VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HUY PHIẾN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC NGÀNH NGOẠI GIAO Ở NƢỚC TA
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VĂN TẤT THU
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu trong luận
văn là trung thực, khách quan, dựa trên kết quả khảo cứu thực tế và các tài liệu đã
được công bố.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Lê Huy Phiến
ngành ngoại giao ở nước ta hiện nay………………………………..………….….54
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH
NGOẠI GIAO………………………………………………………………….....63
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ,
công chức ngành ngoại giao……………………………………………..………...63
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ,
công chức ngành ngoại giao………………………………………………..……...64
3.3. Các kiến nghị về hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách và các kiến nghị về
hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao……...71
KẾT LUẬN………………………………………………….……………………75
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….…………77
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt phân công thực hiện Kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ, công
vụ, công chức của Bộ Ngoại giao…………………………….……………………33
Bảng 2.2: Phụ cấp chức vụ Lãnh đạo đối với cán bộ, công chức tại Ban Đối ngoại
Trung ương Đảng và Bộ Ngoại giao………………….…………………………....48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc Đổi mới một cách toàn diện hướng tới
mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, hội nhập
quốc tế.... Đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao và hội nhập quốc tế, nước ta đạt được
chức ngành ngoại giao còn được thực hiện chưa tốt. Việc thực hiện chế độ đãi ngộ
đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao chưa được tốt một phần do những hạn
chế của chính sách này, phần khác là do còn nhiều hạn chế trong khâu thực hiện
chính sách.
Trên tinh thần đó, đề tài “Thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ,
công chức ngành ngoại giao ở nước ta hiện nay” được tác giả lựa chọn với mong
muốn có một cái nhìn sâu sắc hơn về việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán
bộ, công chức nói chung và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức
ngành ngoại giao tại Việt Nam nói riêng. Từ đó, tập trung phân tích và đưa ra
những luận giải một cách khoa học các yêu cầu đối với việc thực hiện chính sách
đãi ngộ đối với cán bộ, công chức hiện nay, chỉ ra những điểm còn bất cập, từ đây
đúc kết một số bài học kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả
chính sách và hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại
giao trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xây dựng hệ thống chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, từ đó tạo
động lực tích cực đối với thực thi công vụ của cán bộ công chức luôn là mục tiêu và
ưu tiên trong xây dựng và vận hành bộ máy chính trị, hành chính của mọi quốc gia.
Chính vì vậy, nghiên cứu chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức không phải
là một vấn đề mới mà có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập
đến chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức dưới nhiều góc độ khác nhau. Các công
trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách đãi ngộ đối với cán
bộ, công chức ở những đối tượng nhất định như: Đề tài “Hoàn thiện chế độ, chính
sách đãi ngộ với cán bộ, công chức cơ sở” của Thạc sỹ Nguyễn Thế Vịnh, Bộ Nội
vụ; Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” được Thủ tướng Chính
2
phủ ký quyết định ban hành ngày 18/10/2012; bài viết của Thạc sỹ Thạnh Thọ Mộc
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối
với đội ngũ cán bộ, công chức ngoại giao ở nước ta, cụ thể gồm:
- Hệ thống các quan điểm, chủ trương, pháp luật và quy định của Đảng và
Nhà nước ta về đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành ngoại giao Việt
Nam trong tổng thể chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ở nước ta nói
chung.
- Thực trạng thực hiện các chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức
ngành ngoại giao ở nước ta hiện nay.
- Do dung lượng của luận văn có hạn, tác giả tập trung vào 5 đối tượng
nghiên cứu trong chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại giao ở nước
ta, bao gồm: Chế độ tiền lương và sinh hoạt phí; Chế độ phụ cấp; Chế độ đào tạo,
bồi dưỡng; Chế độ thi đua, khen thưởng; Chế độ phu quân, phu nhân ngoại giao.
Phạm vi nghiên cứu: Do đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam, các cơ
quan thực hiện chức năng ngoại giao, đối ngoại rất đa dạng như: Bộ Ngoại giao và
các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, Ban Đối ngoại Trung ương
Đảng, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Sở Ngoại vụ, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
Việt Nam, bên cạnh chính sách đãi ngộ chung của ngành thì mỗi cơ quan lại có
những chính sách đãi ngộ riêng theo đặc thù hệ thống, do vậy luận văn xin được đề
cập đến việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại
giao ở nước ta nói chung (có sự liên hệ đặc thù của Bộ Ngoại giao - cơ quan chính
thực hiện nhiệm vụ ngoại giao nhà nước và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, cơ
quan tác giả đang công tác).
Bên cạnh đó, do đặc điểm đặc thù của cán bộ, công chức ngành ngoại giao
đó là: cán bộ, công chức ngành ngoại giao không chỉ công tác ở trong nước mà còn
công tác tại các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài; đối với mỗi loại đối tượng, ở mỗi
địa bàn khác nhau lại có các chế độ khác nhau. Do đó, bên cạnh việc nghiên cứu các
chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao ở trong nước, luận
công chức ngành ngoại giao đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế ở nước ta
hiện nay.
5
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, cơ cấu luận
văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán
bộ, công chức ngành ngoại giao.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức ngành ngoại giao ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI
VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH NGOẠI GIAO
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Ngành ngoại giao
Ngành được hiểu là một lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp. Theo cách hiểu
này, trong đời sống kinh tế - xã hội được chia làm rất nhiều ngành như: ngành văn
hóa, ngành giáo dục, ngành y tế, ngành luật…
Ngoại giao theo cách hiểu phổ biến nhất là việc thực hiện các mối quan hệ
giữa các quốc gia có chủ quyền thông qua liên lạc, thương lượng, gây ảnh hưởng
cũng như điều chỉnh những khác biệt. Hoạt động ngoại giao đã xuất hiện từ rất lâu
- Cán bộ, công chức ngành ngoại giao là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ hoặc được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch công chức.
- Làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã
hội thuộc lĩnh vực ngoại giao hoặc làm việc tại các cơ quan đại diện ngoại giao Việt
Nam ở nước ngoài: Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao và các cơ quan
đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Sở Ngoại
vụ, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các cán bộ làm việc tại các đơn vị phụ
trách lĩnh vực hợp tác quốc tế của các Ban, Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội.
- Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1.1.3. Chính sách, chính sách công, thực hiện chính sách
Theo cách hiểu phổ biến và vận dụng cụ thể vào thể chế chính trị của Việt
Nam, chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động
do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó
thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm
giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [31. Tr. 12].
8
“Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể
chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định
và hiện thực hóa các chính sách để đưa chính sách vào cuộc sống” [39. Tr. 1-12].
1.1.4. Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao
Đãi ngộ, hiểu theo nghĩa hẹp, là sự đền bù thỏa đáng cho những thiệt thòi
cần phải bù đắp. Theo cách hiểu này, đối tượng cần nhận được sự đãi ngộ trong cán
bộ công chức ngành ngoại giao chỉ bao gồm cán bộ, công chức ngành ngoại giao
công tác tại các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài do họ phải làm
lợi ích vật chất gián tiếp và sự hài lòng về mặt tâm lý của họ; nó được ghi nhận và
quy định một cách rõ ràng thể hiện qua các chế độ cụ thể; bên cạnh các chế độ đãi
ngộ thông thường như tiền lương, phụ cấp, thì còn có các chế độ đặc thù đối với cán
bộ, công chức trong ngành như sinh hoạt phí, chế độ phu quân/phu nhân ngoại giao
đối với cán bộ, công chức ngoại giao công tác tại các cơ quan đại diện ngoại giao
Việt Nam ở nước ngoài.
Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao nếu được
thực hiện tốt sẽ tạo động lực tích cực cho cán bộ, công chức trong ngành làm việc
hiệu quả, gắn bó với cơ quan, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị và nỗ lực hoàn
thành tốt nhiệm vụ cả ở trong và ngoài nước, đóng góp tích cực cho nền ngoại giao
nước nhà.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc về cán bộ, công chức và
đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao
1.2.1. Quan điểm của Đảng về cán bộ và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức
ngành ngoại giao
Xác định vị trí và vai trò quan trọng của cán bộ, công chức trong sự nghiệp
phát triển đất nước, trong những năm qua, Đảng ta đã đưa ra nhiều quan đểm đối
với hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức ngoại giao
nói riêng thông qua các Văn kiện Đại hội, Nghị quyết, Chỉ thị:
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp
hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”; Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung
ương khóa X ngày 02/02/2009 “Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ
10
từ nay đến hết năm 2020” nêu rõ quan điểm cải cách cơ bản chế độ tiền lương, tiền
tệ hóa tiền lương và các chế độ theo lương, ban hành chính sách về nhà ở, nhà công
vụ đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang. Cải cách công tác thi đua, khen
công chức nói chung và cán bộ, công chức ngành ngoại giao nói riêng, trong những
năm qua, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã thể chế hóa các quan điểm trên
thành các văn bản quy phạm pháp luật. Đó là: Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ
ngày 01/01/2010; Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11 được Quốc hội
khóa 11 thông qua ngày 26/11/2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của luật Thi đua, khen thưởng được Quốc hội thông qua ngày
16/11/2013 có hiệu lực từ ngày 01/6/2014; Nghị quyết của Quốc hội về Dự toán
ngân sách nhà nước năm 2016 trong đó có quyết định thực hiện điều chỉnh tăng
mức lương cơ sở; Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ
Quy định những người là công chức; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày
14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên
chức và lực lượng vũ trang và Nghị định số 17/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Nghị định số 18/2010/NĐCP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công chức; Nghị định số
34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp công
vụ đối với cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân
sách nhà nước làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, ở xã, phường, thị trấn và lực lượng vũ trang; Thông tư số
03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công
chức; Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn
thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn
đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; Nghị định số 65/2014/NĐCP ngày 01/7/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung
12
một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày
02/6/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày
25/01/2010 của Chính phủ.
Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Nghị định số 157/2005/NĐ-CP ngày 23/12/2005
của Chính phủ Quy định một số chế độ đối với cán bộ, công chức công tác nhiệm
kỳ tại cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và Nghị định số 48/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 157/2005/NĐ-CP.
1.3. Mục tiêu, yêu cầu của chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành
ngoại giao
Mục tiêu của chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao
ở nước ta hiện nay đó là:
- Về vật chất: Bảo đảm cho cán bộ, công chức ngành ngoại giao ở nước ta có
mức sống trung bình ở đô thị hiện tại và phấn đấu đến năm 2020, bảo đảm cán bộ,
công chức ngành ngoại giao trong nước có mức sống trung bình khá trong xã hội;
bảo đảm điều kiện vật chất và tinh thần cho cán bộ, công chức công tác tại các cơ
quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Từ đó, làm cho cán bộ, công chức
ngoại giao cảm thấy hài lòng với lợi ích mà họ nhận được, tạo động lực thúc đẩy
cán bộ, công chức làm việc với tinh thần cống hiến và yên tâm hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.
- Về tinh thần: Tạo ra một môi trường làm việc lành mạnh, khuyến khích cán
bộ, công chức ngành ngoại giao ở cả trong và ngoài nước không ngừng sáng tạo, thi
đua, phấn đấu, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ và có ý thức gắn bó lâu dài với công
việc và tổ chức.
Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng bởi ngoại giao là một lĩnh vực nghề nghiệp mang tính chất đặc
thù và nhạy cảm, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay điều đó thể hiện rất rõ nét. Cán
bộ, công chức ngoại giao làm việc không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài, áp
lực công việc lớn và phải có bản lĩnh vững vàng trước những cám dỗ của các lực
lượng bên ngoài. Do đó, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại
giao và việc thực hiện chính sách này có bảo đảm được các mục tiêu trên hay không
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nền ngoại giao nước nhà.
Yêu cầu của chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại giao:
thành vô nghĩa, không có giá trị thực tiễn, không giải quyết được vấn đề thực tiễn
nảy sinh.
15
Hai là, nếu chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao
được thực hiện tốt sẽ tạo động lực tích cực cho cán bộ, công chức trong ngành làm
việc hiệu quả, gắn bó với cơ quan, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị và nỗ lực
hoàn thành tốt nhiệm vụ cả ở trong và ngoài nước, đóng góp tích cực cho nền ngoại
giao nước nhà. Có thể nói ngoại giao là một lĩnh vực nghề nghiệp mang tính chất
đặc thù và nhạy cảm. Điều này xuất phát từ yêu cầu của công tác đối ngoại và tính
chất nghề nghiệp. Cán bộ, công chức ngoại giao làm việc không chỉ ở trong nước
mà còn ở nước ngoài, áp lực công việc lớn và phải có bản lĩnh vững vàng trước
những cám dỗ của các lực lượng bên ngoài. Do đó, việc thực hiện chính sách đãi
ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nền ngoại giao nước nhà.
Ba là, thông qua việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức
ngành ngoại giao, các nhà hoạch định chính sách có thể phát hiện ra những vấn đề
chính sách nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó có những điều chỉnh, bổ sung
cho phù hợp trong quá trình thực hiện chính sách này.
Bốn là, thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại
giao để thể hiện tính đúng đắn, tính phù hợp của chính sách. Hay nói cách khác, đó
là sự kiểm định thực tiễn của chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại
giao.
Năm là, thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại
giao có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân tích và đánh giá chính sách. Việc phân
tích và đánh giá chính sách chỉ đầy đủ và có tính thuyết phục sau khi thực hiện
chính sách này trên thực tế.
1.4.2. Các yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách đãi ngộ đối với
Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các bộ,
ngành liên quan…) đến địa phương (các sở Ngoại vụ, sở Nội vụ…) đều phải xây
dựng kế hoạch thực hiện chính sách và xác định được chính xác, cụ thể các nội
dung, nhiệm vụ trong các kế hoạch: tổ chức điều hành; cung cấp các nguồn vật lực
(bao gồm cả nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật) cho việc thực hiện
chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại giao; kiểm tra đôn đốc thực thi
17
chính sách và trong việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách. Cùng với
xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức
điều hành thực hiện chính sách. Nếu các kế hoạch trên được xây dựng một cách
chính xác và đảm bảo tính khả thi thì quá trình thực thi chính sách sẽ thuận lợi và
đạt hiệu quả cao đồng thời trong quá trình thực hiện sẽ không phải điều chỉnh, bổ
sung kế hoạch. Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách chính xác, có tính
khả thi cao đòi hỏi cán bộ, công chức trong ngành ngoại giao có nhiệm vụ tham
mưu, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội
dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đãi
ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu,
nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp
tổ chức thực hiện.
1.5.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức ngành ngoại giao
Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộ,
công chức ngành ngoại giao giúp cho cán bộ, công chức trong ngành (là đối tượng
thụ hưởng trực tiếp của chính sách) hiểu rõ về mục đích, yêu cầu và tính đúng đắn
của chính sách để họ tự giác thực hiện. Đồng thời, việc tuyên truyền, phổ biến chính
sách này giúp cho cán bộ, công chức trong ngành có trách nhiệm tổ chức thực thi
chính sách nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để
với nhau.
1.5.4. Duy trì chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại giao
Duy trì chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao bảo
đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế.
Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm
cần tham mưu, đề xuất các giải pháp, các biện pháp bảo đảm cho chính sách được
duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Khi thực hiện chính
sách gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi đội ngũ cán bộ,
công chức thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống
19
công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính
sách này trên thực tế. Đồng thời, cần chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban
hành chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp
với hoàn cảnh mới. Việc duy trì chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại
giao có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy
tác dụng bền vững.
1.5.5. Điều chỉnh chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao
Điều chỉnh chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngoại giao để chính
sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế. Trong quá trình thực hiện
chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn
những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có
những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phù hợp với tình hình
thực tế. Điều chỉnh các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được
thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi
mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại. Thẩm quyền điều chỉnh bổ sung chính
sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành ngoại giao thuộc thẩm quyền của các
cơ quan, tổ chức ban hành chính sách này nhưng việc điều chỉnh các biện pháp, các