MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ở những tầng bậc khác nhau, với những cách biểu hiện đa dạng, tác giả
luôn để lại dấu ấn của mình trong tác phẩm. “Tác giả là trung tâm tổ chức tổ chức nội
dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới cảm
đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật”. Hình tượng tác
giả là một phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện đại, là khái niệm hữu ích với
nghiên cứu văn học.
1.2. Là người sớm có những mong muốn đổi mới trong sáng tạo thơ ca, Lê Đạt tự
coi mình là “phu chữ”, vác cây “thập giá chữ” trên suốt hành trình sáng tạo của mình.
Thầm lặng trước những sóng gió cuộc đời và văn nghiệp, ông “gò mình” thực hiện
những ước nguyện của mình. Và qua thực tế văn học, chúng ta nhận thấy ngày càng
nhiều hơn số người đồng cảm, khẳng định, mến yêu hết mực những sáng tạo của ông.
Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 trao cho cụm sáng tác
của Lê Đạt, trong đó có tập thơ “Bóng chữ” là sự vinh danh xứng đáng. Trong sự
nghiệp đổi mới văn học hiện nay, vẻ đẹp của hình tượng người sáng tạo những giá trị
thẩm mỹ trong thơ Lê Đạt nói riêng, sáng tác của ông nói chung vẫn là những trải
nghiệm còn nhiều ẩn số vẫy gọi chúng ta tìm hiểu.
1.3. Hướng đến tập sáng tác tiêu biểu “Bóng chữ” của Lê Đạt, chúng tôi muốn
nhận thức rõ hơn những khía cạnh lý thuyết về phạm trù hình tượng tác giả của thi
pháp học hiện đại, về đặc điểm và sự biểu hiện của hình tượng tác giả qua một hiện
tượng thơ đương đại; là dịp để người viết luận văn này hiểu biết hơn về tác phẩm và
cuộc đời Lê Đạt . Đồng thời, việc tìm hiểu đề tài “Hình tượng tác giả trong tập thơ
Bóng chữ của Lê Đạt” còn giúp những người dạy học văn có cơ hội trang bị sâu rộng
thêm kiến thức, tăng cường kĩ năng nghiên cứu và giảng dạy văn học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về hình tượng tác giả
Hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp học hiện đại. Đây là vấn đề
thu hút sự quan tâm tìm hiểu, lý giải của nhiều học giả, như M.Bakhtin,
V.Vinôgrađốp, A.Chichêrin, Khrapchenko, V. Booth…
ngay sau đó, Nguyên Anh Hải Âu Trần Đĩnh, Thanh Bình, Đỗ Minh Tuấn, Trần Ngọc
Hiếu, Lê Thiếu Nhơn, Trần Thiện Khanh, Đỗ Lai Thuý, Võ Thị Hảo… đã có bài viết
khẳng định những đổi mới ngôn từ nghệ thuật và đóng góp của Lê Đạt trong tập
“Bóng chữ”.
Ở hải ngoại có bài của Đặng Tiến, Thụy Khuê, Thái Kim Lan...
2
Về các đề tài khoa học viết về Lê Đạt, số lượng còn rất khiêm nhường. Và đến
thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp hình tượng tác giả
trong “Bóng chữ” của Lê Đạt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ các biểu hiện của hình tượng tác giả trong/qua một
hiện tượng thơ Việt Nam hiện đại.
Phạm vi khảo sát tập trung vào tập sáng tác tiêu biểu nhất trong thi nghiệp của
Lê Đạt - tập thơ “Bóng chữ”, xuất bản năm 1994.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
5. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài “Hình tượng tác giả trong tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt” là
một dịp để người viết được tìm hiểu thêm, soi chiếu rõ và khẳng định ý nghĩa của
phạm trù thi pháp hình tượng tác giả trong việc tạo lập và tiếp nhận chỉnh thể thế
giới nghệ thuật thơ ca; đồng thời góp thêm một kết quả tiếp nhận thơ Lê Đạt.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương I: Hình tượng tác giả trong thơ; tập “Bóng chữ” và hành trình thơ Lê
Đạt.
là một hiện tượng thẩm mỹ, như là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra trong và
qua các cấp độ, phạm vi của văn bản tác phẩm cụ thể. Theo Giáo sư Trần Đình Sử, so
với hình tượng nhân vật trong thế giới nghệ thuật, “Hình tượng tác giả cũng là hình
tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm nhưng theo một nguyên tắc khác hẳn. Nếu
hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo quan niệm
nghệ thuật về con người, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu
hiện sự cảm nhận về thái độ thẩm mĩ với thế giới nhân vật”
Hình tượng tác giả được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt; là
trung tâm tổ chức nội dung- hình thức cái nhìn nghệ thuật, là người sáng tạo ra thế
giới nghệ thuật, đồng thời là trung tâm tổ chức ngôn từ nghệ thuật. Mặt khác, hình
tượng tác giả là dấu ấn chủ thể sáng tạo in đậm trong tác phẩm, thấm trong toàn bộ
cơ chế và yếu tố tạo thành của sản phẩm nghệ thuật.
1.1.2. Thơ trữ tình như một cách biểu hiện hình tượng tác giả
Ở thơ trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể giao tiếp
được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Ở tác phẩm,
4
nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân của mình mà không cần kèm theo miêu tả
biến cố hay sự kiện nào. Dấu ấn chủ quan của người nghệ sỹ bộc lộ rõ nhất qua “cái
tôi trữ tình”.
Cần nhận rõ sự khác biệt và những liên đới, giao thoa giữa các khái niệm
“nhân vật trong thơ trữ tình”, “nhân vật trữ tình”, “cái tôi trữ tình” và hình tượng tác
giả trong tác phẩm thơ. Chúng có độ giao hòa, gắn kết gắn kết với nhau trong một bài
thơ trữ tình là rất chặt chẽ.
Và ngay trong thể loại thơ, qua các trào lưu, khuynh hướng sáng tác khác nhau,
chúng ta cũng nhận thấy sự biểu hiện phong phú của hình tượng tác giả.
1.1.3. Hình tượng tác giả qua một số trào lưu thơ hiện đại
1.1.3.1 Hình tượng tác giả qua trào lưu thơ lãng mạn
Nếu như nhà thơ cổ điển thường biểu hiện cái tĩnh lặng, bất biến; luôn muốn
nhân độc đáo, kêu gọi hướng tới sự hồn nhiên, suy nghĩ không mạch lạc; say mê với
trạng thái mê sảng, tới ảo giác mộc mạc tồn tại trong tư duy nguyên thủy. Chính bằng
phương pháp sáng tạo ấy, hình tượng tác giả- sự biểu hiện của "cái tôi thứ hai" hiện lên.
1.2. Lê Đạt và kiểu hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ”
1.2.1. Khát vọng đổi mới và hành trình thơ Lê Đạt
Lê Đạt là người luôn khao khát cách tân thơ Việt, và thực sự đã có những sáng
tạo mạnh mẽ trong địa hạt văn chương của ông nói riêng cùng những đóng góp vào
tiến trình thơ ca đương đại của dân tộc nói chung.
Hành trình sáng tác thơ Lê Đạt trải qua ba chặng đường : Chặng một từ 1955
đến 1958, tức là trước thời điểm xảy ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Chặng hai từ 1958
đến 1988, tức là từ thời điểm Lê Đạt “gặp nạn” cho đến lúc được “xóa tội”. Chặng ba
từ 1988 đến 2008 là thời điểm hai mươi năm cuối đời làm việc tự do hoàn toàn. Bóng
chữ và các sáng tác tiêu biểu khác như Thơ Lê Đạt- Sao Mai, Ngó lời, Từ tình… đều
được xuất bản trong thời gian này. Đó là những sáng tác thực sự được mang nặng đẻ
đau, là tâm huyết của “hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một người công dân
với tư cách một người làm thơ là cung cúc, tận tụy bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của
dân tộc mình”. Đây cũng là chặng đường mà ông được trao Giải thưởng Nhà nước về
văn học nghệ thuật (năm 2007).
1.2.2. Vẻ đẹp của chủ thể giao tiếp trong tập thơ “Bóng chữ"
“Bóng chữ” của Lê Đạt như sự ghi lại lịch sử của một đời người, những buồn vui
của một cá nhân giữa thăng trầm của dân tộc và trăn trở của một nghệ sỹ thường xuyên
tự tra vấn cần sáng tạo ngôn từ; nó xứng đáng là một tác phẩm thay đổi toàn diện phong
cách thơ- từ bản sắc triết học, đến cấu trúc hình thức và biểu đạt nội dung.
Với thơ Lê Đạt, chúng ta nhận thấy kiểu sáng tác của ông nghiêng về xu hướng
của chủ nghĩa tượng trưng, có phần pha hơi hướng màu sắc siêu thực. Thơ ông là một
6
hệ thống ám thị, từ chối cách bộc lộ giản đơn, khước từ lối viết nghĩa biểu đạt tràn
trên bề mặt. Thế giới hình tượng trong thơ ông luôn như một câu đố, đòi hỏi chúng ta
Trong tập "Bóng chữ", hình tượng « em » hoặc bóng dáng « em » xuất hiện ở
hầu khắp mọi sự vật, sự việc, hiện tượng với các hình ảnh mắt, mi, mày, môi, má,
đùi, tóc, áo, thân trắng, đường nét thon cong…Việc kết hợp những đặc điểm của
người thiếu nữ, mà nhất là người thiếu nữ đẹp- là xu hướng của cái nhìn nữ hóa đậm
đặc trong thế giới hình tượng thơ Lê Đạt.
Hơn nữa, ở chính cái nhìn mang xu hướng nữ hóa, thi sỹ đã khoác lên vạn vật
thiên nhiên vô tri một sức sống mãnh liệt, dồi dào, mơn man giàu cảm giác xác thịt.
Với sự tinh tường trong quan sát, ngắm nhìn dáng hoa tròn vành để đặt tuổi cho nó
thành "em mười bảy", có từng tia cánh nhỏ với các sắc màu rạng rỡ: vàng, đỏ, cam
đều kết ở độ rực màu, hóa thành :
Mắt đuôi chớp xuân về
Hoa chạy hường lên má
Hoa em đền hoa má
Thơm má hoa mười giờ
(Hoa mười giờ)
thì chắc chỉ có Lê Đạt mà thôi. Cái ánh mắt của tuổi dậy thì, sự hồn nhiên nơi
"mắt đuôi chớp" làm cho màu sáng của xuân như hiện về. Cái nhìn tinh tế dẫn đến sự
liên tưởng độc đáo hoa "chạy hường lên má" và trở thành hình ảnh đồng nhất "hoa"-"
hoa má"- "hoa mười giờ". Lê Đạt đã đến với chúng ta bằng thứ ngôn ngữ thiên nhiên
đã được tấu hòa không chỉ về màu sắc, kiểu dáng, hình khối mà còn cả phát xạ hương
thơm: "Thơm má hoa mười giờ".
Đúng là thế giới thơ, theo như cách nói của Bích Khê, là một cõi trời xa với
một không gian bất tận và vĩnh viễn. Thơ là tinh hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịp
điệu của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương thơm
và giai nhân. Quả thật thế khi ta đến với "Sông quê", "Quan họ" : «Cây gạo già/
lơi tình/ lên hiệu đỏ/La lả cành/ cởi thắm/ để hoa bay". Với cái nhìn Lê Đạt, ta nhận
thấy rõ nhất tín hiệu trao cho cây gạo nét duyên, nét nữ tính có phần khêu gợi, gọi
tình bởi chính sự "lơi tình", sự "la lả" và "cởi thắm" của cây gạo già. Màu sắc như
Tính dục trong thơ Lê Đạt như một chiều kích tất yếu trong con người và trong
đời sống nhân loại. Hãy cùng trở lại với bài thơ "Quan họ". Bài thơ có thể khởi tứ từ
một câu quan họ "Yêu nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay" hay từ
sự bừng thức tình yêu của một người “tóc trắng” đi "tầm xanh" qua việc khơi trào
cảm xúc trước vẻ đẹp của câu hát hay, vẻ đẹp của cô gái miền quan họ? Song, cái
nhìn tác giả đưa đến một loạt từ và hình ảnh khêu gợi vô cùng.
Khảo sát tập bóng chữ, trong số 42 bài đậm cái nhìn mang thiên tính nữ, thì rõ
rệt nhất có 28 bài thơ biểu hiện cái nhìn nghiêng về nhục cảm, như "Thủy lợi", "Mới
9
tuổi", "Nụ xuân", "Chùa hương", "Áo trắng", "Phố Nêông", "Cấm vận", "Phá rừng",
"Cá thần tiên", "Đầy tuổi", "Tình điện toán"… Trong sáng tác của mình, những bộ
phận gợi sắc dục trên thân thể người thiếu nữ hay được nhắc đến gọi xuân tình nôn
nao trên từng con chữ: từ ngực, đến môi, mày, mắt, chân, đùi, lưng cho đến cặp vú
mộng - biểu tượng trội nhất của giới nữ.
Vẻ đẹp tạo hóa ban cho người phụ nữ được Lê Đạt yêu thương, trân trọng biết
bao. Cả hương thơm của tự nhiên, của đất trời như được dồn tụ, ngự trên đôi ngực
của người con gái. Ngay trong "Nai phố" cũng thế: “Mưa rợp bóng mi/ mày động
gió/ Cốm gọi mùa chim ngó đỏ/ ngực thu”. Vẻ đẹp trong sáng ấy cũng được ướp
hương thơm của cốm mới trên bộ ngực tuổi thu đương e ấp của giai nhân. Cách nói
"cốm gọi mùa" mới mỡ màng, mướt mát, tươi rói làm sao. Với một nhãn quan như
thế, nên quan niệm về tình yêu trong ông luôn được "thơm hóa".
Sự giao hoan bị cấm kị đưa lên mặt giấy trong văn học trung đại, với lãng mạn
nó đã cựa quậy trong thơ Xuân Diệu, Bích Khê, Hàn Mạc Tử…Với Lê Đạt, nó được
công minh bằng con chữ tinh tế, vừa trực ngôn vừa ỡm ờ: “Ông rén bước nhẹ/ Mùa
chẳng là xuân/ Đất dậy men/ Trời ghẹ xanh/ Yếm trúc mẩy măng đôi núm sừng bò/
Mót xoan/ Gốc lim mười năm sét đánh/ Ngó ngoáy chồi tơ trái đào/ gọi là tí xuân”
(“Ông cụ chăn dê”)
Ngay như khi viết về "Thủy lợi", từ việc lấy nước, có nước, khơi nước, dào dạt
hoa, Quê tầm xuân, Bống bống, Chi…chành, Quan họ, Hát đôi, Mùi sầu riêng, Rằm
tháng bảy, Rồng rắn…, cho đến lối nói, lối mượn hình ảnh: “Khi gió mùa anh đi/
Sang sông tìm nắng khác”, “Để người yêu ngơ ngác/Gốc khế xanh đầu hè”/ “Tóc
khế xanh đầu hè”/ “Gốc nửa ngày khế chát/ Sót bóng hoa mơ chờ” (Gốc khế). Tác
giả dân gian thì mượn cái chua của khế để nói thay cho cái chua của tâm trạng, đến
Lê Đạt độ chua của vị giác hoá thành thước đo cho những xót xa của tâm trạng bởi
những đau đớn khôn nguôi của kẻ phải chịu lỡ dở duyên tình.
Hay trong bài thơ "Át cơ", điệu nói hiện đại cũng bắt nguồn từ hình ảnh quen
thuộc của ca dao
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ
phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường
tim môi em bói đỏ
Giàn trầu già
khua
những át cơ rơi
11
Cùng hô ứng với những từ "trò chơi", "mộng", "bói", nghĩa sẵn có của quả cau,
lá trầu đã khua cả dàn nghĩa sống dậy: nói về sự xem duyên, bói duyên, cầu duyên
cùng cách ngắt nhịp thơ nhỏ, lẻ, gãy rụng và hệ thống từ cùng trường: lẻ, bỏ dở, rơi…
đã mang đến lớp nghĩa chung về sự lỡ dở, đứt gãy nhịp cầu. Một ví dụ ấy đã chứng
tỏ ông rất khéo khi biết đem đến thi cảm mới từ hình ảnh cũ và neo đậu rất thân quen
trong tâm thức người Việt.
Bên cạnh các ngữ liệu dân gian được Lê Đạt tiếp biến linh hoạt, thì lối thơ
vịnh- họa, một đặc trưng quen thuộc của thơ ca cổ điển cũng được tác giả chú tâm
như một sự trân trọng kiếm tìm đòn bẩy cho những dòng thơ hiện đại thăng hoa.
chữ”, qua cái nhìn và bằng cái nhìn của bản thân, ông đã đem đến cho thơ ca của
mình màu sắc riêng không trộn lẫn với bất kỳ ai, kể cả các chiến hữu trong nhóm thơ
“Dòng chữ”. Bởi lẽ ngọn nguồn cảm xúc có thể đều có chung tên gọi nhưng điểm rơi
của con chữ lại phụ thuộc ở thế giới quan mỗi nhà văn. Qua việc tìm hiểu về cái nhìn
và sự miêu tả bức tranh thế giới đã xác lập điều đó, hé mở cho độc giả có cơ sở xây
dựng, hình dung và tìm hiểu về hình tượng tác giả.
CHƯƠNG 3. HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁCH ỨNG XỬ VỚI NGÔN TỪ
3.1. Ứng xử trong kiến tạo thi pháp chữ
3.1.1. Thủ pháp đồng đẳng ngữ âm
3.1.1.1. Sáng thế nghĩa từ những nguyên âm
Trong thơ Lê Đạt, rất nhiều con chữ đã được tối giản lại chỉ còn là những
nguyên âm có nghĩa, thậm chí mờ nhòe về nghĩa, như đưa con người trở lại thuở khai
sinh, đưa vạn vật trở lại buổi khai thiên lập địa, tạo ra một sáng thế chữ: “Chương
trình yêu/ phiếu đục thừa lỗ nhớ/Mạch loạn dòng/ tâm lưỡng số u ơ/ Tin phong nụ/
nhụy niêm/ tình hóc khóa/ Đèn mơ ngơ/ Xuân ớ/ Ngã tư ờ (Chương trình yêu). Các
nguyên âm “u”, “ơ”, “ớ”, “ờ” như một sự trúc trắc khó nói, một sự tắc nghẹn vừa
muốn nuốt vào trong, lại vừa muốn bung bật thổn thức ra ngoài. Chúng “bước” vào
bài thơ và được Lê Đạt đặt đúng nơi, đúng chỗ, trở thành những từ phù hợp để diễn
đạt tâm trạng có phần đang tan hoang, lơ mơ, ngẩn ngơ, thoang thoáng thẫn thờ của
nhân vật trữ tình trước một tình yêu tay ngang nhiều ẩn khuất.
Với “Sông quê” sự ngác ngơ đến ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thiên nhiên tươi non
và sức sống xuân thì của tuổi thanh xuân thiếu nữ được Lê Đạt diễn tả rất lạ biệt qua
các nguyên âm. Sự hô ứng tung gọi của âm “ô”, “ồ” vừa gợi nhắc đến câu đối kinh
điển “Da trắng vỗ bì bạch”, vừa biểu hiện cặp mắt luôn xanh non và biếc rờn của thi
nhân để nhận ra bóng dáng thôn nữ đẹp như “nắng mười tám” với “tóc buông thề”
làm cho “lòng cổ thụ” như được hóa thành trai trẻ để “bỗng tình tang”. Một sự lả lơi
vừa đủ và vô cùng tế nhị để diễn tả trạng thái cảm xúc qua các nguyên âm mở “o”,
“ô”, “ơ”.
13
“trắng” vẫn đồng nghĩa với “không” với hư vô, với nhàm nhạt. Nhưng với cách dùng
từ của Lê Đạt, tính từ “trắng” đứng trước tính từ “đầy”, tính từ “nhớ” và ở ngay sau
động từ “về” thì câu thơ đã trở thành một sự kết hợp từ diệu kì “em” choán đầy trong
14
niềm nhớ của thi nhân. Chữ gọi chữ; từ gọi từ- nó làm cho nghĩa của bài thơ thật
đáng yêu trong cái nhìn tinh tế của tác giả.
Ngay cả trong phần “Giáo đầu”, việc cộng hưởng các âm tiết cũng được Lê
Đạt xuyên thấu: “Đời tốc hành/ một ga xanh sót lại/ Một góc tuổi mải tàu/ thơ dại
mãi/ Tìm nhà quên mất số lớn khôn” (“Kết luận”). Đã “một ga xanh” lại thêm “một
góc tuổi”- một sự thu hẹp bé nhỏ khiêm nhường, thậm chí cùng hô ứng với nó là sự
“sót lại”, là sự “thơ dại mãi”. Chúng như lời thú nhận thành thực, lời không ai oán
nhưng nghe thật não nùng: có lẽ trước chuyến tàu tốc hành của dòng đời xuôi ngược,
của sự đảo quay mạch sống, số phận ông như kém duyên, kém cơ may để quên mất
“lớn khôn”? (hay thiếu cơ hội để “lớn khôn”?!)
3.2.1. Thủ pháp biến điệu chữ
3.2.1.1. Thủ pháp nhại âm
Trong đời sống văn hóa xưa nay, “nhại” cũng được coi là một thủ pháp nghệ
thuật. Đó là thủ pháp “bắt chước” một phần hoặc toàn bộ một cái gì đó; với thơ nó là
sự “bắt chước” một chữ, một câu, một bài hay một kiểu nói trong thơ… Qua đó ngầm
gửi gắm nhiều thông điệp khiến người đọc phải trăn trở nghĩ suy để phát hiện nghĩa
hoặc trao cho nó một nghĩa mới từ sự cùng sáng tạo của độc giả.
Từ cách nói “má má môi”, “ mỗi mỗi xa” tạo ra một sự đối sánh giữa gương
và một tình yêu đã vãn em - giống em, biến - trở lại; đến lối nói “tay ải tay ai” có
phần bông lơn, bỡn cợt, cùng sự hô ứng với lời nhại ở câu kết: “Nghé sắt buồn lưng
sáo đá xon xon”. “Ải…ai”, “xon xon” vừa là một sự thú vị của từ, vừa cho thấy sự
khoáng đạt của một tâm hồn thanh xuân Lê Đạt trước cái đẹp trong “Sông quê”. Ông
luôn muốn tận dụng được tối đa sự phì nhiêu chữ Việt. Vì vậy, không chỉ nỗ lực với
việc tạo ra sự đồng đẳng chữ mà qua phép biến điệu, ông còn muốn khai thác, tạo
Nếu thi pháp chữ chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ âm thì thi pháp câu
chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ pháp. Hai thủ pháp được Lê Đạt dùng nhiều
hơn cả đó là phép tỉnh lược cú pháp và sự phá vỡ trật tự từ trong câu để biến ngôn
ngữ ý niệm của văn bản thành ngôn ngữ ý tượng của thơ.
3.2.1.Phép tỉnh lược
Dấu hiệu dễ nhận thấy trong thơ Lê Đạt là sự lược bỏ các từ liên kết, tỉnh lược
các thành phần chính trong câu khiến các cụm từ trở nên độc lập, đồng thời tạo ra sự
lấp lửng mơ hồ, mênh mang triền nghĩa.
3.2.1.1. Tỉnh lược chủ ngữ
Chủ ngữ là thành phần chính trong câu, nêu ra cái đã biết, giúp người đọc
phương hướng xác định rõ chủ thể được đề cập. Thế nhưng, trong thơ Lê Đạt thường
16
“thiếu vắng” thành phần này. Vì vậy, đọc thơ ông chúng ta có cảm giác các việc cứ
như tự nhiên. Bản thân mỗi chúng ta phải lần dò để hiểu “mùa khem”, hiểu “trái
cấm” khi chủ từ bị lược bỏ trong bài thơ “Khuyết điểm”: “Vườn chôm chôm/ mùa
khem thòm thèm trái cấm/Vui mồm lấp lẫn/ nhiều kinh kệ không quen/ Amen
Tỉnh lược chủ ngữ không chỉ là sự khuyết vắng thành phần ấy mà còn biểu
hiện ở thao tác nhà thơ xếp đặt nhiều từ, cụm từ cùng làm chủ ngữ tạo ra một trạng
thái không xác định chủ ngữ. Ví dụ như trong bài thơ“Anh ở lại” nhiều từ, cụm từ
đều có thể đóng vai trò làm chủ ngữ.
Cách viết ấy tạo ra sự khách quan và khái quát hóa vô cùng! Và đó chính là
cách cái tôi đơn ngã có xu hướng chuyển sang cái tôi đa ngã - một phương diện biểu
hiện của hình tượng tác giả trong “Bóng chữ” Lê Đạt.
3.2.1.2. Tỉnh lược động từ
Lê Đạt luôn có chủ ý tỉnh lược động từ. Lược bỏ thành phần này cũng có nghĩa
là dấu đi hành động của chủ thể khiến nội dung câu nói trở nên mơ hồ, từ đó người
đọc có thể điền vào chỗ trống, những khoảng trắng bằng động từ của mình, tạo ra một
thuật tạo ra sự đa bội nghĩa, song nó không chỉ là một thủ thuật dẫn dụ, mê hoặc người
đọc mà thực sự trở thành một đặc trưng trong thi pháp nghệ thuật của ông.
3.2.2. Phá vỡ trật tự cú pháp
Thực ra phép tỉnh lược cũng là một thủ pháp tiêu biểu trong nghệ thuật tạo
dựng cú pháp mới, không theo trật tự, lôgic tuyến tính truyền thống thông thường.
Đồng thời, nó còn là sự đảo vị trí đứng của các thành phần, tạo thêm chức năng mới
cho thành phần câu.
Nếu tư duy khuôn vào trật từ cú pháp, mở đầu bài thơ “Bóng chữ” sẽ phải viết
“ Anh thấy em khi đã chia xa rồi” hoặc “Anh khi chia xa rồi mới thấy em”. Song,
nếu tường minh kết cấu chủ - vị đến thế thì “bóng chữ” đã không còn làm tình làm
tội người đọc với những trở trăn về sự kết hợp lạ: tại sao lại “xa rồi” >< “mới
thấy”, cũng như cách nói ở câu sau đó “vẫn đây” >< “mà đâu”, tạo ra khoảng trống
mênh mang cho người đọc điền lấp. Hoặc trong “Mơ ngày” thi nhân viết: “Một
thoáng nắng hồ mưa ảo phố/ Mini hồng mây rằn lửa khăn bay”. Sự trùng phức đa
bội được Lê Đạt cấp phát cho từng con chữ trong hai câu thơ mở đầu khi mà các danh
từ đều có thể đứng lên đầu với vai trò làm chủ ngữ. Và như vậy, một loạt câu thơ có
thể được tạo sinh do lối đảo cấu trúc ngữ pháp: “Nắng một thoáng hồ mưa ảo phố”,
“Hồ một thoáng nắng (với) mưa ảo phố”, “ Mưa nắng một thoáng ảo (trên) hồ”,
“Phố (với) một thoáng nắng hồ mưa ảo”...
Thông thường, người Việt chúng ta vẫn quen tư duy cái gì thấy trước, nói
trước, cái gì xảy ra sau nói sau; từ đó hình thành nên trật tự câu một cách cố định.
Với thủ pháp phá vỡ trật tự từ trong câu, Lê Đạt giải phóng chữ ra khỏi sự ràng buộc
18
của cú pháp, để mỗi người đọc có thể sắp xếp lại theo cách của mình. Và suy cho đến
cùng, dư âm, sự lay động mà thơ ông đeo bám chúng ta cũng xuất phát một phần lớn
từ sự phá vỡ trật tự cú pháp ấy.
3.2.3. Phép chuyển hóa của các biện pháp nghệ thuật tu từ
3.2.3.1. Điểm nhấn nghệ thuật trong cách sử dụng phép tu từ ẩn dụ
Ngay từ nhan đề thi phẩm, điển cố đã xuất hiện như “Chiều Bích Câu”, “Lý
Bạch”, “Đào Uyên Minh”, “Liêu trai”, “Bạch Cư Dị”, “Nguyễn Du”, “Hồ Xuân
Hương”, “Rằm tháng bảy”…cho đến việc lan thấm vào trong từng hình ảnh thơ, sử
dụng, gợi nhắc điển cố cho phép nhà thơ “thể hiện” mình một cách tinh sâu, hàm súc
và vô cùng tế nhị với các giai thoại như Ngưu Lang - Chúc Nữ, Trần Tú Uyên Giáng Kiều, biểu tượng “người chăn”… gợi lên nỗi niềm bâng khuâng, nhiều lệch
vênh trong chuyện đời sống tình cảm.
3.2.3.3. Sự linh chuyển và mở rộng trường nghĩa của phép ẩn dụ và điển cố
Có thể nói cả ẩn dụ lẫn điển cố đều dày đặc trong thơ Lê Đạt, đều tạo ra sự
đồng đẳng- nguồn cội của tính thơ. Cả ẩn dụ lẫn điển cố đều thuộc một kiểu tư duy.
Tuy nhiên, ẩn dụ nghiêng về chiều thẳng đứng, từ vô thức đến siêu thực thì điển cố
lại nghiêng về chiều nằm ngang, liên và xuyên văn hóa.
Ẩn dụ và điển cố có nét khác biệt như vậy, nhưng trong thơ Lê Đạt thì chúng
thường hòa hợp, linh chuyển hết sức uyển chuyển, mềm mại. Trong “Thuở xanh hai”
cũng là sự đa nghĩa như thế. Điển tích “dải ngân hà” đủ để tạo ra sự dằng dặc, xa
ngái, và các hình ảnh ẩn dụ của “vầng trán” nhiều nếp nhăn, nhiều sợi bạc với sự
“thơ nhỏ” của “thuở xanh hai” càng làm sâu sắc hơn cách nói “cắt chúng ta bờ hai
thế hệ”, gợi sự ngẫm trải của hôm qua và hôm nay, ngày xưa và ngày hiện tại. Do
vậy, có thể nói những điển cố Lê Đạt không bao giờ dừng lại ở một không gian khác
hay một thời gian khác mà bao giờ giờ cũng hồi quy với “ở đây” và “bây giờ”. Và
điều đó cũng có nghĩa, điển cố lập tức biến thành ẩn dụ, ẩn dụ được sinh thành từ
điển cố.
3.3. Ứng xử về kiểu nói trong “Bóng chữ”
3.3.1. Từ chối cách ngắt câu cố định
Ngày nay, trong thơ Việt Nam đương đại, khi mà các thể loại thơ đan cài, giao
thoa nhau, nhà thơ có khi “viết như nói” thì nhịp điệu câu thơ không còn bị ràng buộc
chặt chẽ bởi những quy định, luật lệ. Những nhịp thơ chẵn, những nhịp điệu quen
thuộc, những câu ngâm vịnh, những điệu ru mơ, những khúc tâm tình, với những gì
yên ả, nồng nàn, đẹp đẽ nên thơ ít xuất hiện hơn.
Thơ Lê Đạt là trường hợp như thế. Thơ ông từ chối cách ngắt câu cố định, thay
vào đó, nhịp thơ tồn tại tự do trong tổ chức câu thơ, đoạn thơ và bài thơ, do cảm xúc
3.3.2.1. Giọng điệu hóm hỉnh, phồn sinh
Có thể nói, một trong những động lực phi thường mà vô cùng dẻo dai, khiến
ông như thân cây uốn vặn để hứng bao nhiêu “lốc gió” nhưng vẫn trụ được, lấy lại cả
sức dáng và tâm lực dồi dào năng lượng chính nhờ ở sức mạnh tiềm tàng trong “nụ
cười ông Di Lặc”, là ở tính hóm hỉnh như chất của trời, của đất thấm vào mạch sống
của ông đầy “sở hữu” tự nhiên.
21
Điển hình qua một ví dụ, ngữ điệu mà ông tự họa mình với phần “Khuyết
điểm” là vừa khôi hài, vừa kiên quyết cho một lựa chọn đầy tiên quyết. Lê Đạt hài
hước gọi những điển phạm, những phép tắc, những luật định, công thức trong quan
niệm cũng như phương thức sáng tác thơ ca truyền thồng là “mùa khem”, là những
câu “kinh kệ”; rồi tự mỉm cười với mình bằng sự trong trẻo của thi ca “không quen”
lập rập một câu “kinh kệ”; liền đó, như một cử chỉ dấu thánh “A men” xin được bậc
tiền nhân đại xá cho cách đi của riêng ông trong thi pháp thơ. Vừa nhẹ nhàng mà lại
vô cùng thâm thúy, ông tuyên thệ một cách vững chắc về lối sáng tác của mình bằng
giọng hóm hỉnh, đáng yêu đến vậy.
3.3.2.2. Giọng điệu hồn nhiên, trong trẻo
Không còn giọng điệu thơ đậm chất quảng trường do ảnh hưởng của
Maiacopxki như thời kỳ đầu sáng tác. Đến tập “Bóng chữ” đã khai nguyên một Lê
Đạt với kiểu nói khác hẳn, trong đó có sắc giọng hồn nhiên, trong trẻo rất duyên và
rất riêng.
Trong “Chi…chành”, mượn lời hồn nhiên của thể đồng dao dành cho con trẻ,
Lê Đạt cứ say sưa trong “khúc hát” đi tìm suối nguồn tự nhiên của con chữ.
Nối dài giọng thơ ấy, cách nói ngây thơ, hình ảnh lúng liếng được Lê Đạt miêu
tả thật “tân thời” trong “Phố xuân”. Đó là một sự trong sáng, hồn nhiên rất đáng yêu
được gửi gắm qua nhân vật trữ tình của chủ thể sáng tác.
3.3.2.3. Giọng điệu triết luận, hướng nội
Việc tiếp tục tìm hiểu và vận dụng khái niệm này cả về phương diện lý thuyết
lẫn thực tiễn sáng tạo rất có ý nghĩa với người nghiên cứu, giảng dạy văn học. Đề tài
“Hình tượng tác giả trong tập thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt” mà chúng tôi thực hiện
nằm trong định hướng ấy.
2. Các nhà nghiên cứu đã xác định: Hình tượng tác giả được biểu hiện ở mọi
yếu tố của tác phẩm, mà tiêu biểu là qua cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu, ngôn từ, sự
tự thể hiện của tác giả thành hình tượng nghệ thuật. Những phương diện biểu hiện ấy
luôn độc đáo trong những tác phẩm cụ thể, gắn với chỉnh thể hình thức của tác phẩm
mà tác giả sáng tạo ra.
Trong tác phẩm thơ trữ tình, sự tự thể hiện của tác giả rất gần với “cái tôi trữ
tình” mang nội dung, đặc điểm và được bộc lộ ở các mức độ trực tiếp khác nhau.
Ở các trào lưu thơ đương đại, nhất là ở các sáng tác theo khuynh hướng thơ tượng
trưng, “cái tôi” vẫn là yếu tố trung tâm khơi nguồn sáng tạo, nhưng nó luôn vươn
tới bộc lộ vẻ đẹp phong phú, đa dạng, không đơn nghĩa của tâm hồn nghệ sỹ, kéo
theo những nỗ lực phát lộ, hiển hiện, phơi bày qua diện mạo ngôn từ ấn tượng,
23
biến hoá, năng sinh. Theo đó, hình tượng tác giả ít tự thể hiện theo hình thức nhân
xưng trực tiếp, mà hiện lên gián tiếp qua hình thức ngôn từ, âm thanh được tổ chức
như những cấu trúc mở cùng lối viết nghịch vần, nghịch nhịp... mới lạ, thậm chí là
dị biệt.
Tập “Bóng chữ” là một trong những thành quả tiêu biểu, kết tinh hành trình
sáng tác của Lê Đạt, các thi phẩm gắn với và biểu hiện ấn tượng bóng dáng, con
người nhà thơ trong cuộc đời và trong văn học.
3. Cái nhìn là lăng kính chủ quan, bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể sáng tạo
trong tiếp cận, biến hóa khách thể thẩm mỹ thành hình tượng nghệ thuật. Trong tác
phẩm thơ, cái nhìn của chủ thể sáng tạo, giao tiếp không bộc lộ qua các hình tượng
khách thể (như nhân vật trong truyện, kịch hay kí…), mà gắn với sự thể hiện trực tiếp
dòng ý thức, cảm xúc đang diễn ra của “cái tôi trữ tình”, qua bức tranh tự họa về thế
ở các tập sáng tác và thể loại khác trong nghiệp viết của ông như “Ngó lời”, “Hèn
đại nhân”, “ Đối thoại với đời và thơ”… Hy vọng rằng, sẽ có tiếp nối những nghiên
cứu sâu rộng, mới mẻ hơn, để con người và thơ ông đến rộng rãi hơn nữa với đông
đảo quần chúng, để sự trình diễn cái tôi thi sỹ của ông với con chữ nắm chặt được
nhiều đôi bàn tay đồng điệu hơn nữa với sự lựa chọn rất mực chung tình của ông- nhà
thơ Lê Đạt.
25