1
Câu 1 : Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa
là một khoa học vừa là nghệ thuật? Để kết hợp được cả 2 yếu tố này đạt hiệu
quả cao, cần thiết phải tiến hành những công việc gì trong công tác quy hoạch,
đào tạo, xây dựng và sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế?
Bài làm
1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của
Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực
kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, đểđạt được các mục tiêu phát
triển kinh tếđất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại
cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tếđược hiểu như hoạt động quản lý có
tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành
pháp (Chính phủ).
2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề
nghiệp :
a) Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó cóđối tượng nghiên cứu
riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang
tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia
các hoạt động kinh tế của xã hội.
Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của
Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của
một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các
phương pháp, xuất phát từ thực tiễn vàđược thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất
phát từ các quy luật khách quan vàđiều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng
giai đoạn phát triển.
Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :
- Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn đểđề ra nguyên lý
người nào cũng có những mặt mạnh vừa có cả những mặt yếu. Vì thế bộ phận quản
lý, nhân sự và các cán bộ quản lý nhân sự khi đối xử với một cán bộ quản lý kinh
tế đều phải phân tích toàn diện, khảo sát tổng hợp, cân nhắc kỹ lưỡng.
* Kiểm tra sát hạch, đề bạt, tiến cử một cách khoa học: Khảo sát những
kiến thức cơ bản, kỹ năng làm việc, trình độ nghiệp vụ, năng lực và thái độ làm
việc của các cán bộ quản lý kinh tế, thực hiện chế độ kiểm tra sát hạch để tránh
tình trạng việc dùng người lấy thân tín làm trọng, để đảm bảo chất lượng nhân
viên.
* Bổ sung trí tuệ và tài năng lẫn nhau, tạo nên một cơ cấu hợp lý:
Một người đứng riên lẻ không thể hoàn thiện, toàn mỹ, không thể đồng
thời có tất cả các kiến thức và tài năng thuộc mọi phương diện. Thế nhưng, một tập
3
thể được hợp thành bởi nhiều người, có thể bổ sung lẫn nhau để hình thành nên
một cơ cấu tối ưu, có thể làm nên sự nghiệp mà một người không thể làm nổi.
* Luôn luôn đổi mới và chuyển đổi một cách hợp lý:
Để thích ứng với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, để theo kịp với trào
lưu tiến bộ của thời đại. Việc thay thế các cán bộ mới, đồng thời điều chỉnh cơ cấu,
chất lượng của ban lãnh đạo các cấp là cần thiết.
Câu 2: Nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế? Phân tích mối liên hệ giữa
quy luật kinh tế và nguyên tắc quản lý kinh tế?
2.2.1. KHÁI NIỆM
Nguyên tắc quản lý là các qui tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các
cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế.
Mối liên hệ giữa quy luật kinh tế và nguyên tắc quản lý kinh tế???????
2.2.2. YÊU CẦU CỦA CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ KINH TẾ
Các nguyên tắc quản lý kinh tế do con người đặt ra nhưng không phải do sự
Quy luật giá trị, quy luật cung cầu – giá cả là những quy luật kinh tế cơ bản, có
tầm ảnh hưởng to lớn đối với sự hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị
trường của nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong điều
hành nền kinh tế vĩ mô. Đó là những quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao
đổi hàng hóa. Các quy luật kinh tế của thị trường quyết định sự vận động của thị
trường, do đó quyết định sự vận động của nền kinh tế thị trường. Các quy luật này
có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Các quy luật kinh tế của thị trường tạo ra động lực kinh tế, đó chính là lợi ích vật
chất, mà những người tham gia thị trường có thể đạt tới. Động lực này có vai trò
quyết định trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
+ Trong nền kinh tế bao giờ cũng tồn tại đồng thời các loại lợi ích: lợi ích xã
hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp.
Tiếp đến là lợi ích xã hội, lợi ích tập thể. Thực tế nước ta cho thấy nhiều chủ
trương, chính sách và biện pháp của Nhà nước do quan tâm thích đáng đến lợi ích
cá nhân, nên chúng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và được mọi người ủng hộ.
+ Trong nền kinh tế có nhiều thành phần, thì kinh tế tư nhân thường rất nhạy
cảm với các quy luật kinh tế của thị trường so với các thành phần kinh tế khác. Vì
vậy, đối với các nước dựa chủ yếu vào kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể thì khi
chuyển sang kinh tế thị trường, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là phải chuyển dịch các
5
hình thức sở hữu, thực hiện cổ phần hoá và tư nhân hoá một phần, mà còn phải đặc
biệt quan tâm tạo ra động lực kinh tế cho khu vực kinh tế Nhà nước và tập thể.
- Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế của thị trường là quy luật trung
tâm, là cơ sở, là động lực của các quy luật kinh tế khác và chi phối các hiện tượng
kinh tế, nhưng chúng lại hoạt động một cách tự phát, vì vậy trong quản lý vĩ mô
nền kinh tế, trước hết phải nhận thức rõ để vận dụng các điều tiết chúng vì lợi ích
của quốc kế dân sinh.
trường là cái có trước quan hệ cung cầu. Đây là hiện tượng phổ biến của sự hình
thành và vận động của giá cả trên thị trường. Thông qua sự vận động của giá thị
trường, các nhà sản xuất có thể nhận biết tương đối chính xác cầu của thị trường và
họ có thể chủ động đưa ra thị trường một khối lượng hàng hoá tương đối phù hợp
với nhu cầu đó. Sự cân bằng cung cầu là cơ sở quan trọng để ổn định giá cả của
từng loại hàng.
Qua đó ta thấy rằng Nhà nước cần phải quản lý giá, sự quản lý đó thể hiện sự
nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế của thị trường
Câu 4: Các hình thức quản lý Nhà nước về kinh tế? Gồm những hình thức
nào? Trong số các hình thức đó, hình thức nào quan trọng nhất, vì sao?
KHÁI NIỆM
Là tổng thể những phương tiện hữu hình và vô hình mà nhà nước sử dụng để
tác dùng lên mọi chủ thể kinh tế và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế
quốc dân.
Gồm những hình thức sau:
a. Pháp luật
* Khái niệm: Hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung
(quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng xã hội, do
nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển xã hội
theo đặc trưng đã định.
* Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế
- Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự
ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân, nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế bền vững.
- Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân.
- Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hoà phát triển kinh tế và phát
triển xã hội và bảo vệ môI trường
* Nội dung hoạt động của kế hoạch
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là đường lối chung tổng quát và
phương pháp chủ yếu, tổng thể để phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong một
thời gian dài (ở nước ta thường 10 năm)
8
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là sự cụ thể hoá một bước chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, nó là tập hợp các mục tiêu và sự bố trí sắp xếp các nguồn
lực tương ứng để thực hiện mục tiêu theo không gian và thời gian.
- Kế hoạch trung hạn là phương tiện chủ yếu để cụ thể hoá các mục tiêu và
các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược.
- Kế hoạch hàng năm là sự cụ thể hoá kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
- Chương trình là để xác định một cách đồng bộ các mục tiêu cần đạt, các
bước công việc phải tiến hành các nguồn lực cần huy động để thực hiện một ý đồ
nào đó.
- Dự án là tổng thể các hoạt động các nguồn lực và các chi phí được bố trí
chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
cụ thể (dự án xoá đói giảm nghèo của đồng bào các xã đặc biệt khó khăn ở vùng
sâu vùng xã).
- Ngân sách là bản tường trình bằng con số sự huy động và phân bổ các
nguồn lực cho việc thực hiện các chương trình dự án trong một giai đoạn phát
triển.
* Vai trò của quản lý kế hoạch vĩ mô
- Là căn cứ cơ bản của quản lý kinh tế quốc dân
- Là một khâu quan trọng và là một bộ phận cấu thành hữu cơ của quản lý
kinh tế quốc dân
- Là một công cụ quan trọng của nhà nước để điều hành kinh tế vĩ mô
* Vai trò của chính sách trong quản lý nhà nước về kinh tế
- Tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của
Đảng thành hiện thực.
- Là bộ phận năng động nhất có độ nhạy cảm cao nhất trước những biến
động trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức
xúc mà xã hội đặt ra.
* Hoàn thiện hệ thống các chính sách pháp lý cuả nhà nước về kinh tế
- Phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp dân giàu nước
mạnh (trước đây là vì hạnh phúc của nhân dân).
- Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội.
- Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển kinh tế là vì con người và do
con người.
d. Tài sản quốc gia
10
* Khái niệm: Theo nghĩa rộng bao gồm tất cả mọi nguồn lực của đất
nước, theo nghĩa hẹp là nguồn vốn và các phương tiện vật chất - kỹ thuật mà Nhà
nước có thể sử dụng để tiến hành quản lý kinh tế quốc dân.
* Các loại tài sản quốc gia
+ Công sở: Nơi làm việc của cơ quan hành chính nhà nước là nơi công
chức và nhân viên Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội của mình.
+ Ngân sách nhà nước: Hồ sơ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một
năm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
+ Tài nguyên thiên nhiên: gồm đất, nước, khoáng sản, rừng, biển,
khoảng không, môi trường là tài sản vô giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất hàng
đầu và là thành phần quan trọng bậc nhất của sự tồn tại và phát triển của mọi xã
hội.
khai thác sử dụng các tài nguyên thiên nhiên. Thực hiện nguyên tắc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên phải trả tiền kết hợp khai thác sử dụng với bảo vệ và khôi phục.
- Về quản lý kết cấu hạ tầng là tăng cường sự phối kết hợp giữa các ngành
kết cấu hạ tầng và việc xây dựng khai thác sử dụng và bảo vệ các công trình kết
cấu hạ tầng. Thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy hoạch thống nhất và
nhanh chóng đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng cần có kế hoạch khai thác
đồng thời phải tăng cường bảo vệ.
- Về quản lý doanh nghiệp nhà nước là thực hiện chuyển đổi cơ cấu sở hữu,
sắp xếp lại và đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt
động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước.
Phương hướng cơ bản
- Giữ doanh nghiệp nhà nước toàn phần ở một số ngành lĩnh vực then chốt.
- Cổ phần hoá một số doanh nghiệp vừa.
- Giao bán, khoán, cho thuê những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ.
- Giúp nhập giải thể hoặc phá sản những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài
Câu 5: Văn bản quản lý nhà nước có ý nghĩa gì trong quản lý kinh tế của Nhà
nước? Trong hệ thống văn bản quản lý Nhà nước, loại văn bản nào là quan trọng
nhất? Tại sao? Cho ví dụ minh họa?
Văn bản quản lý nhà nước (VBQLNN) là những quyết định và thông tin quản lý
thành văn (được văn bản hoá) do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi
12
hành bằng những hình thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý
nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân.
Văn bản quản lý kinh tế nhà nước là các văn bản xác lập mối quan hệ kinh tế giữa
+ Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
+ Nghị định của Chính phủ
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư
của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
+ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước
+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính
phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp
+ Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp
Câu 6: Quyết định quản lý kinh tế Nhà nước là gì? Nó đóng vai trò gì trong
quản lý kinh tế? Những căn cứ và phương pháp ra quyết định quản lý nhà
nước về kinh tế?
*Quyết định QLKT của NN là: những hành vi sáng tạo tư cách là sản phẩm lao
động của NN, nhằm định ra chương trình, tính chất hoạt động của người, hoạt động
phải thực hiện quyết định đó
* Vai trò của quyết định QLKT
14
Những hạn chế trong ban hành và thực hiện các quyết định QLNN hiện nay
Hiện nay, hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định
QLNN của chủ thể QLNN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tất cả những
hoạt động này đều hướng tới vì mục tiêu thực hiện quyền lực của nhân dân, phục
vụ nhân dân, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống để bảo đảm kỷ cương
xã hội. Tuy nhiên, việc bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý khi xây dựng, ban
hành và tổ chức thực hiện các quyết định QLNN trong giai đoạn hiện nay còn
nhiều bất cập.
15
Nhiều quyết định QLNN không đúng thẩm quyền, đúng chủ thể, phù hợp với
pháp luật, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. Thậm chí, một số
quyết định QLNN được ban hành trái với thẩm quyền của chủ thể ban hành, có dấu
hiệu vi phạm pháp luật, nội dung chưa phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành
của cấp bộ và địa phương trong năm 2007, phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái
pháp luật. Năm 2008, kiểm tra 1.968 văn bản thì phát hiện 490 văn bản có dấu hiệu
trái pháp luật (trong đó có 93 văn bản cấp bộ và 397 văn bản của địa phương). Như
vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm (1).)
Câu 7: Thế nào là một quy trình ra quyết định quản lý? Hãy lấy một ví dụ trong
thực tế để minh họa cho quy trình đó?
BÀI LÀM
Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý. Quyết định
quản lý liên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quy trình quản
lý. Quyết định quản lý được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người
lãnh đạo thể hiện tài năng của mình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện
quyết định quản lý. Vì vậy, để có quyết định chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu
Vì tính chất quan trọng của quyết định quản lý nên nội dung của quyết định
quản lý phải đảm bảo các yêu cầu như phải mang : tính khoa học, tính toàn diện,
tính khả thi, tính thống nhất, tính kịp thời, tính hiệu quả, tính linh hoạt và tính hợp
pháp. Một quyết định khoa học là quyết định phù hợp với định hướng, mục tiêu
của tổ chức, phù hợp với quy luật, nguyên tắc, nguyên lý khoa học và xu thế khách
quan, phù hợp với điều kiện cụ thể, với tình huống cần đưa ra quyết định và được
xây dựng dựa trên cơ sở vận dụng các phương pháp khoa học. Một quyết định toàn
diện là quyết định có nội dung bao quát được nhiều vấn đề, thỏa mãn cao các mục
tiêu, phù hợp với những ràng buộc nhất định, được sự ủng hộ của số đông. Quyết
định có tính thống nhất cao là quyết định được ban hành bởi các cấp, các bộ phận
chức năng phải thống nhất theo cùng một hướng do mục tiêu chung xác định và
các quyết định được ban hành tại các thời điểm khác nhau thì không được mâu
thuẩn, trái ngược và phủ định (những quyết định nào hết hiệu lực phải được bãi
bỏ). Một quyết định của tính kịp thời là quyết định ban hành vào thời điểm quyết
định có hiệu quả cao nhất, đáp ứng được sự mong đợi của đối tượng quản lý. Một
quyết định linh hoạt là quyết định phản ánh được mọi nhân tố mới trong lựa chọn
quyết định, phản ánh được tính thời đại, đáp ứng được sự biến đổi môi trường mà
quyết định ra đời và thực hiện. Quyết định hợp pháp, hiệu quả và khả thi là quyết
định đúng thẩm quyền ban hành, thủ tục, thể thức, không trái với pháp luật quy
định; mang lại hiệu quả kinh tế và có khả năng thực hiện được trong thực tế
17
Để tổ chức xây dựng và thực hiện một quyết định, nhà quản lý phải tuân thủ chặt
chẽ những bước trong quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định
Quy trình ra quyết định bao gồm 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn thực hiện nhiều
bước.
Giai đoạn chuẩn bị : giai đoạn này nhà quản lý thực hiện việc phát hiện những
vấn đề mà yêu cầu của tổ chức hoặc yêu cầu từ thực tiễn đặt ra, những vấn đề này
quyết định quản lý, nhà quản lý phải quan tâm tới nhân tố xã hội ảnh hưởng tới quá
trình tổ chức thực hiện quyết định như: điều kiện thực hiện, trình độ nhận thức và
phản ứng, thái độ của người thực hiện, chính sách của Nhà nước, phát triển công
nghệ, mục tiêu, thị trường… Trong trường hợp ở phạm vi nhỏ, tính chất công việc
đơn giản có thể cho phép người lãnh đạo bỏ qua một số bước nào đó trong các
bước kể trên.
Tóm lại, vấn đề ra quyết định quản lý và tổ chức thực hiện quyết định là một quá
trình không hề đơn giản, nó bao gồm nhiều bước phức tạp và gắn với nó là sự sáng
tạo, nhạy bén của tư duy nhà lãnh đạo quản lý trên cơ sở thực tiển kết hợp với các
phương pháp khoa học và các quy luật khách quan
* Liên hệ phân tích một quyết định cụ thể . Trong thực tiễn cho thấy có những
quyết định quản lý khi ban hành được triển khai rộng rãi và được rất nhiều người
đồng tình ủng hộ, tham gia thực hiện nhưng cũng có những quyết định quản lý rất
khó tổ chức triển khai thực hiện. Đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, vốn là những
vấn đề rất nhạy cảm trong quần chúng nhân dân. Pháp luật nói chung và pháp luật
đất đai nói riêng đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, quá trình này
cũng là quá trình đổi mới, quá trình hoàn thiện pháp luật để thích ứng với sự phát
triển của nền kinh tế xã hội. Sự phát triển của pháp luật với sự phát triển của thực
tế trong giai đoạn này không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng bộ nhất nhất mà
có lúc, có nơi còn có những khoảng cách mà Nhà nước đã và đang cố gắng khắc
phục tình trạng này.
Lấy ví dụ như việc ban hành Nghị định 60/NĐ-CP của Chính phủ ngày
5/7/1994 về việc Quyền sử dụng nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại đô thị. Nội dung
chính của Nghị định này là nhà nước quy định đối với nhà và đất ở thuộc khu vực
đô thị thì chủ sở hữu nhà và chủ sử dụng đất sẽ được cấp 1 giấy chứng nhận trên
đó có cả 2 quyền : quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Đây là một quyết
định hợp pháp do được ban hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức. Tuy nhiên, về
tính khoa học, tính linh hoạt, tính hiệu quả, tính toàn diện và tính khả thi của quyết
quan nào cũng muốn giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ những thông tin mình
cần quản lý, điều đó càng làm cho quy trình thực hiện khó khăn hơn nhiều. Lực
lượng thực hiện của 2 bên cũng không đồng nhất nên cùng một nhà và đất ấy phải
đo vẽ nhà đất 2 lần. Ngoài ra, có rất nhiều hồ sơ nhà đất chưa đủ điều kiện cấp giấy
nên để được hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở thì người dân phải cùng một lúc phải nộp một khoản tiền khá lớn vừa
nhà, vừa đất. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng có khi chủ nhà hợp pháp về đất
nhưng do nhà xây dựng lấn chiếm không gian hoặc xây dựng trái phép và không
phù hợp với quy hoạch nên không được cấp quyền sở hữu nhà, do đó người chủ
nhà này cũng không được cấp GCN. Từ những vướng mắc trên cho thấy rằng tính
khả thi và tính toàn diện của Nghị định là rất thấp và sau 10 năm ban hành cả nước
20
cũng chỉ mới cấp được không quá 50% số trường hợp phải cấp, không thỏa mãn
những mục tiêu đã đề ra cũng như không đáp ứng được những vấn đề mà thực tế
diễn ra.
Ví dụ thứ 2 là việc ban hành Quyết định 19/2000/NĐ-CP của Thủ tướng Chính
phủ ngày 03/02/2000 về việc bãi bỏ các loại giấy phép trái quy định của Luật
doanh nghiệp. Nội dung chính của quyết định là bãi bỏ các loại giấy phép kinh
doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép hành nghề, chứng chỉ
hành nghề và giấy phép dưới hình thức khác trái với Luật doanh nghiệp, kể cả
những loại giấy phép kinh doanh khác do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ và do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
ban hành mà không căn cứ vào luật, pháp lệnh, nghị định, nhưng chưa được liệt
kê vào Danh mục kèm theo Quyết định 19. Đối với điều kiện kinh doanh xét thấy
cần thiết phải có giấy phép thì các cơ quan hữu quan phải trình Chính phủ ban
hành nghị định để thực hiện đúng quy định tại Điều 6 Luật Doanh nghiệp.
Đây là quyết định ban hành hợp pháp do được ban hành đúng thẩm quyền,
mô hình này, tiết kiệm và đầu tư giới hạn tạo nên hạn chế chính đối với tăng
trưởng KT tổng hợp.
- Với tốc độ tăng trưởng tổng sp quốc dân cho trước, mô hình này được sd để x/đ
số lượng tiết kiệm cần thiết để tạo ra tăng trưởng tg ứng.
- Tại những nước thiếu hụt, dự trữ ngoại hối được xem như trở ngại chính ngăn cản
tăng trưởng KT thì mô hình TTTH tập trung nhiều hơn vào XK, NK, biến động tỷ
giá mậu dịch & các nguồn viện trợ tài chính (TC) của nc ngoài.
MH dự án khu vực:
- Thứ nhất, phân chia nền KT thành 2 hoặc nhiều khu vực chính (Nông nghiệp, phi
nông nghiệp, hàng tiêu dùng, khu vực sx) thì mục đích lập ra 1 KH trong nc 1 cách
nhất quán cho toàn bộ nền KT tập trung vào những triển vọng tăng trg của 1 số
giới hạn trong khu vực chính.
- Thứ hai, tập trung vào mức độ sx & tiêu dùng để điều tra khả năng tăng trg trog
từng khu vực của nền KT thì cách tiếp cận DA khu vực đơn nhất thường đc áp
dụng nhiều ở nền KT thiếu số liệu thống kê về MH tổng hợp, mô hình khu vực
hoàn chỉnh. Tuy nhiên, những KH từng phần chỉ là tập hợp ngẫu nhiên gồm các
DA phát triển đủ các loại mà ko có những quan hệ liên kết với nhau rõ ràng.
MH liên ngành toàn diện:
- MH liên ngành or MH đầu vào, đầu ra mô tả hđ của tất cả khu vực sx của nền kt
có mối liên hệ toán học với nhau.
22
- Các MH liên ngành xếp loại từ đầu ra, đầu vào đơn giản, gồm 10-30 ngành trong
nền kt đang pt, và 30-40 ngành có nền kt tiên tiến.
- Các MH phức tạp hơn như loại “chương trình tuyến” hay “phân tích hoạt động”
mà việc kiểm tra tính khả thi, tính tối ưu cũng đc đưa vào MH.
- Đặc điểm nổi bật của MH này là ý đồ muốn lập ra 1 kế hoạch phát triển thích hợp
với nội bộ và toàn diện cho toàn bộ nền kt.
- Mục tiêu kinh tế: tăng thu nhập trên đầu ng, tạo công ăn việc làm, giá cả ổn định,
giảm nghèo, bất công trong thu nhập, cải thiện cán cân thanh toán…
- Mỗi mục tiêu có thể đúng với kỳ vọng, song dễ dàng nảy sinh mâu thuẫn nếu tất
cả đều theo đuổi mức độ như nhau.
Do đó, trên cở sở của điều kiện và giới hạn XH-KT và thể chế hiện hành cần lựa
chọn các thứ tự ưu tiên các mục tiêu nói trên trog kế hoạch phát triển KT-XH.
b. Hạn chế và nguyên nhân thất bại của kế hoạch hóa:
+ Hạn chế:
- kết quả thực tiễn trong những năm qua của hầu hết các nước đang phát triển chưa
chứng minh đc tính hơn hẳn của kế hoạch. vấn đề là ở chỗ kế hoạch hoá tồi chứ ko
phải chỉ tại việc KHH.
- NN muốn thúc đẩy CNH-HĐH bằng chính sách hỗ trợ nhưng lại làm cho mục
tiêu công ăn, việc làm xa rời.
- Mất cân đối giữa nông thôn, thành thị và sự di dân.
- Hạn chế của KHH ko phải do bản chất của nó mà do sự can thiệp chưa tốt của
NN vào nền KT.
- Hạn chế của KHH chính là chưa khắc phục được mâu thuẫn giữa sự đánh giá của
cá nhân & Xh về lợi ích & chi phí.
- Có lợi ích đứng trên quan điểm cá nhân, DN nhưng chưa có lợi cho XH. CHất
lượng của KH cần đc nâng cao.
+ Nguyễn nhân thất bại:
24
- Những thiếu sót trong KH & thực hiện KH.
- Số liệu ko đầy đủ, thông tin ko chính xác.
- Biến động KT trong nước, khu vực và TG.
- Yếu kém về thể chế.
- Thiếu “ý chí chính trị”.
QTSX.
- CN mới là kq của quá trình CNH-HĐH, là động lức chính của quá trình CNH.
Việc Pt CN mới là yếu tố quan trọng làm thay đổi trực tiếp sx công nghiệp.
- CN mới thực hiện những đột phá quan trọng có tác dộng mạnh mẽ đến quá trình
CNH, có thể nói pt công ngiệp trong tương lai trên cơ sở của công nghệ mới.
c, Đổi mới cơ chế QL KHCN:
- Về đường lối chủ trương:
+ Đào tạo và sd có hiệu quả đội ngũ cán bộ KHKT, bố trí lại lực lg KH&CN
theo hg gắn với GD&ĐT, nghiên cứu với sx, nhằm đưa KH&CN đi sâu vào thực
tiễn.
+ Hoàn thiện & XD mới các c/sách pt KHCN phù hợp với luật pháp hiện hành
& pt theo cơ chế thị trường.
+ Đổi mới công tác kế hoạch hóa trong lĩnh vực KHCN.
+ Thực hiện chế độ hạch toán KT trong hđ KHCN.
+ Đổi mới cơ cấu, tổ chức của QL KHCN …
- Về luật pháp:
+ Hệ thống VB quy phạm PL về KHCN đã đc sửa đổi bổ sung và ban hành
trong những năm gần đây (2005-2012) là cơ sở pháp lý để thực hiện QLNN về
KHCN.
+ NN đã có hàng trăm VB điều chỉnh QH XH chủ yếu trong lĩnh vực hđ kHCN
như:
. Kế hoạch hóa, QL chương trình, đề tài, chế độ hợp đồng …
. Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào VN.