Xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bậc đại học của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
*

TRẦN HỒNG HẠNH XÂY DỰNG VÀ VẬN HÀNH HỆ THỐNG
ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC
CỦA KHOA LUẬT TRỰC THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA
HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05

1.2.2. Quan niệm về chất lượng trong giáo dục đào tạo 13
1.2.3. Quan niệm về chất lượng trong đào tạo đại học 16
1.2.4.Quản lý chất lượng đào tạo đại học 17
1.3. Kiểm định chất lƣợng, kiểm định chất lƣợng đào tạo đại học 19
1.3.1. Kiểm định chất lượng 19
1.3.2. Kiểm định chất lượng đào tạo đại học 20
1.3.3. Kinh nghiệm KĐCL giáo dục đại học của một số nước trên thế
giới 21
1.4. Đảm bảo chất lƣợng 25
1.5. Hệ thống đảm bảo chất lƣợng trong giáo dục đại học 28

2
1.5.1. Các lĩnh vực cần quản lý 28
1.5.2. Những tiêu chí làm cơ sở cho việc đánh giá 29
1.5.3. Các quy trình ĐBCL, KĐCL, quản lý chất lượng 35
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG
ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC CỦA KHOA LUẬT – ĐHQGHN
2.1. Tổng quan về Khoa Luật ĐHQGHN 36
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của Khoa 36
2.1.2. Đinh hướng, mục tiêu phát triển của Khoa 38
2.2. Thực trạng công tác ĐBCL đào tạo đại học của Khoa Luật 38
2.2.1. Lĩnh vực 1: Công tác tổ chức và quản lý 38
2.2.2. Lĩnh vực 2: Chương trình đào tạo và các hoạt động đào tạo 41
2.2.3. Lĩnh vực 3: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên . 45
2.2.4. Lĩnh vực 4: Người học 48
2.2.5. Lĩnh vực 5: NCKH, dịch vụ và chuyển giao công nghệ 51
2.2.6. Lĩnh vực 6: Hoạt động hợp tác quốc tế 57
2.2.7. Lĩnh vực 7: Trang thiết bị, cơ sở vật chất 58
2.2.8 Lĩnh vực 8: Các nguồn tài chính 59
2.3. Nhận xét, đánh giá chung về công tác ĐBCL của Khoa Luật 61


4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GD
GDĐH
ĐTĐH
ĐBCL
KĐCL
NCKH
THPT
CB,VC
CB-GV-NV
CBGD
QLĐT&KH
CT-HSSV
HCTH
QHQT

Danh môc c¸c b¶ng
Bảng 1: Bảng thống kê số lượng cán bộ, giảng viên và nhân viên 45
Bảng 2: Bảng thống kê, phân loại giảng viên trong Khoa 45
Bảng 3: Số lượng sinh viên hệ chính quy trúng tuyển và nhập học (2003 - 2008) 49
Bảng 4: Phân loại số lượng sinh viên nhập học đối với hệ chính quy và phi chính
quy (2003 - 2008) 50
Bảng 5: Số lượng sinh viên đại học tốt nghiệp (2003 – 2008) 50
Bảng 6: Tình trạng tốt nghiệp của sinh viên đại học hệ chính quy (2003 – 2008) 50
Bảng 7: Số lượng đề tài NCKH và chuyển giao công nghệ của Khoa được nghiệm
thu ( 2003-2008 ) 53
Bảng 8: Số lượng cán bộ của Khoa tham gia thực hiện đề tài NCKH (2003-2008) 54
Bảng 9: Số lượng sách của Khoa được xuất bản (2003 - 2008) 54
Bảng 10: Số lượng cán bộ của Khoa tham gia viết sách (2003-2008) 54
Bảng 11: Số lượng bài của các cán bộ cơ hữu của Khoa được đăng tạp chí (2003 -
2008) 55
Bảng 12: Số lượng cán bộ cơ hữu của nhà trường tham gia viết bài đăng tạp chí
(2003 -2008) 55
Bảng 13: Số lượng báo cáo khoa học do cán bộ cơ hữu của Khoa báo cáo tại các
Hội nghị, Hội thảo hay kỷ yếu (2003 - 2008) 56
Bảng 14: Số lượng sinh viên của Khoa tham gia thực hiện đề tài khoa học (2003 -
2008) 56
Bảng 15: Thành tích nghiên cứu khoa học của sinh viên (2003-2008) 56
Bảng 16: Số liệu trang thiết bị, cơ sở vật chất và thư viện 59
Bảng 17: Tổng kinh phí từ các nguồn thu và học phí (2003-2008) 60
Bảng 18: Thống kê mức độ đồng ý về tính quan trọng và tính khả thi của Hệ thống
ĐBCL đã xây dựng 89
6

7
là vấn đề được đông đảo đội ngũ giáo viên, các nhà nghiên cứu và quản lý
giáo dục ở các cấp quan tâm. Đã từ lâu chúng ta tốn rất nhiều thời gian để bàn
về chất lượng giáo dục của chúng ta hiện nay, đặc biệt là chất lượng giáo duc
đại học- một vấn đề nóng hổi mà bất kỳ ai cũng phải quan tâm trong những
năm gần đây. Chất lượng giáo dục của chúng ta hiện nay còn thấp vì chưa
thỏa mãn được yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội. Có lẽ một trong
những nguyên nhân quan trọng là do việc quản lý chất lượng, tức là việc kiểm
định quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm trong giáo dục, cũng như xác định
các điều kiện cần và đủ để đảm bảo chất lượng trong giáo dục chưa được thực
thi theo một hệ thống chuẩn mực thống nhất. Hay nói cách khác chúng ta
chưa thực sự tuân thủ và vận hành theo quy trình hệ thống đảm bảo chất
lượng sao cho có hiệu quả nhất. Vậy phải làm thế nào để có thể đảm bảo được
chất lượng giáo dục đại học. Đây chính là ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn
đề mà chúng ta đang tìm hiểu, nghiên cứu.
Khoa Luật trưc thuộc ĐHQGHN, tiền thân là một Khoa thuộc Trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập từ năm 1976. Là một trong những
trung tâm đào tạo, nghiên cứu luật học hàng đầu của cả nước đào tạo cử nhân,
thạc sỹ và tiến sỹ luật học. Năm 2000 Khoa Luật đã trở thành một Khoa độc
lập trực thuộc ĐHQGHN có tư cách pháp nhân (theo Quyết định số 85/TCCB
ngày 07/3/2000 của Giám đốc ĐHQGHN). Trong giai đoạn hiện nay yêu cầu
đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo dù diễn ra nhanh hay chậm nhưng đó
là điều tất yếu. Nhận thức rõ điều đó năm 2006 Khoa Luật đã đăng ký tham
gia chương trình kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo của ĐHQGHN nhằm
đảm bảo chất lượng và nâng cao vị thế của mình trong giới đào tạo luật học
trong và ngoài nước, tiến tới thành lập Trường đại học Luật thành viên của
ĐHQGHN vào năm 2010. Xuất phát từ ý nghĩa đó chúng tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
bậc đại học của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội” để nghiên
cứu với hy vọng góp phần nhỏ bé trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng

đảm bảo chất lượng đào tạo đại học của Khoa Luật từ năm 2003 đến nay.

9
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của các khái niệm quản lý, quản lý chất lượng
và hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bậc đại học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng đào tạo bậc
đại học của Khoa Luật ĐHQGHN.
- Lựa chọn một hoặc hai lĩnh vực để xây dựng và vận hành hệ thống đảm
bảo chất lượng đào tạo bậc đại học của Khoa Luật ĐHQGHN sao cho phù
hợp và hiệu quả nhất.
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
của Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN.
- Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo chất
lượng đào tạo bậc đại học của Khoa Luật ĐHQGHN.
6. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu vấn đề cơ bản sau:
- Làm thế nào để xây dựng được hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bậc
đại học và vận hành nó sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất với Khoa Luật
ĐHQGHN?
7. Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng và vận hành một cách sáng tạo, linh hoạt, đồng thời triển
khai đồng bộ hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bậc đại học thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo chung của Khoa cũng như hoàn thành được
mục tiêu sứ mạng trở thành trường đại học Luật, thành viên của ĐHQGHN
vào năm 2010.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

khác nhau.
Theo PGS.TS. Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự
phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt
đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có
sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý [8,T17]
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quản lý: “Quản lý xã hội
một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn
bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và
vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo
cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [1.tr.283].
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí thì quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra [12,T19] . Như

12
vậy có thể nói rằng bất luận một tổ chức nào với mục đích gì, cơ cấu và quy
mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và người quản lý để tổ chức hoạt động
để đạt được mục đích của mình. Người quản lý phải là người có trách nhiệm
phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, đồng thời chỉ dẫn sự vận hành của
một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt
được mục đích đặt ra.
Trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì: “Quản lý là hoạt động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao
động nói chung và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự
kiến” [14,tr24]. Nói cách khác “Quản lý là sự tác động liên tục, có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý)
đến khách thể quản lý (người bị quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội,
kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng”. [26,tr71]

giáo dục là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học trong các
hoạt động giáo dục. Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các
cấp bậc quản lý, giữa người với người (Giáo viên- giáo viên-Sinh viên, Giáo
viên-Lãnh đạo…), giữa người với việc (quá trình hoạt động giáo dục), giữa
người với vật (điều kiện giáo dục, cơ sở vật chất…)
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tâm điểm là quá trình dạy học, giáo
dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất.
Nói cách khác khác quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của
chủ thể quản lý lên khách thể, tập hợp đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục
tiêu của hệ quản lý. Trong đó chủ thể quản lý là người quản lý còn khách thể
quản lý là các điều kiện đảm bảo chất lượng trong giáo dục.
Trong nội dung quản lý nhà nước về giáo dục cũng được xác định rõ
trong điều 99 của Luật giáo dục (sửa đổi-2005), trong đó có đề cập đến việc
“Tổ chức quản lý việc đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng

14
giáo dục”, điều này có một ý nghiã vô cùng quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo, trong việc phát triển quy mô của hệ thống
giáo dục quốc dân nước ta hiện nay.
Chúng ta thấy các nội dung quản lý đều liên quan trực tiếp đến chất
lượng giáo dục từ mục tiêu giáo dục, các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo
dục (Chương trình, giáo viên, cơ sở vật chất, tổ chức quản lý…) cho đến các
công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục Việt
Nam (2001 – 2010) cũng đã nêu lên yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, mở
rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục.
1.1.3. Quản lý giáo dục đại học

thường thuộc chuyên ngành được đào tạo [27]
* Mô hình tổng thể quá trình đào tạo đại học như sau: [23, tr110]:

Đầu vào
Qúa trình
đào tạo
Kết quả
đào tạo
Tham gia thị
trƣờng lao động

Thông tin phản hồi
Có thể nói mô hình này là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá chất
lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các loại hình
đào tạo khác nhau.
Quản lý giáo dục đại học là một bộ phận nằm trong khái niệm quản lý
giáo dục nói chung. Cho nên quản lý giáo dục đại học được hiểu là: tập hợp
- Sinh viên và
học viên
- Giảng viên
- Trang thiết bị

- Tự tạo việc
làm

16
những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan
trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống
cả về số lượng cũng như chất lượng.
Trong những thập niên gần đây, hệ thống giáo dục đại học ở các nước
trên thế giới đã và đang có những biến đổi sâu sắc cả về quy mô, cơ cấu loại
hình, mô hình đào tạo…, với xu thế đa dạng hoá, chuyển từ giai đoạn tinh hoa
cho số ít sang nền giáo dục đại học đại chúng; từ tháp ngà kinh viện sang thực
tiễn cuộc sống với những thay đổi sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, chương
trình và phương pháp dạy học, cơ chế quản lý…Trong bối cảnh sôi động của
các xu hướng phát triển của đời sống xã hội hiện đại, giáo dục đại học ở các
nước đã và đang có nhiều cơ hội phát triển, đồng thời phải đối mặt với nhiều
thách thức to lớn, đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô
chất lượng và hiệu quả đào tạo, giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu
cầu và nguồn lực cho phát triển.
Hệ thống quản lý giáo dục đại học của nước ta bắt đầu được đổi mới từ
năm 1987, sau đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI. Trong qúa trình
đổi mới, quyền tự chủ của các trường đại học ngày càng được nâng lên.
Những thành tựu chính của quá trình đổi mới giáo dục đại học được thể chế
hoá trong Luật Giáo dục ban hành cuối năm 1998, trong đó có một điều khẳng
định quan trọng nhất về cơ chế quản lý mới đối với các trường đại học là
khẳng định quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học.
Ở Việt Nam trong thời gian khi đưa ra chủ trương tăng quyền tự chủ
của các trường đại học, chúng ta chưa quan niệm đầy đủ về việc nâng cao
trách nhiệm xã hội. Vì vậy cho đến ngày nay mặc dù vấn đề quản lý giáo dục
đại học đã được quan tâm nhưng chúng ta cũng chưa hình thành được một hệ
thống toàn diện và đầy đủ để quản lý các trường đại học.

nhiều. Nên có thể hiểu một cách sơ bộ rằng muốn có một sản phẩm có chất
lượng, đòi hỏi phải có các điều kiện đảm bảo nó trong cả một công nghệ dây
truyền sản xuất khép kín.
Để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chất lượng quả thực là điều
không đơn giản, mà lý do chính ở chỗ ý tưởng về chất lượng là rất rộng, quan

18
niệm chất lượng nhiều khi mang tính cảm tính và đạo đức nhiều hơn những
chỉ số khách quan. Nên ngay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ
cũng có cách quan niệm về chất lượng khác nhau.
Dưới đây là một vài định nghĩa về chất lượng.
1 – Chất lượng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả
mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn pháp – NFX 50 – 109).
2 - Theo định nghĩa của ISO 9000 – 2000 “Chất lượng là mức độ đáp
ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”.
3 - Theo tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế
(IQAAHE – International Network of Quality Assuaance Agencies in Higher
Education), đã đưa ra hai khái niệm chất lượng GD.
- Tuân theo các chuẩn quy định.
- Đạt được các mục tiêu đề ra.
Qua phân tích các quan niệm về chất lượng trong lĩnh vực sản xuất và
dịch vụ có thể đi đến định nghĩa như sau: Chất lượng là cái làm hài lòng,
vượt qua những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Muốn có sán
phẩm hay dịch vụ có chất lượng thì những sản phẩm hay dịch vụ đó phải đạt
được những chuẩn mực đã được định sẵn.
Qua việc phân tích trên một lần nữa khẳng định việc đưa ra khái niệm
chất lượng một cách khoa học, chính xác là vấn đề khó, nên trong lĩnh vực
giáo dục đào tạo khi muốn đưa ra định nghĩa về chất lượng với đầy đủ nội
hàm của nó còn là điều khó hơn nhiều. Dưới đây chúng ta cùng tìm hiểu và
phân tích những quan niệm về chất lượng trong giáo dục và đào tạo để làm rõ

năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương
trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức – Viện nghiên cứu
phát triển giáo dục) [23, tr31]
- Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê
Đức Phúc-Viện Khoa học giáo dục) [23, tr31]
Có thể nói mỗi đơn vị đào tạo luôn luôn xác định cho mình các mục
tiêu đào tạo sao cho phù hợp với nhu cầu thiết yếu của xã hội để đạt được

20
“chất lượng bên ngoài”, đồng thời cơ sở đào tạo đó luôn phải có các hoạt
động để hướng vào nhằm thực hiện mục tiêu đề ra, “đạt chất lượng bên trong”
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
“con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và
được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động
hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo
của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu
nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ
dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện
đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên… và còn phải tính
đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao
động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí
làm việc, cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sản xuất, dịch vụ, khả
năng phát triển nghề nghiệp.
Chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và
được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp. Quá trình
thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lược đào tạo
mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường, như quan hệ cung cầu,
giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của nhà nước và
người sử dụng lao động. Do đó, khả năng thích ứng còn phản ảnh cả về hiệu
quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động.

2. Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”
3. Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”
4. Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”
5. Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”
6. Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”
Như vậy có thể thấy rằng ngay bản thân những người làm công tác giáo
dục, các nhà quản lý cũng có cách nhìn nhận, quan niệm về chất lượng giáo
dục đại học không thống nhất.
Chất lượng giáo dục đại học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
như đã phân tích trên cho thấy: đây là một khái niệm động, đa chiều và gắn

22
với các yếu tố chủ quan thông qua mối liên hệ giữa người với người. Để đánh
giá và đo lường chất lượng của một trường đại học nào đó, thông thường
người ta sử dụng bộ công cụ, hay bộ thước đo có những tiêu chuẩn với các
tiêu chí tương ứng. Các tiêu chí này có thể là tiêu chí định lượng, tức là đánh
giá và đo được bằng con số cụ thể. Ngược lại,các tiêu chí cũng có thể là định
tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá. Việc đánh
giá và đo lường có thể được tiến hành bởi chính các lực lượng trong nhà
trường như: cán bộ, giáo viên, sinh viên hoặc do các cơ quan hữu trách bên
ngoài đánh giá.
Như vậy để có thể đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo đại học cần
phải có Bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục đại học về tất cả các lĩnh vực và kiểm
định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó. Khi
không có Bộ tiêu chí chuẩn việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học sẽ dựa
trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá. Nhưng mục tiêu này sẽ được xác
lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và những điều
kiện đặc thù của trường đó.
Với các đơn vị trực thuộc ĐHQGHN như Khoa Luật thì một công cụ
quan trọng để đảm bảo chất lượng đào tạo của đơn vị mình là tuân thủ theo

gốc từ hoạt động thương mại và công nghiệp nhưng lại rất phù hợp với hoạt
động giáo dục bởi: Đặc trưng của mô hình quản lý chất lượng tổng thể không
áp đặt cho một hệ thống tiêu chuẩn cứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo nào,
nó bao trùm lên toàn bộ cơ sở đào tạo; triết lý của mô hình quản lý chất lượng
tổng thể là tất cả mọi người dù ở cương vị nào, vào bất cứ thời điểm nào đều
là người quản lý chất lượng những phần việc mà mình được giao và hoàn
thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là làm thoả mãn nhu cầu của
khách hàng.
Từ phân tích 3 mô hình trên ta thấy, mô hình BS5750/Iso 9000 của Anh
cho rằng hệ thống chất lượng phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất
lượng nhất quán. Điều này khó có thể áp dụng trong giáo dục đại học bởi lẽ

24
khó có thể gọi người học, người hưởng thụ giáo dục đại học là “sản phẩm”,
hơn nữa cho dù có định nghĩa thế nào về sản phẩm của giáo dục đại học đi
chăng nữa thì cũng khó có thể tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng như nhau.
Do vậy mô hình này có lẽ được sử dụng nhiều trong các ngành sản xuất kinh
doanh và dịch vụ còn trong hoạt động giáo dục khi áp dụng mô hình này còn
nhiều vấn đề chưa phù hợp vì: “Sản phẩm” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo là
“Con người” mà con người thì khó có chất lượng như nhau. Còn mô hình quản
lý chất lượng tổng thể (TQM)-một mô hình cũng có xuất xứ từ thương mại và
công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục đại học. Nếu xem chất
lượng là sự phù hợp, trùng khớp với mục tiêu thì hoạt động giáo dục đào tạo
khi vận dụng mô hình này là phù hợp và hiệu quả hơn cả bởi vì: Tính khách
quan và độ tin cây cao; chú trọng theo dõi và thoả mãn nhu cầu của người học;
xác định mức chuẩn đặt ra theo nguồn lực hiện có; xác định lĩnh vực có thể cải
tiến và sử dụng nguồn lực tác động.
1.3. Kiểm định chất lƣợng, kiểm định chất lƣợng đào tạo đại học
1.3.1. Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation)
Như phân tích ở trên, chất lượng đào tạo có thể đánh giá trực tiếp qua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status