Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường đại học tây bắc - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Lý Luận Chính
trị, phòng Công tác Chính trị và Quản lý người học đã tạo điều kiện động viên, giúp đỡ
em, cung cấp số liệu và những thông tin cần thiết về đề tài trong quá trình nghiên cứu.
Em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Lê Thị Vân Anh - Giảng viên hướng dẫn đề
tài, cô đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để đề tài em hoàn thành đúng thời hạn.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các bạn sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Đây là đề tài đầu tay của em, vì vậy chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vậy kính
mong sự tham gia ý kiến của thầy cô và các bạn đóng góp đề tài cho em được hoàn
thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2016

Người thực hiện đề tài
Tòng Thị Tứm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ..................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài .................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ..................................................................4
6. Đóng góp của đề tài .....................................................................................................4
7. Kết cấu của đề tài.........................................................................................................5
CHƯƠNG 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO SINH VIÊN ................................................................................................ 6
1.1. Lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức .......................................................6

2.2.2. Đổi mới hình thức và nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường
Đại học Tây Bắc………………………………………………………………………45
2.2.3. Phát huy vai trò của Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc……………………………………...46
2.2.4. Kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc………………………………………………..47

2.2.5 Tạo môi trường sống lành mạnh cho sinh viên sư phạm trường Đại học
Tây Bắc……………………………………………………………………….. 48
2.2.6. Sinh viên cần nâng cao hơn nữa tính chủ động, tích cực trong tự giáo dục đạo
đức………………………………………………………………………………….... 51
KẾT LUẬN ..................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 54


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết học môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh ..............................................................................................................................41
Biểu đồ 1: Tỉ lệ nhận thức của sinh viên về chuẩn mực đạo đức của người Việt
Nam hiện nay ...............................................................................................................30
Biểu đồ 2: Đánh giá của sinh viên về một số hiện tượng đang xảy ra nơi sinh
viên học ........................................................................................................................31
Biểu đồ 3: Nhận định của sinh viên về thực trạng đạo đức sinh viên hiện nay 32
Biểu đồ 4: Đánh giá của sinh viên về một số biểu hiện liên quan đến đạo đức
sinh viên hiện nay ........................................................................................................33
Biểu đồ 5: Các nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp đạo đức của sinh viên hiện
nay .................................................................................................................................35
Biểu đồ 6: Nhận định của sinh viên về chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh
viên của trường Đại học Tây Bắc ..............................................................................39

cận sớm với hệ thống công nghệ thông tin. Điều này làm xuất hiện ngày một nhiều các
hiện tượng lệch chuẩn đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong các thế hệ thanh niên, sinh
viên. Đó là các hiện tượng suy thoái đạo đức lối sống, chủ nghĩa cá nhân, thiếu lý
tưởng sống, sống thực dụng, cậy sức mạnh của đồng tiền hay sống gấp, kích động bạo

1


lực, sống thử trước hôn nhân, xem trọng các giá trị vật chất mà xem nhẹ các giá trị tinh
thần, quay lưng lại với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đang là một vấn đề
nổi cộm trong đời sống sinh viên hiện nay.
Thực trạng trên đã và đang diễn ra ngày càng phổ biến trong sinh viên trong đó có
sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo
đức, lối sống như: tình trạng gian lận trong thi cử, coi trọng thành tích mà không quan tâm
tới chất lượng, xem nhẹ việc tư dưỡng, rèn luyện đạo đức, gia tăng các tệ nạn xã hội, đua
đòi, ăn chơi, cờ bạc, rượu chè... mà ít đầu tư thời gian và công sức vào học tập.
Xuất phát từ thực trạng đáng lo ngại trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
chính sách, biện pháp nhằm đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trên như đưa môn tư tưởng
Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng, phát động phong trào
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhằm giúp các thế hệ sinh viên
nhận thức được các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ đó có những
hành vi, thái độ đúng đắn trong đời sống hàng ngày phù hợp với các chuẩn mực đạo
đức của dân tộc theo đúng tinh thần Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Đối với thế hệ trẻ,
chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo
đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng
và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc” [6;126].
Đối với sinh viên Trường Đại học Tây Bắc, nhà trường đã tổ chức nhiều buổi
tuyên truyền về đạo đức, lối sống sinh viên, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, thành
lập ra câu lạc bộ tuổi trẻ sống đẹp... nhằm nâng cao đạo đức cho sinh viên. Tuy nhiên,
kết quả mang lại chưa cao, chính vì vậy: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo

dục đạo đức cho thanh niên huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định hiện nay, Luận văn tốt nghiệp
trường Đại học Tây Bắc.
Những công trình trên đã nói lên việc kế thừa và vận dụng đúng đắn tư
tương đạo đức Hồ Chí Minh vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên, những người giữ
vai trò quan trọng trong sự nghiệp trồng người trong tương lai. Cũng như đã luận giải
những vấn đề lý luận về vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của công tác giáo dục
đạo đức cho thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta hiện nay theo
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng thời cũng phân tích rõ thực trạng đạo đức của thanh
niên hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo
đức thanh niên và bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thế hệ tương lai của dân tộc.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về việc vân dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường
Đại học Tây Bắc, do vậy đề tài đề xuất nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3


3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, làm rõ thực trạng
giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc, từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức sinh viên sư phạm trường
Đại học Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, vai
trò của sinh viên và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư
phạm hiện nay.
- Đánh giá được thực trạng đạo đức và thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh

7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

5


CHƯƠNG 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
1.1. Lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Danh từ đạo đức được bắt nguồn từ tiếng Latinh “mos”, nghĩa là lề thói, sau đó
xuất hiện từ mới là “moralis”, có nội dung liên quan đến lề thói, đạo nghĩa. Còn một
danh từ thường được xem như đồng nghĩa với đạo đức là lý luận học, có nguồn gốc từ
chữ Hi Lạp là “Ethicos”, nghĩa là lề thói, tập tục. Như vậy khi ta nói tới lề thói là nói
đến những lề thói, tập tục, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp
với nhau hàng ngày.
Các nhà triết học duy tâm khách quan mà tiêu biểu là Hêghen cho rằng: Cội
nguồn và cơ sở của tất cả những hiện tượng tự nhiên và xã hội là bản nguyên tinh thần,
lý tính được ông gọi là ý niệm tuyệt đối. Ý niệm này tự vận động, phát triển và thể
hiện ra thành toàn bộ những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Tuân thủ lôgic đó, G.
Hêghen cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một
hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Bậc tiếp theo trong sự phát triển ý niệm pháp
lý là pháp luật chủ quan, được G. Hêghen gọi là luân lý. Sự thống nhất giữa pháp luật
khách quan và pháp luật chủ quan, sự thể hiện cụ thể của sự thống nhất này trong một
gia đình, xã hội và quốc gia chính là bậc phát triển của ý niệm pháp lý, được G. Hêghen
gọi là đạo đức.
Các nhà triết học duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như những năng lực

của cá nhân khi họ tham gia vào các quan hệ xã hội. Những chuẩn mực đạo đức chính
là những chỉ bảo, gợi ý cho con người nên làm gì, không nên làm gì, nên tỏ thái độ
như thế nào… Các chuẩn mực đạo đức bao giờ cũng thể hiện quan niệm về cái thiện,
cái ác, lòng nhân ái, nghĩa vụ, lương tâm. Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu
hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và
của cả xã hội.
Như vậy đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt của hoạt động
xã hội, là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết
sức quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Đạo đức ra đời do nhu cầu của xã hội để điều hoà và thống nhất giữa lợi ích
chung của xã hội với lợi ích riêng của cá nhân, nhằm đảo bảo trật tự xã hội và khả
năng phát triển của xã hội và cá nhân, là một trong những hình thái ý thức xã hội.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội.
1.1.2. Giáo dục đạo đức
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đó là hiện tượng mà người giáo dục
truyền đạt những kinh nghiệm lịch sử xã hội cho người được giáo dục, người được

7


giáo dục lĩnh hội những kinh nghiệm đó để tham gia vào đời sống, tham gia vào lao
động sản xuất.
Giáo dục được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: giáo dục được hiểu là quá trình hình thành nhân cách dưới sự
tác động có mục đích, có kế hoạch thông qua hoạt động của người giáo dục và người
được giáo dục nhằm truyền đạt kinh nghiệm lịch sử của loài người. Khái niệm giáo
dục theo nghĩa rộng bao gồm cả quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa
hẹp. Giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm cả việc học và dạy cùng các tác động sư phạm
khác nhau trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm

học tập, lao động và hoạt động xã hội của mỗi cá nhân.
Giáo dục đạo đức góp phần điều chỉnh hành động của con người: trong cuộc
sống không phải lúc nào con người cũng dễ dàng thống nhất giữa nhận thức và hành
động, giữa nói và làm. Nhìn chung những chuẩn mực đạo đức xã hội luôn là tiêu chí
để mọi người so sánh kết quả hành động, hành vi của mình để sửa chữa.
Giáo dục đạo đức với sự phát triển của xã hội: hệ thống giá trị đạo đức phản
ánh toàn bộ quan hệ của con người trong cuộc sống, giao lưu, ứng xử, trong sản xuất,
trong giáo dục, văn hoá, chính trị, xã hội. Việc giáo dục đạo đức chính là việc điều
chỉnh hệ thống chuẩn mực đạo đức của một cộng đồng hay một dân tộc đều được thể
hiện qua 5 mối quan hệ của con người với tư cách là chủ thể của quan hệ đạo đức, đó
là:
+ Giáo dục trong quan hệ với bản thân: đó là những giá trị để hoàn thiện bản
thân con người.
+ Trong quan hệ với mọi người: thể hiện trong đời sống hằng ngày của con
người, la mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp trong cộng đồng.
+ Trong quan hệ với công việc: việc thực hiện bổn phận trách nhiệm trong
công việc khi được giao phó.
+ Trong quan hệ với môi trường: bao gồm việc giữ gìn và bảo vệ môi trường
sống của con người, là môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá xã hội.
+ Quan hệ với lý tưởng sống của dân tộc: đó là sự thể hiện ý thức, đạo đức, lý
tưởng của mỗi cá nhân không thể tách khỏi lý tưởng của dân tộc.
Hơn nữa, giáo dục đạo đức còn góp phần giữ vững, ổn định chính trị, xã hội
qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh. Sự giáo dục đạo đức sẽ tạo ra sự thống nhất giữa đạo
đức với chính trị, pháp luật, tạo ra sức mạnh của dư luận xã hội và các thiết chế xã
hội... Từ đó vai trò của giáo dục đạo đức trong sự phát triển nhân cách, phát triển xã
hội ngày càng có ý nghĩa to lớn.

9


đấu là cơ sở tạo nên một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng cửa đón nhận
tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng văn
hóa hiện đại phương Tây. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, ở giữa đầu mối của sự giao lưu

10


văn hóa Bắc - Nam và Đông - Tây, người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp
hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân
dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người
thành những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn
của truyền thống đó.
Truyền thống tôn sư trọng đạo. Truyền thống này đã thấm vào nhận thức, tình
cảm, trở thành triết lý sống từ đó định hướng cho những hành vi cụ thể của người Việt
Nam qua các thế hệ. Tôn vinh người thầy giáo, nhân dân ta nhận thức một cách sâu sắc
rằng để trở thành những người có ích, đóng góp cho quê hương đất nước thì phải được
dạy dỗ học hành. Lịch sử Việt Nam còn mãi mãi ghi ơn những người thầy đã có công
đào tạo cho đất nước nhiều trí thức. Người thầy được xã hội tôn vinh ở hàng quan
trọng thứ nhì trong xã hội, trước hết là vua, rồi đến thầy giáo, sau mới đến cha mẹ.
Truyền thống lạc quan, yêu đời trong muôn nguy, ngàn khó, người lao động vẫn
động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”. Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ
niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính
nghĩa, dù trước mặt còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua.
Đạo đức Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những
tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây. Xuất thân
trong gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu một nền Hán học
khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người đã không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng
ý chí vượt lên trên mọi khó khăn để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Vì vậy,
trong lúc đấu tranh Hồ Chí Minh vẫn có thể viết văn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, sắc
sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi có nhu cầu “tự bạch” thì Người

vốn văn hoá, vốn chính trị và vốn sống thực tiễn phong phú, tạo thành một bản lĩnh trí
tuệ mà không một nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam nào vào thời kỳ đó có thể so sánh
được. Bản lĩnh đó đã nâng cao khả năng độc lập, tự chủ và sáng tạo khi tiếp thu và vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lênin để không rơi vào sao chép, giáo điều, rập khuôn mà biết
tiếp thu và vận dụng có chọn lọc những nguyên lý phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
cụ thể của Việt Nam.
Tác động biện chứng của mối quan hệ giữa cá nhân với dân tộc và thời đại đã
đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhờ có thế giới quan và phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thụ và chuyển hoá
được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống đạo đức dân tộc cũng như của
văn hoá và đạo đức tiến bộ của nhân loại để hình thành đạo đức cách mạng Hồ Chí
Minh. Tiến sĩ M. Atmet (Modagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO đã đánh giá Hồ Chí
Minh là một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập,
trong cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc,

12


nhà văn hoá lớn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội trong hai ngày 29 và 30 tháng 3
năm 1990. Ông nói: Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn
hoá vào một nền văn hoá Việt Nam duy nhất. Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu
biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hoá khác nhau. Người đã hoàn thành
được nhiệm vụ này, và trong việc làm và lời nói của Người, ta có thể nhìn rõ hình ảnh,
tư tưởng của nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sĩ dân ca, những người đem lại nguồn cảm
xúc cho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của
những giá trị và truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền
văn hoá Việt Nam hiện đại.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức không thể tách rời cuộc
sống con người, nó được bắt nguồn từ tồn tại xã hội, lao động sản xuất và từ cuộc đấu
tranh chống thiên nhiên của con người. Vì vậy, sự phát sinh, phát triển của đạo đức

Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng.
Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với
nhân dân”, hơn nữa phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân” [16;480].
Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy
dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh,
nâng cao dân trí, làm cho Đảng hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất
nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của
Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.
Hai là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất
trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của cong người,
như trời có bốn mùa xuân, như đất có bốn phương và Người giải thích rõ ràng.
Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, lao động có
năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại,
không dựa dẫm. Phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng là nguồn sống, nguồn
hạnh phúc của mỗi chúng ta.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của
nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ không xa xỉ, không hoang phí,
không bừa bãi, không phô trương, hình thức.
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.
Liêm là trong sạch, là luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm
phạm một đồng xu, một hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân, không tham địa vị,
không tham tiền tài...không tâng bốc mình.

14


Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình thì không


15


Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì
Vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy
ưu điểm để không ngừng tiến bộ.
Yêu thương con người là phải biết và dám dấn thân để đấu tranh để giải phóng
con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin để yêu thương nhau hơn. Người viết: Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải
sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu ánh sáng mà sống không có tình
có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được.
Bốn là: Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan
niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là
người Việt Nam nhất đồng thời là nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải
phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể
hiện trong các điểm sau:
Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải
phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.
Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung,
bốn phương vô sản đều là anh em
Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.
Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân
chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa
sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc...
1.2.3. Nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên sư phạm
trường Đại học Tây Bắc

Trường Đại học Tây Bắc, trung với nước, hiếu với dân trước hết phải yêu Tổ quốc,
yêu nhân dân. Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý thuyết, siêu hình mà được
thể hiện cụ thể, thiết thực trong học tập, tu dưỡng, trong mọi hoạt động cuộc sống
thường ngày. Sinh viên phải tích cực trau dồi kiến thức, học tập những tấm gương
sáng trong học tập chủ động rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong sáng có lòng yêu nước
sâu sắc không ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập và trong cuộc sống. Chính
những phẩm chất đó đòi hỏi mỗi sinh viên cần phải tham gia vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước.
Hai là: Giáo dục phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiêm, liêm, chính là những khái niệm đạo đức phương Đông và đạo đức
truyền thống Việt Nam đã được Hồ Chí Minh sử dụng. Người đã giữ lại những gì tốt
đẹp của quá khứ và đưa vào những nội dung mới, cách mạng mà vẫn đúng với ý nghĩa

17


ban đầu của khái niệm đó. Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi giáo dục mọi người
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính và Người đã giải thích rất rõ, cụ thể, dễ hiểu đối với
mọi người.
Đối với thanh niên, sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc đó là tinh thần,
thái độ siêng năng, chăm chỉ, phải có kế hoạch sáng tạo, không nên hao tổn lãng phí
thời giờ. Nhiệm vụ trung tâm chính trị là học tập để nắm vững chuyên môn nghiệp vụ,
nắm bắt khoa học kỹ thuật. Vì vậy mỗi sinh viên phải khắc phục khó khăn, chịu khó
học tập, học hỏi để không ngừng tiến bộ.
Cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư là gốc quan trọng của đạo đức cách
mạng, con người Việt Nam, cũng là gốc cách mạng của thanh niên. Hồ Chí Minh chỉ
rõ:
“Trời có 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính

Bốn là: Giáo dục đạo đức cách mạng, niềm tin đối với sự nghiệp cách mạng do
Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là nhân tố
quyết định, là người chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam giành thắng lợi, là
người giáo dục, dìu dắt, rèn luyện và tạo điều kiện cho sinh viên học tập, tu dưỡng,
phấn đấu và thể hiện tài năng của mình, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Thanh niên là lớp người trẻ tuổi đang phát triển để hoàn thiện nhân cách. Thanh
niên khao khát lý tưởng và hành động thực hiện lý tưởng, hướng tới các giá trị xã hội,
nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để có cách suy xét đánh giá các giá trị,
lựa chọn giá trị theo chỉ dẫn sáng suốt của lý trí. Vì thế, thanh niên rất cần đến những
tác động của giáo dục xã hội để định hướng cho họ thực hiện lý tưởng mà Đảng và dân
tộc ta đã lựa chon. Lý tưởng cách mạng mà Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục cho thanh
niên là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội toàn thắng trên
đất nước ta và trên thế giới. Theo Hồ Chí Minh, có giác ngộ lý tưởng mới giúp thanh
niên hiểu lý tưởng đó là cao đẹp như thế nào, thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc
thực hiện lý tưởng. Với nghĩa đó, giác ngộ lý tưởng cách mạng chính là giáo dục cho
thanh niên lý tưởng sống và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Song song với giáo dục lý tưởng, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải bồi dưỡng
chí khí cách mạng cho thanh niên. Đó chính là ý chí, nghị lực, khí phách, khí tiết của
người cách mạng, là tính kiên trì, nhẫn nại, vượt khó. Không có chí khí cách mạng thì
thanh niên không thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, mất mát trên con
đường cách mạng để thực hiện lý tưởng. Như vậy thì cũng không thể trở thành một
người tận trung với nước, hiếu với dân được.

19


Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thanh niên không ngừng học tập, nâng cao
hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng. Phấn đấu
vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc, luôn đặt lợi ích

20


người chủ tương lai của nước nhà” và “muốn hồi sinh dân tộc. Trước hết phải hồi sinh
thanh niên”, trong đó đội ngũ sinh viên có vai trò hết sức quan trọng.
Tại Hội nghị Trung ương bảy, khoá X, Đảng ta xác định: “thanh niên là lực
lượng xã hội to lớn, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận
mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm công việc đòi hỏi
hi sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo” [7, tr.35], trong đó có sinh viên.
Sinh viên là một lực lượng xã hội đặc thù, là lực lượng tinh tuý trong thanh
niên. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ cho chúng ta thấy rằng, sinh viên là những
người gắn bó với phong trào cách mạng của Đảng bằng nhiệt huyết, bằng lương tâm,
bằng chính những phẩm chất của mình. Tổ chức sinh viên yêu nước cũng đã thành lập
từ rất sớm. Ngoài ra, có thể kể đến ở đây phong trào sinh viên tình nguyện hiện nay đã
chứng minh được mình luôn là lực lượng xã hội đặc biệt. Với họ, sức sống của tuổi trẻ,
tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức luôn gắn bó chặt chẽ với
nhau. Mặt khác, sinh viên còn là lực lượng dự bị cho đội ngũ trí thức của đất nước và
khi họ trở thành những trí thức thì sự đóng góp của họ cho đất nước càng to lớn, càng
có ý nghĩa hơn. Trong thư “Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”,
Ph.Ăngghen viết rằng: Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai
cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên. Tại Hội nghị
Trung ương bảy, khoá X Đảng ta khẳng định: “Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền
tảng xã hội, đội ngũ tri thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Bằng
hoạt động sáng tạo, trí thức nước ta đã có đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc” [7, tr.81-82].
Thực tiễn chỉ cho chúng ta thấy rằng, muốn có đội ngũ trí thức thì không thể
không thông qua đào tạo cơ bản được. Bước đầu tiên để xây dựng, đào tạo đội ngũ trí
thức tương lai là đào tạo họ trong trường đại học, cao đẳng. Với sinh viên, những ngày
họ học ở trường là quá trình tích luỹ tri thức cơ bản, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp tư
duy của nghề nghiệp để tiếp tục đi sâu hơn vào sự nghiệp khoa học sau này. Vì vậy, hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status