GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI - Pdf 38

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP THEO
HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ
NHÂN LỰC – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI.
Mã số: DTSV.2015.86

Chủ nhiệm đề tài

: Nguyễn Thị Huyền

Lớp

: ĐH QTNL12B

Khoa

: Tổ chức và quản lý nhân lực

Giảng viên hướng dẫn : Ths. Đỗ Thị Hải Hà

Hà Nội, tháng 4 - 2016


BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

tình giúp đỡ để nhóm có thể khảo sát nghiên cứu thực tế quá trình học tập theo
học chế tín chỉ của sinh viên tại khoa có cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ đề tài
nghiên cứu.
Đặc biệt nhóm nghiên cứu xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới ThS. Đỗ Thị
Hải Hà đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn giúp chúng em có thể hoàn thành công
trình nghiên cứu của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2016


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................3
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT..............................................................................6
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................6
5. Giả thuyết nghiên cứu...............................................................................7
6. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................7
7. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................7
8. Đóng góp của đề tài...................................................................................8
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................10
Chương 1............................................................................................................10
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ............10
1.1. Tín chỉ và vai trò của hệ thống tín chỉ..................................................10
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản...................................................................10
1.1.2. Vai trò của đào tạo tín chỉ..................................................................12

3.1.2. Về phía sinh viên ..............................................................................46
3.2. Một số khuyến nghị..............................................................................49
KẾT LUẬN........................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................52


DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
STT
1
2
3
4
5

Từ viết tắt
BHYT
CNTT
ĐH
TC và QLNL
UBND

Giải nghĩa
Bảo hiểm y tế
Công nghệ thông tin
Đại học
Tổ chức và quản lý nhân lực
Ủy ban nhân dân


PHẦN MỞ ĐẦU



đào tạo khá mới mẻ này. Hy vọng công trình nghiên cứu của nhóm sẽ giải đáp
được những băn khoăn để từ đó nâng cao chất lượng học tập của các bạn sinh
viên trong toàn trường nói chung cũng như các bạn sinh viên trong khoa Tổ
chức và Quản lý nhân lực nói riêng.
Từ những lý do trên, chúng em một phần vì đam mê yêu thích đề tài, một
phần cũng muốn nghiên cứu tìm hiểu, bồi đắp những kiến thức về hệ thống đào
tạo theo tín chỉ của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội cho bản thân mình và làm tài
liệu tham khảo cho các bạn học sinh và sinh viên đang sắp và sẽ học tập tại
Khoa nói riêng. Và các bạn học sinh, sinh viên cùng quan tâm tới vấn đề này
nói chung cùng tham khảo, đóng góp cho ý kiến và áp dụng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu nước ngoài:
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên
có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học
phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc
sống, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống
chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm
dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng
rãi. Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ.
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong
mọi trường đại học Hoa Kỳ. Sau đó nhiều nước lần lượt áp dụng như: Nhật Bản,
Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia…
Do nhu cầu nghiên cứu và học tập theo học chế tín chỉ rất nhiều công
trình nghiên cứu trên thế giới lần lượt xuất hiện đặc biệt là ở Mỹ nơi khởi nguồn
của hệ thống giáo dục theo học chế tín chỉ.
Tuy nhiên trên thực tế chưa có công trình nghiên cứu nước ngoài nào
nghiên cứu về nâng cao chất lượng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
khoa Tổ chức và quản lý nhân lực - trường ĐH Nội Vụ Hà Nội.

khoa học còn mang tính hành chính chưa theo kịp tính mềm dẻo, năng động linh
hoạt của phương thức đào tạo này. Như vậy nhìn một cách tổng quát bài viết đã
chỉ ra được những thách thức lớn đối với người học và người dạy. Tuy nhiên
học là quá trình tự vận động, có tích lũy để biến đổi được hay không là ở bản
thân người học chính vì vậy để cải thiện chất lượng học tập thì tự bản thân người
3


học phải chủ động thay đổi để thích ứng nhằm mang lại hiệu quả học tập tốt
hơn.
Bài viết “Việc học tín chỉ của sinh viên khoa Ngữ văn Trung Quốc” của
nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hương – Vũ Kim Anh – Võ Ngọc Tuấn Kiệt –
Nguyễn Vũ Quỳnh Phương, khoa Ngữ văn Trung Quốc – trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn tại Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp giảng dạy
theo học chế tín chỉ” (Năm 2008). Trong bài nhóm tác giả đề cập tới thái độ của
sinh viên đối với việc học tập theo học chế tín chỉ. Phần lớn các bạn sinh viên tại
khoa Ngữ văn Trung Quốc cho rằng khó khăn đối với họ là họ không biết lựa
chọn môn học nào cho phù hợp, giáo trình tra cứu không đầy đủ, không có
thông tin cụ thể về môn tự chọn, thời gian thảo luận trên lớp không nhiều, lướt
quá nhanh, lịch học môn tự chọn nếu trùng với môn khác thì không thể theo học
dù đó là môn yêu thích…. Hơn nữa việc đào tạo tín chỉ đã được áp dụng một
thời gian nhưng một số ít sinh viên cho rằng họ không thể thay đổi phương pháp
học tập so với trước đây. Phần lớn còn lại cho rằng họ đã thay đổi phương pháp
học, tự nghiên cứu năng động hơn nhưng khi hỏi về bạn có thói quen trình bày ý
kiến thắc mắc của mình trên lớp không thì số đông ấy lại cho rằng điều đó là
không thường xuyên. Điều này chứng tỏ là lối học thụ động đã ăn sâu vào tiềm
thức của sinh viên Việt Nam. Như vậy việc đổi mới phương pháp học tập theo
học chế tín chi là cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mới trong cách thức dạy và học
hiện nay. Tuy nhiên muốn thay đổi được vấn đề đã ăn sâu vào tiềm thức của
chúng ta thì cần có thời gian và sự nỗ lực từ nhiều phía. Để thay đổi được cách

tự chọn và tích lũy tín chỉ để tốt nghiệp, cũng như có thể chuyển đổi giữa các
trường trong một số điều kiện nhất định. Trên thực tế thì sinh viên hầu như
không được lựa chọn môn học bởi vì không phải lúc nào nhà trường cũng có sẵn
giáo viên cho các môn tự chọn ấy và tín chỉ cũng khó lòng được chấp nhận
chuyển đổi giữa các trường. Việc áp dụng tín chỉ ở nước ta cũng không cho
phép sinh viên chọn môn học ở những khoa khác nhau trong trường cho dù
những môn này có liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành của họ. Như vậy điểm
khác nhau duy nhất giữa các trường đào tạo theo tín chỉ và trường chưa áp dụng
đó là sinh viên được phép học theo nhịp độ của họ có thể tốt nghiệp trước thời
hạn hoặc là chậm lại một vài năm. Tóm lại, có thể thấy bài viết của tác giả đã
chỉ ra được những đặc điểm phổ biến của việc áp dụng học chế tín chỉ ở nước ta
5


cũng như cho thấy những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc để từ đó rút ra
những kinh nghiệm khi áp dụng vào Việt Nam.
Trong bài viết “Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam” GS. Lâm
Quang Thiệp đã làm rõ được những ưu điểm và hạn chế khi áp dụng theo hình
thức đào tạo tín chỉ như học chế tín chỉ có tính mềm dẻo và thích ứng cao bên
cạnh đó cũng có nhược điểm là khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên vì các lớp
theo học không ổn định về số lượng, học chế tín chỉ khuyến khích chủ nghĩa cá
nhân không coi trọng tính cộng đồng. Bài viết cũng chỉ ra điểm tương đồng và
khau giữa học chế (học phần) ở Việt Nam và tín chỉ ở Mỹ.
Như vậy, ở nước ta đã có nhiều bài viết đề cập tới vấn đề đào tạo theo
học chế tín chỉ tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một
cách đầy đủ hoàn chỉnh về vấn đề học tập theo học chế tín chỉ của các bạn sinh
viên tại Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực - trường ĐH Nội Vụ Hà Nội.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
- Làm sáng tỏ những vấn đề về thực trạng học tập theo học chế tín chỉ của

trình học tập theo học chế tín chỉ của các bạn sinh viên trong khoa TC và QLNL
đã đạt được những hiệu quả nhất định các bạn sinh viên đã phần nào thích ứng
được với cách thức đào tạo này. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tình trạng thụ
động trong học tập vẫn quen với cách học truyền thống theo lượng kiến thức mà
giảng viên cung cấp, họ chưa thực sự chủ động trong học tập, chưa tự tìm tòi,
nghiên cứu tài liệu phục vụ quá trình học tập dẫn đến kết quả học tập chưa thực
sự hiệu quả. Từ đó chưa phát huy được những ưu điểm hiện đại của phương
thức đào tạo theo tín chỉ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin tìm hiểu sâu hơn về thực tế
học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên khoa TC và QLNL. Áp dụng phương
pháp này chúng tôi phỏng vấn ba nhóm đối tượng sau:
7


- Sinh viên đang theo học chế tín chỉ: các lớp ĐH K2, K3
- Sinh viên đang theo học chế niên chế: các lớp ĐH K1
- Một số giảng viên, giảng dạy trực tiếp
Phương pháp điều tra:
Sử dụng phương pháp này nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng phiếu
khảo sát thực trạng quá trình học tập theo học chế tín chỉ của các bạn sinh viên
tại khoa Tổ chức và quản lý nhân lực.
Số lượng phiếu: 200 phiếu
Đối tượng: Sinh viên đang học tập theo học chế tín chỉ (sinh viên K2, K3)
Nội dung phiếu thiết kế xoay quanh chủ đề học tập theo học chế tín chỉ



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
1.1. Tín chỉ và vai trò của hệ thống tín chỉ
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm học phần
Học phần là một phần kiến thức tương đối chon vẹn của một bộ môn
khoa học, được thiết kế thuận tiện để người học tích lũy dần toàn bộ kiến thức
của một chương trình đào tạo trong quá trình học tập. Học phần có khối lượng từ
2 đến 5 tín chỉ, được tổ chức giảng dạy và học tập trong cùng một học kỳ. Mỗi
học phần được ký hiệu bằng một mã học phần riêng do Trường Đại Học Nội Vụ
quy định.
Các loại học phần:
- Theo tính chất của học phần: học phần ký thuyết, học phần thực hành,
học phần kết hợp lý thuyết và thực hành.
+ Học phần lý thuyết: là học phần giảng vên và sinh viên là việc trên lớp,
bao gồm thuyết trình, chữa bài tập, thảo luận, làm việc theo nhóm dưới sự
hướng dẫn của giảng viên.
+ Học phần thực hành: là học phần sinh viên làm thực hành, khảo sát
thwucj địa, điền dã…
+ Học phần kết hợp lý thuyết và thực hành: là học phần có một phần
giảng lý thuyết của giảng viên, một phần sinh viên làm thực hành, khảo sát thực
địa
- Theo yêu cầu tích lũy kiến thức: học phần bắt buộc, học phần tự chọn có
điều kiện, học phần tự chọn tự do.
+ Học phần bắt buộc là học phần có những nội dung kiến thức của trương
trình đào tạo , sinh viên bắt buộc phải hoàn thành học phần này.
+ Học phần tự chọn có điều kiện là những học phần có nội dung kiến thức

Cụ thể đối với môn: Môn logic học đại cương có 3 tín chỉ có nghĩa là một
tuần phải học 3 tiết môn này. Học theo tín chỉ các bạn sẽ hoàn toàn tự do lựa
chọn học nhiều hay học ít, học môn này không học môn kia tùy vào sự đăng ký
của các bạn vào đầu mỗi kỳ
11


- Xử lý học vụ
Là hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên sau các kỳ học chính
nhằm quyết định hình thức thông báo tới sinh viên như cảnh báo học vụ, buộc
thôi học hoặc cho sinh viên thôi học theo nhu cầu cá nhân.
- Cảnh báo học vụ
Cảnh báo kết quả học tập đưuọc thực hiện theo từng học kỳ thông báo tới
sinh viên có kết quả học tập kém để biết và lập phương án học tập phù hợp, từ
đó có thể tốt nghiệp trong thời hạn tối đa được phép theo học chương trình.
- Điểm rèn luyện
Ngoài điểm học tập các môn học theo từng chuyên ngành, còn có điểm
rèn luyện. Điểm rèn luyện đánh giá ý thức của sinh viên trong năm học. Để đạt
được điểm rèn luyện cao, bạn phải có càng ít môn điểm F càng tốt, đóng nộp đủ
BHYT, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nội quy quy định của nhà trường......
Các điểm cộng thêm do nghiên cứu khoa học, tham gia CLB sinh viên tình
nguyện, hội sinh viên, tham gia các hội thi văn nghệ thể dục thể thao.
Đánh giá điểm rèn luyện
Sinh viên tự đánh giá điểm rèn luyện của mình kết thúc mỗi học kỳ, căn
cứ vào thực tế quá trình rèn luyện của mình, sinh viên tự đánh giá cho điểm và
xếp loại rèn luyện bản thân theo mẫu quy định chung của nhà trường.
Họp hội đồng đánh giá kết quả rèn luyện cấp khoa (trung tâm) để xem xét
kết quả rèn luyện của từng sinh viên, học sinh trên cơ sở biên bản họp lớp và các
ý kiến phản ánh của các đơn vị trong trường. Kết quả rèn luyện của từng sinh
viên được Trưởng khoa, Trung tâm xem xét, xác nhận sau đó tổng hợp gửi về

những khoảng thời gian nghỉ ngơi, thư giãn để lấy lại năng lượng.
Nói đến vai trò của hệ thống tín chỉ không thể không nhắc đến vai trò của
người dạy và người học trong đào tạo tín chỉ.
- Vai trò của người dạy
+ Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết.
+ Cụ thể hóa nội dung các phần người dạy trình bày.
+ Giới thiệu mục tiêu bài học và các yêu cầu cần thực hiện.
+ Đưa ra cấu trúc nội dung dạy học và logic các đơn vị kiến thức bài
giảng.
+ Lựa chọn và truyền tài nội dung bài học trên lớp.
13


+ Nội dung vấn đề người học cần giải quyết khi làm việc nhóm.
Quá trình lên lớp chính là quá trình thực hiện những thiết kế mà người
dạy đã xây dựng, để phát huy tốt việc tự học của người học người dạy sẽ đóng
vai trò là người định hướng quá trình học tập của người học truyền tải khối
lượng, cách thức cũng như nguồn tài liệu cần thiết để người học có điều kiện
thuận lợi trong quá trình tự học, tự tích lũy kiến thức.
- Vai trò của người học
Trong quá trình học tập theo học chế tín chỉ, vai trò quyết định hiệu quả
của quá trình học tập chính là bản thân người học. Người học chính là người
đàm phán với mục tiêu học tập, quá trình tiếp thu lượng kiến thức của bản thân,
đàm phán với các thành viên trong nhóm học tập, trong lớp học.
Trong quá trình học tập theo học chế tín chỉ để có phương pháp học tập
hiệu quả người học cần rèn luyện và quá trình ấy cần phải có sự điều chỉnh cho
phù hợp đây là lúc người học đàm phán với chính mình trong quá trình học tập
để đạt được những mục tiêu mà môn học đề ra.
Học tập không chỉ ở bản thân người học mà người học cần rèn luyện
phương pháp tự học thông qua việc tham gia vào các nhóm học tập, đàm phám

cũng như sắp xếp thời gian tham gia các hoạt động khác nhau trong cộng đồng.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên năng động hơn
và có khả năng thích ứng tốt hơn những biến đổi của xã hội hiện đại. Trong đào
tạo niên chế, sinh viên hoàn toàn thụ động với kế hoạch học tập của nhà trường
thì trong đào tạo tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải chủ động xây dựng cho mình một
kế hoạch học tập thích hợp, có hiệu quả nhất cho bản thân.
Đào tạo theo tín chỉ tạo ra một mô hình lớp học gọi là lớp học phần gồm
các sinh viên đăng ký chung một học phần đây là cơ hội để các bạn sinh viên
giao lưu, học hỏi lẫn nhau và mở rộng các mối quan hệ xã hội .
Trong đào tạo tín chỉ các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới
thông qua nhu cầu lao động trên thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành
nghề của sinh viên. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép ghi nhận cả những
kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp khuyến khích sinh viên
phát triển toàn diện, hình thành tư duy nhạy bén trong cách giải quyết mọi vấn
đề.
- Nhược điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
15


Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có những thuận lợi nhất định tuy nhiên trong
quá trình triển khai cũng có những nhược điểm như:
Đào tạo tín chỉ là mô hình hiện đại trên mọi phương diện, hiện đại trong
quản lý, giảng dạy cũng như học tập của sinh viên. Trong đào tạo niên chế sinh
viên học theo một kế hoạch học tập chung theo sự sắp xếp của nhà trường ngược
lại trong đào tạo tín chỉ mỗi sinh viên có một kế hoạch học tập riêng việc tổ
chức điều hành quản lý đào tạo rất phức tạp. Sinh viên phải tự xây dựng kế
hoạch học tập, điều chỉnh kế hoạch học tập và đăng ký bổ sung. Tùy vào điều
kiện nguồn lực của mỗi nhà trường, tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng đào tạo
tín chỉ ở các trường đại học ở nước ta còn rất nhiều hạn chế về cơ sở vất chất,
điều kiện giảng dạy.

bất cập, thậm chí mang tính nửa vời, chưa phát huy được những lợi ích thiết
thực của hình thức đào tạo này. Trước bối cảnh đó, để việc chuyển đổi từ hình
thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ của trường ĐH
Nội Vụ Hà Nội nói chung, khoa Tổ chức và quản lý nhân lực nói riêng được
thuận lợi thì cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ và nghiêm túc.
1.3. Đặc điểm cơ bản của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo tín chỉ là hình thức đào tạo tiên tiến đang được áp dụng trong
giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ trong cả nước với mong muốn đổi mới để phát
triển và hội nhập. Đào tạo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình
dạy và học phát huy được tính chủ động và sáng tạo của người học. Trong
phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi
trọng và được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Người học
chính là người làm chủ kiến thức của bản thân, tự chủ về thời gian cũng như kế
hoạch học tập của mình.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có một số đặc điểm sau:
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô đun (học phần)
- Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học
phần.
- Sinh viên tự đăng ký lớp học và tổ chức lớp học theo học phần
- Một năm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ
- Đánh giá học phần là đánh giá quá trình, sử dụng thang điểm 10, thang
điểm chữ và thang điểm 4
17


- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy (số tín chỉ tối thiểu).
- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài học phần
bắt buộc còn có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ
và định hướng nghề nghiệp.
- Phương pháp giảng dạy tích cự theo nguyên tắc lấy người học làm trung

1.4.2. Tổ chức đào tạo
Mỗi năm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ. Mỗi học kỳ chính
có 15 tuần thực học và từ 3 đến 4 tuần thi. Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực
học và 1 tuần thi, được tổ chức trong thời gian hè.
Năm đào tạo: Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào số tín chỉ tích lũy (không kể các
học phần tự chọn tự do, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng - an ninh), sinh
viên được xếp năm đào tạo.
Bảng 1.1. Bảng số tín chỉ phải tích lũy của sinh viên
Số tín chỉ tích lũy

Năm đào tạo
Năm thứ nhất
Năm thứ hai
Năm thứ ba
Năm thứ tư

Đại học
< 30 tín chỉ
30 – 65 tín chỉ
66 – 100 tín chỉ
101 – 130 tín chỉ

Cao đẳng
< 30 tín chỉ
30 - < 60 tín chỉ
60 - < 90 tín chỉ

Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
(Ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định về số tín chỉ sinh viên phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status