Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ vừa học vừa làm tại các trường đh,cđ - Pdf 38

MỤC LỤC
Lời nói đầu
Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thành
công, hạn chế và đề xuất giải pháp
nâng cao chất lượng
Sử dụng phương pháp trình bày trực
quan trong giảng dạy học phần Những
nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa MácLênin cho hệ vừa làm vừa học ở các
trường cao đẳng, đại học hiện nay
Những bất cập trong đào tạo hệ vừa
làm vừa học hiện nay và một số giải
pháp khắc phục
Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học
Đồng Tháp
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học
Kinh tế Công nghiệp Long An
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo hệ vừa làm vừa học
Một số lệch lạc của hệ vừa làm vừa
học cần khắc phục để nâng cao chất
lượng đào tạo
Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thực
trạng và những đề xuất
Góp phần nâng cao chất lượng dạy –
học hệ vừa làm vừa học tại trường Đại
học Hà Tĩnh

1
2


Nguyễn Quyết Chiến

10

Nguyễn Thị Cầm

11

Trương Thị Mỹ Dung

Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học trong các trường
đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay

…………52

12

Phạm Xuân Hậu
Phạm Thị Thu Thủy

Nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa
làm vừa học bậc cao đẳng và đại học
– sự đòi hỏi của quá trình xã hội hóa
và đổi mới giáo dục ở nước ta

………….57

13


làm vừa học tại một số trường đại học
khối ngành kinh tế ở Hà Nội
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học
hiện nay ở trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội
Động cơ học tập – Yếu tố cơ bản tác
động đến hoạt động học của học viên
hệ vừa làm vừa học
Chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa
học tại trường Đại học Kinh tế Quốc
dân: hạn chế, nguyên nhân và một số
đề xuất

15

Nguyễn Thái Hà
Nguyễn Đắc Thành
Lê Văn Hùng

16

Trần Thị Kim Huệ

17

Nguyễn Thị Hoàn

18

Nguyễn Hoàng Mai

22

Biền Văn Minh

23

24

25
26

27

………….80

………...88
…………96

…………118
………….123

Một số biện pháp nâng cao chất lượng
……...126
đào tạo theo hình thức vừa làm vừa
học trình độ đại học, cao đẳng đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau
năm 2015
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu …………134

xuất nâng cao chất lượng đào tạo

29

Phạm Thị Tâm

30

Nguyễn Văn Thắng

31

Huỳnh Thị Kim Tuyến

32

Nguyễn Hoàng Thiện

33

Trần Thanh Trúc

Phẩm chất người thầy – yếu tố quan
…………183
trọng đánh giá chất lượng giảng dạy
hệ vừa làm vừa học
Định kiến xã hội và giải pháp nâng
………….188
cao chất lượng đào tạo hệ vừa làm
vừa học tại các trường cao đẳng, đại



LỜI NÓI ĐẦU
Theo tinh thần Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2 tháng 11 năm 2005 của
Chính phủ, mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học là, tạo chuyển
biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng yêu cầu (bỏ của) sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập
của nhân dân. Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao,
thích ứng với cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Thực hiện chủ trương
đa dạng hóa các loại hình đào tạo, trong những năm qua, đào tạo theo hình thức vừa
làm vừa học (VLVH) trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học, cao đẳng
được xem là phương thức đào tạo quan trọng và cần thiết. Phương thức đào tạo này đã
góp phần giảm tải cho hệ thống đào tạo chính quy, đồng thời, bồi dưỡng, cải thiện
chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Hiện nay, chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng
vẫn còn nhiều bất cập. Đây không chỉ là nỗi trăn trở của riêng ngành giáo dục mà còn
của cả xã hội, Viê ̣n Nghiên cứu Giáo du ̣c , Trường Đa ̣i ho ̣c Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức Hội Thảo “Giải pháp đảm bảo chất lƣợng cho việc đào tạo hệ
vừa làm vừa học tại các trƣờng cao đẳng, đại học Việt Nam ” nhằ m nhin
̀ nhâ ̣n về
thực tế việc đào ta ̣o hệ VLVH hiện nay và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng
đào tạo hệ VLVH.
Hô ̣i thảo đã nhận hơn 35 bài viết của những nhà giáo ưu tú , những nhà quản lý
giáo dục, những giảng viên ở các trường đa ̣i ho ̣c , cao đẳng trong toàn quố c . Điề u đó
chứng tỏ sự quan tâm sâu sắ c , sự trăn trở của quý vi ̣đố i với “Giải pháp đảm bảo
chất lƣợng cho việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trƣờng cao đẳng, đại học
Việt Nam”.
Nô ̣i dung của Hô ̣i thảo đươ ̣c chia làm ba phầ n:

(bỏ

Từ thực tế đào ta ̣o hệ VLVH ở các trường cao đẳng , đa ̣i ho ̣c Viê ̣t Nam hiê ̣n nay ,
những kinh nghiê ̣m quý báu của bản thân , của các cơ sở đạo, các nhà giáo, những nhà
quản lý đã tìm và đưa ra những hướng đi mới , tích cực, hiê ̣u quả cho viê ̣c đào ta ̣o hệ
VLVH ở các trường đa ̣i ho ̣c . Ở đây, chúng tôi bắt gặp sự (thay từ những) trăn trở , suy
tư về đào ta ̣o VLVH của những nhà giáo như: PGS.TS. Ngô Minh Oanh, TS. Nguyễn
Đình Cả, TS. Phạm Thị Lan Phượng, PGS.TS. Phạm Xuân Hậu, TS. Nguyễn Thị
Hoàn, TS. Đào Hoàng Nam, Nguyễn Thị Minh Hằng, PGS.TS. Biện Văn Minh…
Các tác giả đã mang đến cho Hội thảo bức tranh đa sắc màu về th ực trạng đào
tạo cùng những ý tưởng mới mẻ , những đề xuấ t đột phá , những giải pháp hữu hiê ̣u
cho hệ VLVH. Chúng tôi hy vọng , Hô ̣i thảo sẽ tạo được sự chuyển biến lớn về nhận
thức và hành động đố i với các trường cao đẳng , đa ̣i ho ̣c Viê ̣t Nam nhằm đạt được
thành công trong đào tạo.
Chúng tôi xin trân trọng cám ơn các tác giả , những nhà giáo , những nhà quản lý
giáo dục đã quan tâm viết bài và tham gia Hội thảo . Kính chúc quý vi ̣sức khỏe và
luôn gắ n bó với sự nghiê ̣p giáo dục, đào tạo.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 12 năm 2013
BAN TỔ CHỨC
5


ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
Ngô Minh Oanh1
Đào tạo hệ vừa làm vừa học là một hoạt động được hầu hết các trường đại học,
cao đẳng tiến hành song song với đào tạo hệ chính quy, thể hiện sự đa dạng các loại
hình đào tạo nguồn nhân lực. Hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học của các trường
đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
nâng cao trình độ của đội ngũ công chức, viên chức, tạo cơ hội học tập cho nhiều



nhu cầu nghề nghiệp và nhu cầu nâng cao trình độ của nhân dân. Các trường đại học,
cao đẳng đã nhờ vào nguồn kinh phí đào tại tại chức mà cải thiện được thu nhập cho
cán bộ, giảng viên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp như hiện nay.
2. Những hạn chế
Trong nhiều năm qua, hệ vừa làm vừa học đã phát triển ồ ạt, các trường liên kết
đào tạo ở nhiều địa phương trong khi điều kiện đào tạo chưa đảm bảo, tuyển sinh lại
dễ dãi dẫn đến chất lượng còn nhiều hạn chế, khiến xã hội lên tiếng cảnh báo và quay
lưng lại với hệ đào tạo này bằng việc nhiều địa phương từ chối không tuyển dụng hệ
đào tạo tại chức. Mặc dù cơ quan quản lý các cấp đã nhận thức được vấn đề, nhiều hội
nghị, hội thảo về đào tạo hệ vừa làm vừa học đã được tổ chức nhưng việc đào tạo hệ
này vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết trước đòi hỏi ngày càng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu sự nghiệp kinh tế - xã hội. Những hạn chế của hệ
đào tạo vừa làm vừa học có thể tóm gọn trong những vấn đề sau đây:
- Chất lượng đầu vào thấp
Thực tế cho thấy đối tượng tham gia thi tuyển đầu vào hệ vừa làm vừa học là
những người đã từng không đậu đại học họ phải đi học ở các trường trung cấp, cao
đẳng, nay có nhu cầu về bằng cấp và nâng cao trình độ, họ tham gia thi tuyển vào hệ
này. Bộ phận này thường là những người đã có kinh nghiệm công tác nên khi đi học
thường rất có knh nghiệm thực tiễn, nhưng có khó khăn là do lớn tuổi nên tiếp thu bài
có hạn chế. Một bộ phận không nhỏ là những học sinh phổ thông không thi đậu vào
hệ chính quy nên phải học hệ vừa làm vừa học để có cơ hội tìm việc làm. Các cơ sở
đào tạo do cần người học nên vẫn tuyển sinh, vì vậy làm cho hệ vừa làm vừa học
không đúng nghĩa của nó. Với đầu vào như vậy, chắc chắn không thể bằng hệ chính
quy được. Phải công bằng mà nói, các trường tuyển sinh và đào tạo hệ này không phải
không biết điều đó, nhưng nếu nâng cao điểm chuẩn, tức là nâng cao chất lượng đầu
vào thì sẽ không có người học, trong bối cảnh cạnh tranh tuyển sinh giữa các trường
cũng rất lớn. Do yêu cầu tăng thêm nguồn thu nên các trường vẫn cần phải đào tạo hệ
này, vì thế hạ chuẩn đầu vào là một lựa chọn không thể khác của các trường.

môn học. Từ thực trạng đó, nếu trong quá trình giảng dạy mà giảng viên không thực
sự nghiêm khắc, chiều chuộng sinh viên với những đề nghị hạ thấp yêu cầu học tập và
thi cử thì chất lượng của hệ này sẽ rất thấp.
3. Từ thực trạng nói trên, cần phải có những giải pháp đồng bộ của các ngành,
các cấp thì hệ đào tạo vừa làm vừa học mới thực sự đáp ứng những yêu cầu của
công tác đào tạo
3.1. Cần phải có sự thay đổi trong quy chế về hình thức và thời gian đào tạo.
Hiện nay hệ vừa làm vừa học chủ yếu học vào thời gian hè hoặc chỉ học vào các ngày
thứ bảy và chủ nhật, còn lại thì học viên lại bị cuốn vào các công việc nên việc học
tập bị phân tâm và không có thời gian để chuyên chú cho việc học tập. Có thể phải
quy định thời gian học tập trung nhiều hơn nữa, hay thời gian đào tạo dài hơn, hoặc

2

Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về việc dạy và học hệ vừa làm vừa học tại TP. Hồ Chí Minh, do nhóm nghiên

cứu sinh viên ngành Xã hội học, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, năm 2013, trang 49.

8


học viên phải dứt hẳn công việc trong một thời gian để đi học thì hy vọng chất lượng
học tập của hệ này mới được nâng lên.
3.2. Ngoài việc nâng cao chất lượng đầu vào, đối tượng người học cũng cần phải
sàng lọc, cho đúng nghĩa là hệ vừa làm vừa học. Những đối tượng còn trẻ, chưa có
việc làm, chưa qua thực tế cần phải khuyến khích học vào các trường cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp hoặc các trường nghề. Sau khi tốt nghiệp họ mới có thể tham gia
học tập ở hệ vừa làm vừa học. Làm được diều này vừa đảm bảo chủ trương lớn của
ngành là phân luồng sau phổ thông vừa không làm biến tướng hệ đào tạo vừa làm vừa
học.

đánh giá thấp của xã hội về hệ đào tạo này.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Quế Anh, Nâng cao chất lượng hệ vừa làm vừa học tại trường đại học
văn hóa Hà Nội – hướng tới hội nhập và phát triển, Tạp chí Nghiên cứu văn
hóa, Trường Đại học văn hóa Hà Nội, số 1.
2. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2012), Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hình
thức vừa làm vừa học trình độ đại học, cao đẳng, Tọa đàm khoa học tại Đà
Nẳng ngày 30 tháng 8 năm 2012.
3. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức
vừa làm vừa học theo Quyết định 36/2007/QĐ- BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2008), Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình
thức vừa làm vừa học theo Quyết định 62/2008/QĐ- BGDĐT ngày 25 tháng 11
năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5. Đoàn Cường (2012), Siết chặt hệ tại chức, Báo Tuổi trẻ online ngày 31/8/2012.
6. Tìm hiểu đáng giá của sinh viên về việc dạy và học hệ vừa làm vừa học tại TP.
Hồ Chí Minh, do nhóm nghiên cứu sinh viên ngành Xã hội học, Trường Đại
học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, năm 2013.

10


SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG GIẢNG DẠY HỌC
PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊNIN CHO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở CÁC TRƢỜNG
CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC HIỆN NAY
Lê Thị Nam An1
Học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là một trong
những học phần đầu tiên trong chương trình đào tạo cho hệ VLVH bất kể chuyên
ngành nào của khối xã hội hay tự nhiên. Từ năm học 2009 – 2010, Bộ Giáo dục chủ



liền với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu phim đèn
chiếu, phim điện ảnh, băng video.
- Về ưu điểm
Thứ nhất, đặc thù của môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin là kiến thức trừu tượng, khó nhớ, khó học. Do đó, khi giảng dạy trong thời gian
ngắn và ít có thời gian xem lại bài học như vậy sẽ khiến cho sinh viên dễ quên kiến
thức và không hứng thú với môn học. Nếu sử dụng phương pháp đàm thoại có hệ
thống thì khó đảm bảo thời gian cho chương trình, còn nếu chỉ sử dụng phương pháp
thuyết trình thì dễ gây mệt mỏi cho sinh viên. Do đó, theo tôi, đối với môn học này
nếu giảng dạy cho hệ VLVH thì nên sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp
phương pháp trực quan sẽ gây hứng thú cho người học.
Thứ hai, kiến thức quá nhiều cộng với việc học tập liên tục môn học trong thời
gian ngắn khiến cho sinh viên khó có thể tiếp thu một cách trọn vẹn tất cả những phần
đã học. Do đó, việc họ ghi nhớ bằng sơ đồ, bằng hình vẽ sẽ khiến ấn tượng về bài học
trở nên dễ dàng hơn.
Với thời lượng đã được giảm nhiều so với việc tách thành ba môn như trước đây
dẫn giáo viên đến hai thái cực: một là, dạy với tốc độ vừa phải, chỉ dạy kỹ một số nội
dung còn lại giới thiệu lướt qua để sinh viên về đọc sách giáo khoa. Nhưng thường thì
tâm lý người dạy thường không yên tâm khi thực hiện cách này vì như vậy sinh viên
sẽ khó nhớ được logic bài học, đặc biệt là khi ôn bài. Hai là, dạy với tốc độ nhanh, nội
dung nào cũng dạy nhưng chỉ có thể giới thiệu những ý chính. Với cách này thì giáo
viên yên tâm về nội dung môn học nhưng sinh viên sẽ không có thời gian để hiểu sâu
kiến thức. Nhưng dù với cách nào, việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ khiến cho
sinh viên dễ học hơn.
Thứ ba, việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ tạo thuận lợi cho sinh viên trong
quá trình ôn tập và ôn thi.
Đối với hệ đào tạo VLVH, thông thường người học sẽ phải học liên tục nhiều
môn trong thời gian ngắn. Sau đó, họ sẽ được thi cùng một lúc các môn vừa học. Do

Đồng thời có thể liên kết các kiến thức giữa các bài, các chương khi cần thiết.
- Về cơ sở vật chất
Từ thực tế giảng dạy môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin cho hệ đào tạo VLVH trình độ đại học ở trường Đại học Vinh tôi thấy rằng rất
ít các trung tâm nơi đặt lớp có màn chiếu để thực hiện bài giảng điện tử. Chủ yếu giáo
viên vẫn dùng bảng đen phấn trắng để giảng dạy. Do đó, việc sử dụng hình thức trình
bày trực quan bằng bài giảng điện tử rất ít được thực hiện. Giáo viên chủ yếu vẫn sử
dụng phương pháp minh họa trực quan bằng công cụ là bảng đen, phấn trắng và phấn
màu.
- Về người học
Sinh viên khá thích thú với những sơ đồ minh họa hơn là việc phải chép rất
nhiều chữ vào vở mỗi buổi học. Tất nhiên, cần phải kết hợp phương pháp trực quan

13


với các phương pháp dạy học khác như phương pháp đàm thoại ngắn, phương pháp
giảng giải, chứng minh…để làm rõ nội dung môn học.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khi sử dụng phƣơng pháp trình bày
trực quan trong việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
– Lênin
Để khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của phương pháp trình
bày trực quan trong quá trình giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:
- Về khâu chuẩn bị
Giáo viên cần chuẩn bị giáo án điện tử mà nội dung được trình bày theo các sơ
đồ, hình ảnh minh họa. Tránh việc biến trình chiếu sinh động thành tái hiện sách giáo
khoa với những dòng chữ dày đặc. Tuy nhiên, không phải ở cơ sở liên kết giảng dạy
nào cũng có đầy đủ cơ sở vật chất để thực hiện việc giảng dạy theo phương pháp trình
chiếu trực quan. Do đó, nếu không thể trình bày trực quan bằng máy chiếu, giáo viên

không thể nắm được bài học và khó có điểm tốt. Còn những người tập trung chú ý học
điểm của họ sẽ cao bởi chính những sơ đồ, hình vẽ đã giúp họ nắm được kiến thức rất
nhanh.
Tóm lại, hệ đào tạo VLVH bao giờ cũng đòi hỏi nỗ lực của người học lẫn người
dạy gấp nhiều lần so với hệ chính quy. Bởi bản chất của giáo dục là đào tạo con
người, “trồng người” nhưng trong phạm vi này ý nghĩa đào tạo con người lại lớn hơn:
đó là đào tạo những con người đã và đang làm việc để họ làm việc tốt hơn, cống hiến
nhiều hơn cho xã hội.

15


NHỮNG BẤT CẬP TRONG ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Trịnh Văn Anh1
Nguyễn Ngọc Tài2
Từ lâu, hệ đào tạo không chính quy chiếm một vai trò nhất định trong hệ thống
giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời cho mọi đối tượng,
công cuộc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế
xã hội, hiện nay hệ đào tạo VLVH đang bị thử thách gay gắt về chất lượng sản phẩm
đào tạo, thậm chí, một vài địa phương đã “quay lưng” và “nói không” với việc tuyển
dụng viên chức đối với các hồ sơ có liên quan đến tầm bằng VLVH. Bài viết này, trên
cơ sở phân tích những bất cập, chúng tôi đưa ra một số đề xuất góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo hệ vừa học hiện nay.
1. Những bất cập trong công tác đào tạo hệ VLVH hiện nay
Lịch sử đào tạo hệ tại chức (hiện nay gọi là hệ VLVH) của Việt Nam đã có thâm
niên gần 50 năm. Đúng như tên gọi của nó, thành tích đào tạo của bậc không chính
quy này đã góp phần giúp đất nước có thêm nhiều cán bộ nâng cao năng lực, trình độ
chuyên môn trong quá trình công tác. Trong điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam những
năm chiến tranh và sau khi thống nhất đất nước thì đây là giải pháp tốt cho việc nâng

cần đóng tiền, các tù tài trượt giấc mộng cử nhân có thể ung dung ngồi học hệ tại chức
sau kì thi tuyển chiếu lệ. Tất nhiên, nói như vậy không phải là tất cả mọi người học hệ
này đều như thế mà tỷ lệ số đông chiếm áp đảo loại hình đào tạo này. Theo nhiều
giảng viên thì đây được xem là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp nhất đến chất
lượng đào tạo. Chất lượng đầu vào thấp, từ đó trượt đến kết quả đầu ra cũng không
cao là điều dễ hiểu.
Thứ đến là, do tính chất đặc thù của đối tượng học. Như trên, chúng tôi đã phân
tích, bên cạnh đối tượng là những học sinh vừa tốt nghiệp cấp 3 thì còn có những
người đã đi làm, thậm chí đã có bằng đại học chính quy. Đối tượng đi làm thường bận
bịu, có nhiều kinh nghiệm, song khả năng tiếp thu lại hạn chế hơn lớp trẻ, nhiều khi,
họ tới lớp vào buổi tối (hoặc cuối tuần) với tâm trạng mệt mỏi do áp lực công việc, gia
đình, điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức (một số không trụ
nổi bỏ học giữa chừng). Với thành phần đa dạng như thế, nên ít nhiều ảnh hưởng đến
việc tổ chức lớp học, chất lượng đào tạo.
Cũng không thể không bỏ qua yếu tố tổ chức đào tạo. Có nhiều ý kiến cho rằng,
tổ chức giảng dạy cho hệ VLVH là tận dụng thời gian rảnh của giảng viên, và hoàn
toàn phụ thuộc vào họ. Một môn học của hệ này chỉ diễn ra vài ba hôm là hết chương
trình, vì thế để thức hiện việc “đánh nhanh rút gọn” buộc phải cắt xén chương trình,
đổi giờ, bớt giờ, người học chưa kịp ngẫm, thậm chí chưa kịp biết tên môn học, tên
giảng viên là đã “hết phim” và bắt tay vào thi tuyển kết thúc học phần. Đa phần giảng
viên chưa quan tâm đến ý thức, thái độ học tập của học viên, chỉ lo hoàn thành bài
giảng của mình một cách thụ động. Tiết học mang tính chất lý thuyết, hàn lâm xa vời
thực tiễn không hữu ích cho học viên nhất là những người đã đi làm. Với kiểu học cỡi
ngựa xem hoa như thế thì chắc chắn không thể so sánh với hệ chính quy. Tất nhiên,
không phải tất cả sinh viên của hệ này đều có chất lượng thấp hơn so với sinh viên hệ
đào tạo chính quy mà phần lớn là như thế. Chuẩn đầu ra thấp hơn rất nhiều so với
chính quy, thậm chí nhiều cơ sở đào tạo còn xem như một lợi thế trong việc bao tiêu
đầu ra để dễ dàng thu hút sinh viên trong tuyển sinh. Mới đây, trong một bài viết của
một tác giả nào đó có nhắc đến khái niệm “mất mùa người”, có phải vì ta trồng người
17

tuyển dụng của các công ty, cơ quan, trường học, chúng tôi rất ít khi thấy thông tin
không cần bằng cấp, kinh nghiệm mà hoàn toàn ngược lại. Tư tưởng sùng bái bằng
cấp đã ngấm vào máu thịt lớp trẻ cho nên hiện nay mới có tình trạng rất nhiều cử
nhân, kĩ sư, thạc sĩ đi làm gia sư, phục vụ quán ăn, chăn vịt, cắt cỏ, phát tờ rơi…. Có
một câu chuyện hài hước xen lẫn chua xót, đắng cay là, một bà chủ nhà hàng nhận xét
về nhân viên của mình trước phóng viên báo chí “Tôi tuyển cậu ấy vì có bằng kĩ sư
điện nên rửa chén nhanh như điện (?)”.
18


2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hệ VLVH hiện nay
Chấn chỉnh lại động cơ học tập của người học. Mọi hành động đều xuất phát từ
động cơ, theo chúng tôi điều đầu tiên là cần phải chấn chỉnh lại động cơ học tập thiếu
tích cực của người học. Nhà trường cần giáo dục cho học viên để họ thấy là học trước
hết để làm người, để lấy kiến thức phục vụ cho công việc, trở thành người có ích cho
gia đình và xã hội chứ không phải vì bằng cấp. Muốn có động cơ học tốt thì học viên
phải có kiến thức phổ thông tốt (ít nhất là 3 năm cấp III), có nghĩa là đầu vào phải tốt
mới có khả năng theo kịp chương trình đại học, tạo hứng thú trong học tập. Muốn vậy,
phải thắt chặt khâu tuyển sinh đầu vào, thi hết học phần, thực hiện học nghiêm túc, thi
nghiêm túc, tự học là chính, lý thuyết phải được ứng dụng, dạy học theo lối sáng tạo
tư duy sáng tạo không thể là đọc chép. Thà chấp nhận số lượng ít, nhưng chất lượng
cao còn hơn học viên đông nhưng lại không biết làm việc. Tất cả nhằm lập lại chính
danh - thực học: trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò là việc phải làm
ngay. Nhà trường cần có trách nhiệm trong việc này, đào tạo cốt ở chất lượng, không
phải số lượng. Tuy nhiên, muốn thay đổi thái độ học tập của người học thì xã hội cần
có cái nhìn đúng hơn về tấm bằng đại học trong tuyển dụng nhân sự, tuyển trên cơ sở
năng lực không nên đánh giá quá nặng về mặt bằng cấp. Người học chỉ có động cơ
học tập đúng đắn khi xã hội thực sự trọng dụng tài năng của họ.
Dân tộc VN là một dân tộc hiếu học, coi trọng nhân tài, truyền thống này đã có
từ ngàn đời nay. Sở dĩ người ta hiếu học, có động cơ học tập đúng đắn là vì nhân tài

trong khi đó chương trình giảng dạy lại thuộc thập niên 80, 90. Chương trình giảng
dạy phải hiện đại, cập nhật, nguồn tài liệu dồi dào, dễ kiếm phù hợp với xu hướng
phát triển của thế giới nhưng trước hết là VN. Xây dựng chương trình phải khoa học,
nghiêm túc, không thể là cắt xén chương trình chính quy rồi bằng vài thao tác vi tính
là thành chương trình đào tạo hệ tại chức. Chương trình phải phát huy được tác dụng,
điều này có nghĩa là kiến thức thu thập trên giảng đường phải hữu ích ngay cho học
viên trong việc áp dụng vào công việc hiện tại của họ. Việc tăng cường liên kết với
công ty, doanh nghiệp, các trường đại học uy tín trong và ngoài nước trong việc xây
dựng chương trình, xây dựng các khu thực nghiệm, địa điểm thực hành thực tập cho
học viên, cũng như tham gia giảng dạy, trao đổi, đào tạo cán bộ giảng viên là cần thiết
trong giai đoạn hiện nay
Chúng ta cần thay đổi cách học, cách thi. Nếu trong điều kiện có thể nên thi vấn
đáp, học đâu thi đấy, không giới hạn chương trình, tất cả nhằm lập lại chính danh thực học: trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò. Tổ chức thi theo hình
thức này, đòi hỏi người thầy phải giỏi chuyên môn và thù lao cho họ phải cao (thi vấn
đáp thường rất mất thời gian, công sức của giảng viên). Cần tăng cường thanh tra,
kiểm tra công tác giảng dạy, thi cử, hoạt động chuyên môn của các khoa như khuyến
khích thầy/cô mỗi tháng tổ chức sinh hoạt chuyên môn 1, 2 lần, thắt chặt khâu thi cử
kết thúc học phần, đình chỉ, buộc thôi học những SV có ý thức thái độ kém, gian lận
trong thi cử và có kết quả học tập không tốt,
Cuối cùng, chúng ta cần phải nâng cao công tác thanh tra giáo dục. Tất cả
những điều nêu trên nếu thiếu công tác thanh tra thì cũng trở thành “cải lương”, vì
vậy, thanh tra là then chốt, quan trọng số một quyết định sự thành bại của nền giáo
dục đại học nói chung và giáo dục VLVH nói riêng. Thanh tra về tất cả cả mảng đầu
20


vào, đầu ra, chất lượng đào tạo… tất cả cần đi vào thực chất: học thật, thi thật, bằng
thật, danh thật.
Hệ đào tạo VLVH nếu xét về bản chất nguyên thủy thì nó đóng vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển xã hội, tạo điều kiện để mọi người được học tập suốt đời

đưa ra những quy định, quy chế, giải pháp nhằm chấn chỉnh tổ chức đào tạo, cải thiện
chất lượng đào tạo và bước đầu đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, có sự
thay đổi đáng kể. Dưới góc độ của người trực tiếp tham gia giảng dạy hệ đào tạo này,
tôi xin chia sẻ một số ưu điểm, tồn tại và đề một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả, chất lượng đào tạo hệ VLVH.
2. Nội dung
2.1 Đôi nét về hệ đào tạo VLVH ở trƣờng Đại học Đồng Tháp
Năm 2003, Trường Đại học Đồng Tháp được nâng cấp từ trường Cao đẳng Sư
phạm Đồng Tháp, thành lập 1978 (hợp nhất với trường Trung học Sư phạm Đồng
Tháp, thành lập năm 1975). Vì vậy bề dầy đào tạo ngành Sư phạm đem lại cho Đại
học Đồng Tháp một ưu thế trong việc đào tạo hệ VLVH. Nghĩa là sinh viên Sư phạm
sau khi tốt nghiệp Cao đẳng hoặc Trung học Sư phạm ra trường đáp ứng nhu cầu dạy
học các cấp tiểu học, trung học cơ sở cho địa phương hoặc một số tỉnh khác, do nhu
cầu của bản thân, của nhà trường và yêu cầu của ngành Giáo dục, phần lớn các cựu
sinh viên ấy đã trở lại tham gia học tập nâng cao trình độ của hệ VLVH.
Tính đến nay (2013), Đại học Đồng Tháp với gần 10 năm đào tạo hệ VLVH, con
số người được đào tạo ước tính trên hàng chục ngàn... Ngoài đào tạo hệ VLVH tại
trường, quy tụ giáo viên trong tỉnh, Đại học Đồng Tháp đã và đang liên kết đào tạo
với trên mười tỉnh thành khác như Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc
Liêu, Sóc Trăng,Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Đà Lạt, Nha Trang, Bình Thuận...

1

ThS – Giảng viên trường Đại học Đồng Tháp

22


Gần đây, ngoài thế mạnh Ngành Sư Phạm, theo xu thế đào tạo chính quy đa
ngành, Đại học Đồng Tháp cũng đã mở nhiều mã ngành hệ VLVH tại trường Đại học

của giảng viên...) chưa được quan tâm đúng mức.
23


- Một số nơi liên kết phương tiện xe cộ, đi lại khó khăn, việc bố trí xe đưa đón
còn hạn chế (từ 03 người trở lên dạy cùng thời điểm mới có xe đưa đón, hoặc cơ sở
liên kết quá xa như Nha Trang, Đà Lạt...giảng viên phải tự đi). Điều này ảnh hưởng
không ít đến sức khoẻ, thời gian của người đi dạy.
- Một số ít giáo viên chưa thực sự tâm huyết, nhiệt tình với việc giảng dạy do
vậy có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
- Một số học viên cũng chưa có tinh thần, thái độ học tập tốt. Việc tự giác học
tập để nâng cao trình độ chưa thực sự là động lực, mục tiêu học tập mà học cốt để thi
cho qua và lấy được bằng cấp. Điều này dẫn đến chất lượng học tập chưa cao.
- Việc kiểm tra, đánh giá qua bài kiểm tra thường kỳ và bài thi kết thúc môn học
cũng chưa thực sự hiệu quả, chưa đánh giá được thực lực học tập của học viên (do
chưa có ngân hàng đề thi và một số cán bộ coi thi đôi khi còn nễ nang, dễ dãi..)
3.3. Một số giải pháp
Từ thực trạng trên cũng như thực trạng chung cũa hệ đào tạo hệ VLVH hiện
nay, tôi xin kiến nghị một số giải pháp như sau:
Một là, cần nâng cao ý thức trách nhiệm, sự tận tâm, tận lực của người dạy, sự tự
giác, chủ động tích cực của người học hơn nữa để nâng cao chất lượng đào tạo. Đối
với những giảng viên trẻ mới ra trường được vài năm, kinh nghiệm ít không nên bố trí
dạy ở các lớp VLVH.
Hai là, việc kiểm tra, đánh giá cần có sự cải tiến nhằm đạt đến hiệu quả học thật,
thi thật, chất lương thật: tăng số bài kiểm tra thường kỳ (có thể một tín chỉ một bài) để
tạo động lực học tập tích cực và giảng viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng
dạy phù hợp hoặc bổ sung kiến thức hoàn chỉnh hơn; nhất thiết thành lập ngân hàng
đề thi như hệ đào tạo chính quy theo học chế tín chỉ để tránh hiện tượng khoanh vùng
kiến thức, phạm vi ra đề, tạo sự ỷ lại trong học tập và một số hiện tượng tiêu cực
không đáng có khác. Ngoài hình thức thi có thể cho học viên làm các tiểu luận, bài tập

mang tính chất hoàn thiện.
Với ước mong được đóng góp một tiếng nói nhỏ trong việc đảm bảo chất lượng
cho việc đào tạo hệ VLVH tại trường Đại học Đồng Tháp cũng như của các trường
Đại học trong cả nước, trên đây là một số ý kiến đôi khi chưa tránh khỏi sự chủ quan
của người viết, mong nhận được sự trao đổi trong Hội thảo để các giải pháp trên có
tính khả thi hơn.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status