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá giữa NIEs Đông Á và
Việt Nam, nhất là lại đặt nó trong khuôn khổ của quá trình thực hiện đổi mới kinh tế
hiện nay.
6.
Đóng góp mới của luận án:


a)
Trước hết là đóng góp mới dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu: Cho
tới nay, trong các công trình nghiên cứu về công nghiệp hoá, vấn đề cơ cấu ngành ở
nước ta đều chủ yếu khai thác các yếu tố “đồng tuyến” trong hệ thống các nước
XHCN (cũ). Cũng có những công trình lại thiên về việc giải thích các luận điểm
trong đường lối công nghiệp hóa qua các thời kì đại hội Đảng, coi đó là nhiệm vụ
chính yếu nhất. Nhìn chung, yếu tố ngoài hệ thống và khu vực ít được quan tâm chú
ý. Do vậy, việc trực tiếp đặt ra mối tương quan so sánh giữa nhóm NIEs Đông Á với
Việt Nam vốn thuộc hai hệ thống kinh tế khác nhau, có thể được coi là một đóng góp
mới xét trên khía cạnh mở rộng các góc độ tiếp cận một số vấn đề nghiên cứu.
b)
Trên phương diện lý luận, so sánh các cách tiếp cận vấn đề dịch
chuyển cơ cấu ngành trong thời kì công nghiệp hoá giữa một số trường phải lý thuyết
chủ yếu.
c)
Phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của
NIEs, chỉ ra những nhân tố thúc đẩy và ràng buộc quá trình này trên cơ sở đó, liên hệ
tới tình hình hiện tại ở Việt Nam. Kết hợp với việc đánh giá những diễn biến của qúa
trình công nghiệp hoá mấy chục năm qua, tác giả đề xuất một cách nhìn nhận vấn đề

thống (128; tr. 269-270).
Cũng như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì
có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách
mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Đặc biệt, sự vận động và phát triển của
nền kinh tết theo thời gian luôn bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng
như sự thay đổi bản thân các bộ phận của các kiểu cơ cấu. Cho nên, dù có xem xét dưới
bất kì góc độ nào, cũng có thể thấy rằng “cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể
những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một
thời gian và trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định” (4).
Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách mà
chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Chẳng hạn, trên
bình diện vĩ mô, có một số loại cơ cấu sau:
+ Cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế:
Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người trong quá
trình sản xuất xã hội, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ về sở hữu đối với các tư
liệu sản xuất. Xã hội loài người đã từng phát triển qua các hình thái kinh tế- xã hội lần
lượt từ thấp đến cao và trong mỗi hình thái kinh tế- xã hội đều có các quan hệ sản xuất
khác nhau. Ở một số nước, những hình thức sở hữu cổ xưa không còn nữa; ở một số
nước khác, do những hoàn cảnh lịch sử khác, có sự đan xen của nhiều loại hình sở hữu
cùng tồn tại. Các mối quan hệ này biểu hiện ra bên ngoài bề mặt xã hội với tư cách là
các thành phần kinh tế khác nhau. Do vậy, người ta còn gọi cơ cấu các quan hệ sản xuất
là cơ cấu các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu cơ cấu
các quan hệ sản xuất của nền kinh tế quốc dân sẽ cho thấy các xu hướng vận động của
từng loại thành phần kinh tế trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội.
+ Cơ cấu tái sản xuất xã hội:
Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ của các bộ phận cấu thành quá trình tái sản
xuất xã hội, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều quá trình. Đó là các mối quan hệ của:


- Các yếu tố (đầu vào) của sản xuất: sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao

vận động của các ngành kinh tế và các mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm
chung của sự phát triến sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai
đoạn và mỗi quốc gia.
Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỉ lệ
hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc
gia trong mỗi thời kỳ đặng thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một
cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Việc phân chia 5 loại cơ cấu kinh tế này không phải là cách phân chia duy nhất, lại
càng không phải chỉ có từng ấy loại cơ cấu kinh tế. Thực tế, như đã nói, tuỳ theo mục


tiêu nghiên cứu mà người ta có thể phân chia theo những cách khác nhau (ít hoặc nhiều
hơn), và trong mỗi loại cơ cấu này, đến lượt nó lại bao hàm nhiều kiểu cơ cấu khác nữa.
Song, trong chừng mực cần thiết đối với đề tài này, chúng tôi cho rằng sự phân chia như
vậy cũng đã đủ để giới hạn vấn đề, rằng ở đây, đối tượng chính của nó sẽ là cơ cấu
ngành kinh tế ở cấp vĩ mô chứ không phải các loại cơ cấu khác. Tự nhiên, sự phân tích
không loại trừ việc ít nhiều đề cập đến các vấn đề của các loại cơ cấu khác khi chúng
liên quan trực tiếp tới các vấn đề cơ cấu ngành. Điều đó không những chỉ là sự cần thiết
trong phân tích, mà còn được qui định bởi tính chất phức tạp của các vấn đề, luôn có sự
giao cắt nhau cho dù tiếp cận từ bất cứ cách phân chia nào.
- Công nghiệp hoá:
Từ nhiều năm nay, công nghiệp hoá đã được giới kinh tế trong và ngoài nước hết sức
quan tâm nghiên cứu và tranh luận sôi nổi. Nhưng trong khi tính tất yếu của nó được
thừa nhận một cách phổ biến, thì trên thực tế, bản thân khái niệm “công nghiệp hoá” lại
chưa được hiểu một cách thống nhất. Chính sự không thống nhất về cách hiểu mà suốt
nhiều thập niên qua, ở nhiều nước khác nhau đã có những chính sách thực hiện công
nghiệp hoá rất không giống nhau. Nhiều người đã quan niệm công nghiệp hoá đồng
nghĩa với sự phát triển công nghiệp, tách biệt hoặc thậm chí đối lập với sự phát triển
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Theo họ, công nghiệp hoá là quá trình làm cho
công nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo trong kết quả hoạt động của nền kinh tế, còn cơ cấu

xưa hay hiện đại, ở đó thực hiện bước chuyển từ trạng thái nọ sang trạng thái kia và bao
hàm trong đó cả sự thay đổi về lượng lẫn về chất mà sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo
hướng công nghiệp hoá là một trong những biểu hiện rõ rệt nhất.
Với các khái niệm được xác định một cách sơ bộ như vậy, chúng tôi xin lần lượt đi
vào các vấn đề mà một số học thuyết kinh tế chủ yếu đề cập tới sự chuyển dịch cơ cấu
ngành trong quá trình công nghiệp hoá.
1.2- Vấn đề cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hoá trong một số
trường phái lý thuyết kinh tế chủ yếu:
Việc sắp xếp và phân loại các lý thuyết kinh tế theo những trường phái nào đó là vấn
đề không đơn giản. Một mặt thì do bản chất của khoa học luôn bao hàm sự kế thừa lẫn
nhau trong quá trình phát triển, mặt khác thì do sự phát triển đa dạng của hiện thực kinh
tế mà xuất hiện ngày càng nhiều các lý thuyết kinh tế với những sự khác biệt ở các mức
độ nhiều ít vô cùng khác nhau. Để giúp cho việc hệ thống hoá và trong chừng mực nào
đó, có thể so sánh những sự khác biệt giữa các trường phái lý thuyết này, chúng tôi chọn
cách thức phân loại thường gặp trên các sách báo kinh tế hiện hành, cũng như dựa trên
tình hình thực tiễn sau đây để phân thành ba loại trường phái chủ yếu khi khảo cứu đề tài
này.
- Trường phái kinh tế học Macxít, với ảnh hưởng của nó trong hệ thống kinh tế của
các nước (đã từng là hoặc đang xây dựng) XHCN.
- Trường phái kinh tế học theo trào lưu chính hiện đại, với ảnh hưởng của nó đối
với các nước tư bản công nghiệp phát triển.
- Kinh tế học của sự phát triển, giành cho việc nghiên cứu những vấn đề phát triển
của các nước thế giới thứ ba (còn gọi là các nước chậm phát triển, đang phát triển
hay kém phát triển).
Trong phần hệ thống hoá về mặt lý luận của vấn đề cơ cấu ngành giữa các trường phái
lý thuyết này, chúng tôi sẽ đề cập nhiều hơn đến kinh tế học Mác xít vì đây là hệ thống
lý luận kinh điển quen thuộc với chúng ta. Hơn nữa có những vấn đề mới bắt nguồn từ
thực tế như sự khủng hoảng và tan vỡ của hệ thống kinh tế XHCN; quá trình thực hiện
đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay..., mà việc khảo cứu kỹ càng hơn học thuyết này sẽ
soi sáng hơn cho một số vấn đề được đề cập đến ở chương III, nói về sự chuyển dịch cơ

như vậy.
Trong lý thuyết kinh tế học Macxit, vấn đề cơ cấu ngành có thể nói tập trung chủ yếu
trong hai học thuyết: học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sản
xuất tư bản xã hội. Vì vậy, chúng ta lần lượt điểm qua các vấn đề được trình bày trong
hai học thuyết đó.
1.1.1.1 – Phân công lao động xã hội và sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân:
Khi tìm hiểu những điều kiện của sản xuất và trao đổi hàng hoá, Marx đã nhận thấy
rằng chính sự phân công lao động đã làm “cơ sở chung” của mọi nền sản xuất hàng hoá.
Việc tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu sự phân công lao động đã cho phép Marx phân chia
thành ba loại: phân công lao động chung [im Allgemeinen] thành những ngành lớn như
nông nghiệp, công nghiệp v.v...; phân công lao động đặc thù [im Besondenren] (loại và
thứ); và phân công lao động cá biệt [im Einzelnen] trong xưởng thợ (61; tr.446).
V.I. Lênin khi bàn đến vấn đề này trong tác phẩm “Sự phát triển của CNTB ở Nga”
(1896-1899) đã xác định thêm rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự


phân công lao động đặc thù còn được “chia ra thành nhiều loại nhỏ và phân loại
nhỏ"”(55; tr.21-23).
Từ những điều trình bày trên, ta thấy:
1. Phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hoá là cơ sở của sự hình
thành nên các ngành kinh tế khác nhau, tách rời nhau và độc lập đối với nhau.
2. Nếu như Marx mới đề cập đến hai cấp độ ngành của nền kinh tế quốc dân
thông qua việc xác định “sự phân công lao động chung” tạo thành “những ngành lớn
như nông nghiệp, công nghiệp v.v...” mà nay ta có thể gọi là phân ngành cấp I, và “sự
phân công lao động đặc thù” phân chia những ngành lớn thành loại và thứ- phân
ngành cấp II, chẳng hạn nông nghiệp thì được chia thành trồng trọt, chăn nuôi..., còn
công nghiệp thì chia thành công nghiệp năng lượng, cơ khí, luyện kim, hoá chất, thực
phẩm...; thì V.I. Lênin đã tiếp tục phát triển thêm cái phân ngành cấp II (loại và thứ)
thành những phân ngành nhỏ hơ nữa- có thể coi là cấp III, cấp IV v.v... do quá trình
phát triển của kinh tế hàng hoá.

- Số lượng dân cư và mật độ dân số;
- Sự phát triển của phân công lao động trong công trường thủ công, cho phép
“nhân sự phân công lao động xã hội lên” (K.Marx); và
- Cuối cùng, có thể xem là tiền đề tổng quát, có ý nghĩa chi phối và quyết định
chung, là sự phát triển của bản thân ngành nông nghiệp, là sự nâng cao năng suất lao
động trong nghành nông nghiệp chưa làm ra đủ (hoặc chỉ vừa đủ) sản phẩm để nuôi
chính họ thì chưa thể nói đến việc có một lượng dân cư chuyển sang làm ngành khác
được.
Tóm lại, bằng việc phân tích các tiền đề nêu trên của sự phân công lao động xã hội,
các nhà kinh điển của kinh tế học Mác-xít đã chỉ rõ quá trình hình thành nên các ngành
kinh tế khác nhau của nền kinh tế quốc dân sản xuất hàng hoá TBCN. Việc nhấn mạnh
tính chất TBCN của sản xuất hàng hoá trong quá trình hình thành các ngành kinh tế ở
đây hàm ý rằng nó đúng với cái khuôn khổ được Marx giả định. Mọi xã hội vận động
ngoài khuôn khổ đó, cho dù có thể chỉ là một sự phân định hết sức tương đối, không phải
là đối tượng trực tiếp trong nghiên cứu của Marx. Vì vậy, cũng dễ hiểu là ở chỗ này hay
chỗ khác, việc ông đề cập đến chúng chủ yếu chỉ là nhằm làm nổi bật thêm điều mà ông
định trình bày về nền kinh tế sản xuất hàng hoá TBCN. Một trong những trình bày như
vậy có liên quan đến đề tài này là việc ông đề cập tới hình thức mà sự phân công lao
động diễn ra trong xã hội cổ xưa- cái xã hội mà sau này trở thành một trong những vấn
đề tranh luận gay go và kéo dài dưới tên gọi “phương thức sản xuất châu Á”. Ở đây,
chúng tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh đơn giản là Marx có đem ra so sánh để làm rõ
sự phân công lao động trong điều kiện phát triển của nền sản xuất hàng hoá TBCN, thì
cho đến nay, có lẽ dường như vẫn còn là điều “bảo lưu”.
Trên cái ranh giới “tương đối” của nền kinh tế của xã hội cổ xưa với kiểu phân công
lao động như sự trình bày của Marx và nền sản xuất hàng hoá TBCN có một trong
những điều kiện đặc biệt, mà nếu thiếu nó, sự phân công lao động xã hội để hình thành
nên nền kinh tế hàng hoá TBCN không thể có được. V.I. Lênin chỉ ra rằng, đó chính là
một quan hệ mới- quan hệ cạnh tranh với nhau- của những người lao động đã được phân
công. “Trong sự phát triển lịch sử của CNTB, có hai nhân tố quan trọng: 1) Sự chuyển
hoá nền kinh tế tự nhiên của những người trực tiếp sản xuất thành nền kinh tế hàng hoá,

vật phẩm tiêu dùng.
Khác với việc phân chia các ngành kinh tế được tiếp cận từ góc độ phân công lao
động xã hội, ở đây, xét trên phương diện của tái sản xuất tư bản xã hội, khái niệm
“ngành”= “ngành lớn”, được hiểu là “lĩnh vực” hay tập hợp các ngành (theo cách phân
chia tiếp cận từ phía phân công lao động xã hội), tuỳ theo vai trò của sản phẩm mà
chúng sản xuất ra đối với sản xuất hay đời sống trực tiếp của con người. Do đó, toàn bộ
nền sản xuất xã hội được chia thành hai “ngành lớn” hay hai “lĩnh vực”: I) sản xuất ra
các tư liệu sản xuất; và II) sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng.
Ở khu vực I (ngành lớn I), Marx không chia thành các khu vực nhỏ hơn theo logic tái
sản xuất mà liên hệ trực tiếp sang các ngành được hình thành từ sự phân công lao động
xã hội “Tư bản bất biến của khu vực I là một khối những nhóm tư bản khác nhau, đầu tư
vào những ngành sản xuất tư liệu sản xuất khác nhau: chừng này vào các nhà máy luyện
kim, chừng này vào mỏ than đá v.v....” (63; tr.517).
Còn ở khu vực (ngành lớn) thứ II, không những bao gồm nhiều ngành, mà trong số đó
Marx có đi sâu hơn vào mỗi bộ phận của từng khu vực, nhưng nếu không “xét về mặt
sản phẩm”, mà chỉ xét về mặt giá trị của chúng, thì nhìn chung, cái cách mà chúng vận
động trong mối quan hệ với khu vực I của quá trình tái sản xuất là như nhau.
Ở mỗi một khu vực Marx lại phân chia chúng theo khía cạnh cấu thành kĩ thuật và giá
trị. Giá trị tổng sản phẩm xã hội: (C+V+M) = Giá trị tổng sản phẩm xã hội của những
ngành thuộc khu vực I; I (c+v+m) + Giá trị tổng sản phẩm xã hội của những ngành thuộc
khu vực II: II (c+v+m).


Dựa trên cách phân chia này, Marx tiến hành giải trình các mối quan hệ giữa các
ngành thuộc hai khu vực sản xuất của xã hội. Cũng lại bằng phương pháp trừu tượng
hoá, Marx bắt đầu từ quá trình tái sản xuất giản đơn rồi suy ra những mối quan hệ giữa
hai khu vực trong quá trình tái sản xuất mở rộng. Để có tái sản xuất mở rộng, tiền đề đầu
tiên là phải có tích luỹ, tức là “một bộ phận m được chi tiêu như là thu nhập, còn một bộ
phận khác thì chuyển thành tư bản” (K. Marx). Bộ phận tích luỹ để mở rộng sản xuất
này đều nằm ở cả hai khu vực, bởi nó là điều kiện không thể thiếu được cho nhau, dù

I (v + m) > IIc, Lênin đã nhận xét rằng: “Từ công thức của Marx trình bày ở trên, hoàn
toàn không thể rút ra một kết luận nào về ưu thế của khu vực I so với khu vực II: vì theo
công thức đó, cả hai khu vực đều phát triển song song” (54; tr. 96).


Tuy nhiên, với việc đưa sự thay đổi cấu tạo kĩ thuật (c/v) vào công thức và tính toán
sự thay đổi qua một số năm liên tục và sau khi phân chia khu vực I ra làm hai khu vực
nhỏ (một sự phát triển hơn so với Marx), là khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất
ra tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu tiêu dùng,
cũng như sự suy luận logic từ kết luận của Marx về tư bản bất biến tăng lên nhanh hơn
tư bản khả biến (54; tr. 92-100), Lênin đi đến nhận xét là: “Sản xuất tư liệu sản xuất để
chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đó đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo
tư liệu tiêu dùng” (54;tr.98).
Lênin còn phát triển thêm lý thuyết tái sản xuất tư bản xã hội của Marx trên một
phương diện khác nữa- phương diện cụ thể hoá hơn theo hướng kết hợp lại giữa hai kiểu
phân ngành theo cách tiếp cận từ tái sản xuất và từ phân công lao động xã hội. Đồng
thời, ông đã nêu ra những xu hướng tăng lên cụ thể trong các mối quan hệ giữa chúng.
“Toàn bộ tinh thần và tất cả ý nghĩa của cái qui luật nói rằng tư liệu sản xuất tăng hết sức
nhanh hơn, tóm lại là ở chỗ: việc lao động bằng máy móc thay thế lao động thủ công, nói chung là sự tiến bộ kỹ thuật trong thời đại công nghiệp cơ khí,- đòi hỏi phải phát
triển mạnh ngành khai thác than đá và sắt là những ngành “tư liệu sản xuất” thực sự
“để chế tạo tư liệu sản xuất”” (54;tr.120-121), và theo ông, đó chính là “nội dung thật
sự của quá trình ấy”.
Như vậy, từ những điều trình bày trên cho thấy rằng, nếu như lý thuyết phân công lao
động xã hội đề cập đến những điều kiện để phân chia nền sản xuất xã hội ra thành các
ngành kinh tế khác nhau, thì lý thuyết tái sản xuất lại đề cập đến điều kiện của sự kết
hợp giữa các ngành đó lại với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Nói cách
khác, có thể xem đây là hai mặt của cùng một quá trình phát triển nền sản xuất xã hội.
Trong khi điều kiện quan trọng nhất của mặt thứ nhất là sự gia tăng năng suất lao động
nông nghiệp, thì ở mặt thứ hai, đó là sự tăng lên nhanh hơn của những ngành sản xuất ra
tư liệu sản xuất. Chính trong quá trình vận động này mà quá trình chuyển dịch cơ cấu

thuyết kinh tế Macxit bàn tới vấn đề cơ cấu ngành và động thái của chúng.
1. Kinh tế học Macxit trong khuôn khổ phân tích phương thức sản xuất TBCN đã
tiếp cận vấn đề cơ cấu ngành từ hai góc độ:
Thứ nhất: Sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân với tư cách là những ngành kinh
tế độc lập gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá TBCN, dựa trên sự phân công
lao động xã hội. Sản xuất hàng hoá TBCN càng phát triển thì các ngành kinh tế càng mở
rộng và ngược lại. Cơ sở của sự phân công lao động xã hội là sự khác biệt về giới tính,
sự tồn tại một cách tương đối độc lập của thành thị và nông thôn, là mật độ dân số và số
lượng dân cư, và đặc biệt là sự gia tăng năng suất lao động trong nông nghiệp.
Thứ hai: Mối quan hệ giữa các ngành là mối quan hệ trao đổi về mặt hiện vật và giá
trị, tuân theo qui luật của tái sản xã hội, trong đó khu vực (những ngành sản xuất) tư liệu
sản xuất tăng lên nhanh hơn khu vực (những ngành sản xuất) tư liệu tiêu dùng.
1- Ở dạng lý luận trừu tượng ( và không coi dịch vụ là một ngành sản xuất trong
cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân như các trường phái lý thuyết khác mà sau
đây chúng ta sẽ thấy), phù hợp với những điều kiện giả định, những phân tích của
kinh tế học Macxit chỉ ra rằng, những ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất ( khu vực I)
sẽ tăng lên nhanh hơn những ngành sản xuất ra tư liệu tiêu dùng ( khu vực II). Song
cũng do phương pháp nghiên cứu trừu tượng hoá (ở mức độ rất cao), mà những kết
luận rút ra từ qui luật của sự hình thành và kiểu thức của mối quan hệ giữa các ngành
kinh tế nêu trên hàm một điều bảo lưu đối với quá trình thực hiện cách mạng công
nghiệp trong những điều kiện thực tế nào đó không giống như những điều kiện được
giả định trong phân tích của Marx. Và như vậy, việc mở rộng phạm vi của những kết
luận này sang những trường hợp cụ thể khác cần phải có nghiên cứu cụ thể hơn trước
khi rút ra kết luận.


2- Với các khái niệm ngành “công nghiệp nặng” (sản xuất ra tư liệu sản xuất, khu
vực I), “công nghiệp nhẹ” (và nông nghiệp) (sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng- khu vực
II), quan điểm về ưu tiên phát triển công nghiệp nặng hầu như đã trở thành phương
châm chung của việc thực hiện công nghiệp hoá ở các nước trong hệ thống XHCN

xuất vật phẩm tiêu dùng. Nó trước hết phải sản xuất ra tư liệu sản xuất cho chính mình
(giống cây trồng và vật nuôi, thức ăn gia súc, súc vật cày kéo...). Và nông nghiệp càng
phát triển, sự phân công lao động xã hội càng tăng thì tỉ trọng của tư liệu sản xuất trong
sản phẩm nông nghiệp càng lớn. Đối với các sản phẩm công nghiệp cũng có tình hình
tương tự như vậy.


Vì vậy, hoá ra khó có thể nói một cách hoàn toàn chính xác được rằng việc đổ vốn
đầu tư một cách “ưu tiên” cho một ngành cụ thể nào đó (chẳng hạn khai mỏ, luyện kim,
hay điện tử chẳng hạn) là trực tiếp vận dụng “đúng đắn” qui luật về tái sản xuất mở rộng
trong học thuyết kinh tế Macxit. Và thực tế cũng cho thấy vấn đề không đơn giản đến
mức ấy. Có lẽ cũng vì vậy mà trong suốt những năm nhà nước Liên Xô quyết tâm theo
đuổi đường lối ưu tiên công nghiệp nặng và thực tế cũng đã đem lại cho quá trình công
nghiệp hoá những thành tựu hết sức nổi bật, song vẫn luôn có những cuộc tranh luận gay
gắt, thậm chí đôi khi được chính trị hoá trong lĩnh vực học thuật về việc vận dụng qui
luật này (86). Từ những năm 1970, khi những dấu hiệu của sự trì trệ và căng thẳng về
cung cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng bắt đầu xuất hiện thì sự điều chỉnh kế
hoạch theo hướng tập trung cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng bắt đầu được đặt
ra. Tuy nhiên, điều đó vẫn dựa trên cách giải thích là qui luật khu vực I tăng nhanh hơn
vẫn đúng, nhưng trong điều kiện của CNXH có thể cho phép có những thời kì khu vực II
tăng nhanh hơn. Ở một số nước XHCN khác lúc đó cũng có những vấn đề tương tự như
vậy. Đồng thời, với việc hình thành khối SEV, sự phân công lao động quốc tế được đặt
ra một cách tích cực, ít nhiều phá vỡ lối tư duy ưu tiên công nghiệp nặng của đường lối
công nghiệp hoá trong khuôn khổ một nền kinh tế khép kín ở mỗi quốc gia bất chấp
những điều kiện cụ thể khác biệt. Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá
trình công nghiệp hoá ở một chừng mực nhất định đã được xem xét đến ở phạm vi rộng
lớn hơn của cả cộng đồng. Và như vậy, rõ ràng là thực tế ấy đã khẳng định thêm rằng,
giữa những nguyên lý chung đúc rút ra từ sự nghiên cứu một đối tượng được trừu tượng
hoá và sự vận dụng chúng trong một nền kinh tế cụ thể là cả một khoảng cách. Nếu thiếu
sự phân tích những nhân tố khác với những điều kiện được giả định thì những điều được

trong phân tích của Marx. Trái lại, đối tượng nghiên cứu của học phái này là những vấn
đề thực tiễn của các nền kinh tế công nghiệp thị trường phát triển. Đối với họ, dường
như việc phát hiện ra qui luật nói chung về mối quan hệ giữa các ngành không quan
trọng. Về cơ bản, thị trường sẽ chỉ cho họ biết phải làm gì và làm như thế nào. Và như
vậy, nói chung, cơ cấu ngành hình thành như thế nào và động thái của nó trong qúa trình
phát triển nền kinh tế quốc dân ra sao, sẽ do thị trường quyết định. Thị trường sẽ đánh
tín hiệu cho các nhà sản xuất biết rằng nên sản xuất mặt hàng nào với số lượng bao nhiêu
trong điều kiện kinh tế, kỹ thuận hiện có thông qua thước đo giá cả do các lực lượng
cung- cầu trên thị trường kết hợp tạo ra. Vì vậy thì việc sản xuất ra ngô hay máy bay, thịt
bò hay tàu vũ trụ... đều có những khả năng như nhau đứng trước việc nó đem lại lợi
nhuận như thế nào.
Sự khảo sát “kinh trắc” dựa trên cách phân ngành khác với cách phân tích trừu tượng
của Marx cho thấy rằng:
1- Khu vực thứ nhất- các ngành khai thác (gồm nông nghiệp và khai khoáng) có
xu hướng giảm tỉ trọng so với khu vực thứ hai- công nghiệp chế biến; và hiện nay,
hai khu vực này đang giảm dần tỉ trọng tương đối so với khu vực ba dịch vụ, là khu
vực đang có xu hướng tăng lên trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
2- Trong phân tích, họ đã nhận thấy có những ngành công nghiệp “không có
tương lai” hay còn được gọi là những ngành công nghiệp “mặt trời lặn” xét trên
phương diện nó đang mất đi khả năng đem lại lợi nhuận trong tương lai, không kể nó
thuộc “công nghiệp nặng” hay “công nghiệp nhẹ” và mặc dù trước đây nó đã từng
đem lại lợi nhuận lớn và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của một
quốc gia. Tương tự như vậy, đối lập với nó là những ngành công nghiệp “mặt trời
mọc”, mà hiện này thường gắn liền với kỹ thuật sản xuất hiện đại , mang tính chất trí
tuệ hay còn gọi là công nghiệp kĩ thuật cao, công nghiệp trí tuệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở chỗ phó mặc cho thị trường quyết định và với những
quan sát “kinh trắc” từ thực tế thì lý thuyết kinh tế này nói về cơ cấu ngành kinh tế hơi
có phần nghèo nàn, đặc biệt là so với kinh tế học Mac-xit. Thế nhưng, có lẽ điều đóng



việc làm xơ cứng cơ chế linh hoạt vốn có của thị trường thông qua việc làm biến dạng
các thông số của các yếu tố sản xuất. Và trên thực tế thì quả là cũng có tình trạng như
vậy. Bằng chứng là chính phủ đã không thể lấp đầy những lỗ hổng mà thị trường TBCN
tạo ra. Những khuyết tật của thị trường có được khắc phục ở một mức độ nào đó, nhưng
không thể xoá bỏ được, thậm chí đôi khi có những mặt nào đó lại trở nên trầm trọng
hơn.
Việc can thiệp của chính phủ thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ và thương
mại- còn gọi là các chính sách kinh tế vĩ mô- có thể được thực hiện bằng cách trực tiếp
hoặc gián tiếp.Ở một số ngành mà tư nhân không đủ khả năng hoặc không muốn kinh


doanh như cơ sở hạ tầng giao thông, cung cấp điện, nước v.v...thì chính phủ trực tiếp
kinh doanh. Những qui định về lợi tức ngân hàng, thuế quan, hạn ngạch, ngoại hối, thuế
bảo hiểm, bảo vệ môi trường v.v... là danh mục nằm trong các chính sách gián tiếp
nhưng rất có ảnh hưởng đối với các công ty kinh doanh khi quyết định đầu tư vào những
ngành sản xuất nhất định.
Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, vai trò can thiệp của nhà nước TBCN vào lĩnh vực
cơ cấu là một điểm tiến hơn so với thời của Marx và Lênin, và là một sự “xích gần” của
lý thuyết thị trường điều tiết với lý thuyết “kế hoạch hoá”. Điều này đặc biệt rõ ràng khi
xem xét tới những nền kinh tế cụ thể. Chẳng hạn, cùng dựa trên nền tảng lý luận của
“kinh tế học thuộc trào lưu chính”, nhưng trong khi nhiều nước thiên về xu hướng “để
mặc thị trường” (Laissez-faire) như Mỹ, thì Nhật bản là một điển hình về sự can thiệp
sâu của Nhà nước. Có lẽ do tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp muộn hơn so với các
nước TBCN công nghiệp phát triển khác nên chính phủ Nhật dã phải “dẫn dắt nỗ lực
công nghiệp hoá, nghĩa là nó đảm nhiệm những chức năng phát triển”, bằng cách đưa ra
những “chính sách công nghiệp” và “chính sách cơ cấu” cụ thể. Ở đây, “chính sách cơ
cấu công nghiệp dựa trên những tiêu chuẩn như là tính co giãn thu nhập của cầu, chi phí
sản xuất so sánh, sức thu hút lao động, những mối quan tâm về môi trường, tác dụng của
đầu tư đối với các ngành công nghiệp có liên quan và những triển vọng xuất khẩu”. Cơ
sở của những chính sách ấy dựa trên một quan niệm “cho rằng chính phủ chỉ cần quan

do thị trường quyết định. Ở chỗ này, kinh tế học thuộc trào lưu chính có những đóng
góp to lớn vào việc phân tích và các phương pháp đánh giá các nhân tố đầu vào- đầu
ra trongkhi quyết định đầu tư. Cũng tương tự như vậy là các biện pháp chính sách can
thiệp của nhà nước trong việc tác động nhằm hướng cơ cấu ngành chuyển dịch theo
những mục tiêu đã định. Tuy nhiên, sự tương tác giữa các lực lượng thị trường và nhà
nước không dẫn đến một khuôn mẫu chung về thứ tự ưu tiên phát triển của một số
ngành nào đó đối với mọi quốc gia công nghiệp thị trường phát triển.
4- Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường hiện nay, việc khảo cứu những
vấn đề cơ cấu này của lý thuyết kinh tế này trở nên cần thiết và cấp bách hơn trước,
song cũng cần ghi nhớ rằng những thành quả mà chúng đạt được luôn gắn liền với
những điều kiện của một nền kinh tế công nghiệp thị trường phát triển. Vượt ra khỏi
khuôn khổ đó, những mặt ưu thế cũng như hạn chế của lý thuyết này sẽ biểu hiện cụ
thể như thế nào, cho đến nay, vẫn đang còn là vấn đề để ngỏ.
1.2.3- Sự trình bày trong “Kinh tế học của sự phát triển”
“Kinh tế học của sự phát triển” bao gồm rất nhiều những lý thuyết kinh tế giành cho
các nước chậm phát triển hoặc thế giới thứ ba. Trong chừng mực của đề tài này, các
nước chậm phát triển có thể được hiểu là những nước chưa thực hiện xong quá trình
công nghiệp hoá. Vì vậy, sự phát triển đối với những nước này luôn hàm ý việc thực
hiện quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù những lý thuyết này hết sức đa dạng, nhưng nếu nhìn một cách khái quát, có
thể thấy “kinh tế học của sự phát triển” đi theo hai xu hướng chính: 1- Chủ yếu dựa trên
những lý thuyết phân tích kinh tế thị trường nói chung để giải quyết các vấn đề của các
nước chậm phát triển mà ít chú ý đến tính đặc thù của chúng; và 2- Chủ yếu xuất phát từ
những đặc điểm đặc thù của các nước thế giới thứ ba để xem xét các vấn đề phát triển
của họ (110). Song, dù có đi theo hướng nào thì họ cũng chủ yếu sử dụng hệ thống các
phạm trù, khái niệm của kinh tế thị trường trong nghiên cứu qúa trình phát triển của các
nước thế giới thứ ba.
Tuy nhiên, so với “kinh tế học thuộc trào lưu chính”, “kinh tế học của sự phát triển”
chú ý nhiều hơn tới vấn đề cơ cấu các ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá. Họ
coi sự thay đổi cơ cấu ngành, đặc biệt là sự chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng tỉ

giai đoạn “cất cánh” (đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá) thì đã có đủ những tiền đề
cần thiết hay chưa? Nếu chưa thì rõ ràng nhiệm vụ hàng đầu tại thời điểm đó sẽ phải là
thúc đẩy việc hình thành những tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn “cất cánh”.
Một điều nữa là, việc nhấn mạnh tới các cực tăng trưởng và sự thay đổi vị trí ấy giữa các
ngành khác nhau qua mỗi giai đoạn rõ ràng gợi ý về một cơ cấu ngành trong đó thứ tự
ưu tiên của chúng không giống nhau mà mỗi quốc gia phải tính đến. Về điểm này nó rất
gần gũi với lý thuyết phát triển “cơ cấu ngành không cân đối” mà sau đây chúng tôi sẽ
đề cập tới.
1.2.3.2 – Các lý thuyết nhị nguyên:
Người mở đầu trường phái nhị nguyên khi xem xét các vấn đề của nền kinh tế của các
nước chậm phát triển là W.Arthur Lewis (giải thưởng Nobel năm 1979). Với lý thuyết
nhị nguyên, ông được coi là một trong số những người đi tiên phong trong việc tiếp cận
đời sống kinh tế của các nước thế giới thứ ba từ những đặc điểm đặc thù của chúng. Tư
tưởng cơ bản của lý thuyết nhị nguyên của Lewis dựa trên những nhận định rằng:


- Trong các nước chậm phát triển có trạng thái nhị nguyên về kinh tế, tức là có
hai khu vực song song tồn tại: khu vực kinh tế truyền thống và khu vực kinh tế du
nhập, thường là nền kinh tế công nghiệp TBCN tiên tiến. Vì vậy, để phát triển, vấn đề
đặt ra ở các nước này là phải chuyển càng nhanh càng tốt khu vực sản xuất truyền
thống sang khu vực hiện đại. Con đường cơ bản để thực hiện bước chuyển đó là công
nghiệp hoá, trong đó các ngành công nghiệp hiện đại giữ vai trò đầu tàu, làm khởi
động quá trình tăng trưởng.
- Trong khu vực sản xuất truyền thống, mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, có
tình trạng dư thừa lao động. Sự dư thừa lao động ở đây được hiểu là có thể giảm số
lượng lao động mà không làm giảm sản lượng sản xuất ra. Vì thế, việc chuyển số lao
động dư thừa này sang khu vực công nghiệp hiện đại sẽ cho phép thực hiện quá trình
tăng trưởng. Ở khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống luôn có một lực lượng lao
động mong muốn có việc làm và hễ ở đâu có được mức thu nhập cao hơn so với hiện
tại thì sẽ có ngay sự di chuyển lao động đến đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status