HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH - Pdf 38

PHẠM VĂN MỸ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------

NGHIÊM XUÂN SƠN

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ
CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY

GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

KHÓA 2011 - 2013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ THANH HỒNG

HÀ NỘI – 2013


 

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được

luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong nhận được sự
góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp để đề tài
nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện

Nghiêm Xuân Sơn

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 2 


 

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
THUẾ GTGT .............................................................................................................. 09
1.1. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ LUẬT THUẾ GTGT .................................. 09

1.1.1. Khái niệm về thuế GTGT .............................................................................. 09
1.1.2. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở nước ta ........................................... 09

2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.......................................................................... 62
2.3.1. Những kết quả đạt được ............................................................................... 62
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................................... 66
2.3.3. Một số khó khăn nảy sinh trong công tác quản lý thuế GTGT ..................... 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................... 82
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU
THUẾ GTGT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở QUẢNG NINH .......................... 83
3.1

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH THUẾ QUẢNG NINH

TRONG THỜI GIAN TỚI .......................................................................................... 83
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ................................................................. 85
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 109
PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 4 


 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. GTGT

Giá trị gia tăng.

2. UBNN


10. SD

Sử dụng.

11. XSKT

Xổ số kiến thiết.

12. NCTT

Nghiên cứu thị trường.

13. TTTH

Trung tâm tin học.

14. CNPP

Chi nhánh phân phối.

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 5 


 

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan


 
khống, các đơn vị XDCB tỉnh ngoài san gạt, xây dựng tại Quảng Ninh nhưng
không khai, nộp thuế trên địa bàn tỉnh... Vì những vấn đề bức xúc đó và qua quá
trình nghiên cứu với những kiến thức đã học và làm được cùng với sự giúp đỡ
của thầy giáo, các đồng nghiệp tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh, tôi đã nghiên cứu
và tìm hiểu để đi đến lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động quản lý thuế giá
trị gia tăng của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài
của luận văn tốt nghiệp.
Với mục đích, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý thu thuế giá trị gia
tăng địa bàn tỉnh Quảng Ninh và đánh giá những mặt được, những mặt còn hạn
chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý để từ đó đưa ra một
số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia
tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu công tác quản lý thuế
GTGT nói chung và thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT nói riêng trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó có những giải pháp tăng cường quản lý thuế
GTGT của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác quản lý thu thuế GTGT.
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT của các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu,
tác giả lựa chọn và sử dụng các phương pháp: Phân tích, thống kê, khảo sát, thu
thập các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, đưa ra các giải
pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.


chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và chính thức được áp dụng đầu tiên tại
nước Pháp vào ngày 1 tháng 7 năm 1954.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi
trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Đến nay, đã có trên
120 nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh, các
nước trong khối cộng đồng châu Âu và một số nước châu Á.
Thuế GTGT tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), tiếng Pháp là Taxe Sur la
Valeur Ajoutée (TVA) là loại thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Do thuế
tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối tượng nộp thuế phải
là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhưng thực
chất phần thuế mà họ nộp là do người mua hàng hóa dịch vụ phải thanh toán. Vì
vậy, thuế GTGT là thuế gián thu. Như vậy, thuế GTGT được hiểu: "Thuế GTGT là
loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu
trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng".
1.1.2. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở nước ta
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VI, từ năm 1986, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển đổi cơ bản từ
một nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ
yếu (kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước và kinh tế tập thể hợp tác xã),
trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, sang một nền kinh tế thị trường có
nhiều thành phần kinh tế. Theo đó, hệ thống chính sách thuế cũng có nhiều
thay đổi.

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 9 


 

thuế doanh thu, đối tượng chịu thuế là toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động sản
xuất kinh doanh, điều đó đã làm cho việc tính thuế, thu nộp thuế bị trùng lắp, thuế
HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 10 


 
thu chồng lên thuế. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất - kinh doanh xuất khẩu chưa
được xem xét ưu đãi đúng mức. Việc quy định quá nhiều thuế suất (11 mức thuế
suất, thấp nhất là 0,5%, cao nhất là 30%) của Luật thuế doanh thu tạo cho đối tượng
nộp thuế dễ lợi dụng để tính nộp thuế dưới mức nghĩa vụ quy định.
Để khắc phục những mặt hạn chế nói trên của Luật thuế doanh thu, ngày 105-1997, kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX đã nhất trí thông qua Luật thuế giá trị gia
tăng (GTGT) có hiệu lực thi hành từ 1-1-1999 thay cho Luật thuế doanh thu.
Thuế GTGT được tính trên giá trị mới tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát
sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng mà không đánh vào phần giá
trị đã chịu thuế ở khâu trước nên cách tính thuế GTGT rất khoa học và cần thiết đối
với nhu cầu phát triển sản xuất, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Thuế GTGT
có những ưu điểm nổi bật hơn so với thuế doanh thu là:
- Tránh được hiện tượng đánh thuế chồng lên thuế, phù hợp với nền kinh tế
sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.
- Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi đối
với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, hoặc được cung ứng dịch
vụ, nên có thể tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
- Thuế tính trên giá bán hàng hoặc giá dịch vụ, nên không phải đi sâu xem
xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức
quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
- Thuế được hoàn đối với hàng xuất khẩu nên có tác dụng giảm chi phí, đẩy
mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên
thị trường quốc tế.

Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 13/2008/QH12 thông qua ngày 03/6/2008 có hiệu
lực thi hành từ 01/01/2009.
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006.
- Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng
- Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chinh phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế.
- Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị
định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.
- Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số
85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Quản lý thuế.

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 12 


 
Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT gồm:
1.1.3.1. Phạm vi áp dụng
* Đối tượng chịu thuế GTGT: Theo quy định tại điều 3 Luật thuế GTGT thì
đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và
tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.
* Đối tượng không chịu thuế GTGT. Các đối tượng không chịu thuế GTGT
được quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT. Theo đó, các đối tượng không chịu thuế
bao gồm 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ đặc trưng của những nhóm hàng này là:

trong nước theo quy định của Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng đối với người
lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia
đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
* Người nộp thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 3 luật thuế GTGT thì
Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập
khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
1.1.3.2. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất:
* Giá tính thuế: Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế
GTGT phải nộp. Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên
hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có
thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu.
Theo Điều 7, luật thuế GTGT, giá tính thuế được quy định như sau:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán
chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là
giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng;
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập
khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được
xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho
là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại
thời điểm phát sinh các hoạt động này;
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị
gia tăng;
Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền
thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả
trước cho thời hạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng;
Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại
trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải


1 + thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)

*. Thời điểm xác định thuế GTGT như sau:
- Đối với bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng hàng hoá cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được
tiền.
- Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ
hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay
chưa thu được tiền.
- Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là ngày ghi chỉ số điện, nước
tiêu thụ trên đồng hồ để ghi trên hoá đơn tính tiền.
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây
dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê là thời điểm thu tiền theo tiến độ

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 15 


 
thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng. Căn cứ số tiền thu được,
cơ sở kinh doanh thực hiện khai thuế GTGT đầu ra phát sinh trong kỳ.
- Đối với xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình,
hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã
thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
* Thuế suất
Việc lựa chọn số lượng và mức thuế suất thuế GTGT khác nhau tùy thuộc
vào quan điểm, đặc điểm kinh tế - xã hội và mục tiêu đặt ra cho chính sách thuế của

a) Phương pháp khấu trừ thuế:
- Đối tượng áp dụng: Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành
lập theo luật Doanh nghiệp Nhà nước (trước đây), Luật Doanh nghiệp, luật Hợp tác
xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác
trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT. Yêu cầu
chung phương pháp của các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ là phải
có đầy đủ các căn cứ, chứng từ hợp pháp để xác định số thuế GTGT được khấu trừ
đầu vào.
+ Xác định số thuế
-

Phương pháp tính:
Số thuế GTGT

Thuế GTGT
=

phải nộp

Thuế GTGT
-

Đầu ra

Đầu vào

Trong đó:
- Thuế GTGT đầu ra được xác định:
Thuế GTGT


chức cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành
lập pháp nhân tại Việt Nam.
- Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế phương pháp khấu trừ thuế được
tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào (gọi là thuế đầu vào) như sau:
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ;
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được
khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch
toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ;
trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ
lệ (%) giữa doanh số chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số hàng hoá, dịch
vụ bán ra.
Thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản
xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và không chịu thuế giá
trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ.
Thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp sau đây
không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định
chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản
cố định là nhà làm trụ sở văn phòng và các thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động
tín dụng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm
nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường học; tàu bay dân dụng, du
thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách,
kinh doanh du lịch, khách sạn.
Tài sản cố định là ôtô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ôtô sử dụng cho
vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn)
có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào tương ứng với
phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng sẽ không được khấu trừ.

trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20
triệu đồng.
Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị trên 20 triệu đồng,
cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia
tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả
góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ
thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở
kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm
thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì
HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 19 


 
không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai,
điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa,
dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng được coi là thanh toán
qua ngân hàng; trường hợp sau khi bù trừ mà phần giá trị còn lại được thanh toán
bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường
hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu
đồng, nhưng mua nhiều lần trong cùng ngày có tổng giá trị trên 20 triệu đồng thì chỉ được
khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện nêu tại
điểm a, b khoản này còn phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
b) Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt
Nam; tổ chức cá nhân là người nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thành lập

của hàng hóa, DV bán ra

mua vào tương ứng

Giá trị gia tăng được xác định đối với từng ngành nghề kinh doanh cụ thể.
Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với từng cơ

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 20 


 
sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn,
chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán hay không.
1.1.3.4. Khai thuế, nộp thuế
a) Khai thuế
- Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế:
+ Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản
lý trực tiếp.
+ Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương
cấp tỉnh cùng nơi người nộp thuế có trụ sở chính: nếu đơn vị trực thuộc hạch toán
độc lập thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế
quản lý trực tiếp đơn vị trực thuộc; nếu đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc thì
người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng chung cho cả đơn vị trực thuộc.
Nếu đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc có con dấu, tài khoản tiền gửi
ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu
vào, đầu ra muốn kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuế riêng, cấp mã số
thuế phụ thuộc và sử dụng hóa đơn riêng.
+ Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương

- Khai thuế GTGT tạm tính theo từng lần phát sinh đối với hoạt động xây
dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo từng
lần phát sinh nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa
vụ thuế.
- Khai thuế GTGT theo từng lần phát sinh đối với thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp trên doanh số của người kinh doanh không thường xuyên. Thời hạn
nộp hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày thứ
mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế.
- Khai bổ sung hồ sơ khai thuế: Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã
nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì
được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan
thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai
thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm
tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
Trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm tăng số tiền thuế phải nộp,
người nộp thuế tự xác định số tiền phạt chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp,
số ngày chậm nộp và mức xử phạt theo quy định tại Điều 106 Luật Quản lý thuế.
Trường hợp người nộp thuế không tự xác định hoặc xác định không đúng số tiền

HV: Nghiêm Xuân Sơn 

Page 22 


 
phạt chậm nộp thì cơ quan thuế xác định số tiền phạt chậm nộp và thông báo cho
người nộp thuế biết để thực hiện.
Trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế làm giảm số thuế phải nộp, người
nộp thuế được điều chỉnh giảm tiền thuế, tiền phạt (nếu có) tại ngày cuối cùng của
tháng nộp hồ sơ khai bổ sung; hoặc được bù trừ số thuế giảm vào số thuế phát sinh

 
án đầu tư cơ sở sản xuất mới tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác
với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào
hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được
hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn
thuế riêng đối với trường hợp này.
Thứ tư: Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu
thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu
trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng. Cơ sở kinh doanh
trong tháng vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong
nước, có số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trong
tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên, nhưng sau khi bù trừ với số thuế
GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, nếu số thuế GTGT đầu vào
chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ sở kinh doanh không được xét
hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu
đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng.
Đối tượng được hoàn thuế trong một số trường hợp xuất khẩu như sau: Đối
với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, là cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu; đối với
uỷ thác gia công xuất khẩu, là cơ sở nhận gia công ký hợp đồng trực tiếp với phía
nước ngoài; đối với gia công chuyển tiếp, là cơ sở ký hợp đồng gia công xuất khẩu
với phía nước ngoài; đối với hàng hoá xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở
nước ngoài, là doanh nghiệp có hàng hoá, vật tư xuất khẩu thực hiện công trình xây
dựng ở nước ngoài.
Thứ năm: Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi chia, tách, giải thể, phá sản,
chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có số thuế
GTGT đầu vào chưa đuợc khấu trừ hết hoặc có số thuế GTGT nộp thừa.
Thứ sáu: Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại,
viện trợ nhân đạo:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status