VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÁI AN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGÀNH THỦY SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn “Thực hiện chính sách phát triển ngành thủy sản từ thực
tiễn tỉnh Thái Bình” là kết quả nghiên cứu độc lập của tôi. Các thông tin có nguồn
gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu. Nghiên cứu hoàn toàn trung
thực và chưa hề được công bố ở công trình, đề tài nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái An
ĐVT
: Đơn vị tính
FDI
GDP
GIS
GPS
NN&PTNT
ODA
PVI
: Foreingn Direcht Investment
Vốn đầu tư nước ngoài
: Gross Domestic Products
Tổng sản phẩm quốc nội
: Geographic Information System
Hệ thống thong tin địa lý
: Globanl Positioning System
Hệ thống định vị toàn cầu
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
: Official Development Assistance
Hỗ trợ và phát triển
: Pertro VietNam Insurance
Bảo hiểm dầu khí
: Quy hoạch tổng thể
BĐKH
: Biến đổi khí hậu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
2.2
2.3
Giá trị sản xuất ngành thủy sản (theo giá hiện
hành)
Diện tích mặt nước và sản lượng thủy sản nuôi
trồng tỉnh Thái Bình
Sản lượng thủy sản khai thác phân theo huyện,
thành phố
điều kiện hiện nay khi các nguồn tài nguyên trên đất liền có hạn, đã và đang được
khai thác mạnh mẽ, sự bùng nổ dân số ngày càng gia tăng. Thái Bình là một tỉnh
nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, thuộc vùng biển và ven biển phía Bắc, là tỉnh giàu tiềm
năng, thế mạnh, phát triển toàn diện nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp (đặc
biệt là nông nghiệp và ngư nghiệp) với 49,25 km bờ biển. Vùng biển Thái Bình
thuộc ngư trường đánh bắt Vịnh Bắc Bộ với hàng nghìn hecta mặt nước ở các bãi
1
bồi cửa sông thuận lợi cho việc chăn nuôi thủy hải sản. Thái Bình với 5 cửa sông
lớn đổ ra biển, tạo nên vùng bãi triều rộng trên 16 nghìn héc-ta, trong đó diện
tích khoanh nuôi thủy sản khoảng 10 nghìn héc-ta và hàng nghìn héc-ta đất cấy
lúa, làm muối kém hiệu quả có thể chuyển sang nuôi các loài thủy sản mặn, lợ.
Vùng thềm lục địa của tỉnh rộng trên 1 vạn km2 với nguồn lợi hải sản phong phú,
đa dạng, có nhiều loài có giá trị kinh tế, lại gần các ngư trường lớn giàu tôm cá.
Cảng thương mại Diêm Điền được đầu tư nâng cấp tạo điều kiện cho các tàu vận
tải biển. Hàng ngàn héc-ta rừng sú, vẹt phía ngoài đê biển cùng với Cồn Vành,
Cồn Thủ, Cồn Đen tạo nên hệ thống phòng thủ ven biển vững chắc, kết hợp với
nuôi thủy sản, trồng rừng ngập mặn, du lịch sinh thái. Nhân dân ven biển cần cù
chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản và
vận tải biển. Bên cạnh đó, quá trình khai thác, phát triển tiềm năng kinh tế biển của
Thái Bình cũng còn những hạn chế, khó khăn chủ yếu, như việc nuôi trồng thủy
sản chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực sự bền vững; phương thức nuôi chủ
yếu vẫn là quảng canh cải tiến; kiến thức về khoa học - kỹ thuật của phần lớn
nông, ngư dân chưa theo kịp với yêu cầu của sản xuất; nhận thức của một bộ phận
cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong việc phát triển kinh tế biển còn
hạn chế, vẫn còn biểu hiện tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước;
khai thác hải sản chủ yếu là khai thác ven bờ, số phương tiện công suất nhỏ có xu
hướng tăng; dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; hệ thống
giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới; du lịch biển vẫn
nguồn lực phát triển thủy sản, hiện trạng khai thác và đưa ra được định hướng, giải
pháp để phát triển ngành thủy sản của Việt Nam, Đồng bằng Sông Cửu Long và
một số tỉnh lân cận.
Từ ngày 1-5, Trung Quốc đã đưa giàn khoan đến hoạt động thăm dò trái
phép ở vùng biển Hoàng Sa cách đảo Tri Tôn của Việt Nam 17 hải lý và nằm sâu
trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam 80 hải lý. Cục Hải
sự nước này đưa ra Thông cáo vận tải về tác nghiệp của giàn khoan Hải dương 981,
tuyên bố giàn khoan này sẽ hoạt động từ ngày 2-5 đến ngày 15-8, cấm các tàu
thuyền không có liên quan đi vào. Kèm theo đó, trên thực địa Trung Quốc đã huy
động ban đầu là khoảng 80 tàu, sau đó thường xuyên duy trì trên 100 tàu các loại
3
gồm cả tàu hộ vệ tên lửa, tàu tuần tiễu săn ngầm, các tàu hải cảnh đã mở bạt vũ khí
đầy hăm dọa, hiếu chiến
Nhìn vào hành động của Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ những năm
gần đây có thể thấy, khi quốc lực tăng thì tham vọng bành trướng càng tăng, dùng
sức mạnh để tranh giành lợi ích. Khi tham vọng bành trướng lãnh thổ này cộng
hưởng với sức mạnh kinh tế đã chuyển hóa thành sức mạnh quân sự, với nhu cầu
bức thiết về tài nguyên, với nhu cầu sống còn về tìm lối ra để thực hiện mục tiêu
vươn lên chia sẻ vị trí lãnh đạo thế giới, nó sẽ trở nên nguy hại hơn, đe dọa hơn đối
với các nước xung quanh cũng như hòa bình, ổn định của khu vực. Từ thực tế đó
Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có những chính sách kịp thời để tăng cường cho ngư
dân Việt Nam bám biển, vươn khơi đánh bắt và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Là một tỉnh đồng bằng ven biển, Thái Bình nằm ở phía nam châu thổ đồng
bằng sông Hồng, có tọa độ địa lý : 20017 đến 22044 vĩ độ Bắc và 106006 đến 106039
kinh độ đông. Phía Bắc, Thái Bình giáp tỉnh Hưng Yên và Hải Dương (ngăn cách
bởi sông Luộc), phía Đông Bắc giáp Hải Phòng (ngăn cách bởi sông Hóa), phía Tây
và phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và Nam Định (ngăn cách bởi sông Hồng), phía
Đông giáp Vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài trên 50km và một vùng biển rộng.
đề then chốt trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển. Bởi vì, “bờ có vững thì
ngư dân mới yên tâm bám biển, vươn khơi”, sau lưng ngư dân là cả nước đồng
lòng, chung sức.
Bảo vệ chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay, để thực
hiện nhiệm vụ này, chúng ta phải quán triệt, thấu suốt quan điểm của Đảng về mục
tiêu, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, triển
khai đồng bộ nhiều giải pháp, bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định và giữ vững chủ
quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị
trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Bảo vệ chủ quyền
biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
ta. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp
5
của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý, điều
hành thống nhất của Nhà nước. Trong đó, cần phát huy vai trò của ngư dân.
Từ tình hình thực tế phức tạp của biển đông với sự bành trướng của Trung
Quốc, Đảng, Nhà nước, Chính phủ nước ta đã có những quyết sách quan trọng
nhằm thúc đẩy phát triển ngành thủy sản của Việt Nam. Thúc đẩy tăng năng suất,
giá trị, chất lượng từ nguồn lợi hải sản, nâng cấp cải hoán các loại tàu, thuyền đánh
bắt hải sản, tạo điều kiện tốt nhất cho ngư dân bám biển, vươn khơi khai thác và bảo
vệ chủ quyền biển đảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện chính sách phát triển
thủy sản, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển thủy sản của tỉnh Thái
Bình; Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực
thập, phân tích và khai thác thông tin từ cá nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước,
Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài
liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách việc làm ở nước ta nói chung và thực tế
tỉnh Thái Bình nói riêng, đồng thời thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả
quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội
liên quan đến vấn đề chính sách cạnh tranh.
Một số phương pháp khác:
- Nghiên cứu tài liệu có sẵn
- Phương pháp phân tích thực chứng
- Phương pháp so sánh, tổng hợp
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn luận văn
Ý nghĩa lý luận:
- Đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và vận dụng các lý
thuyết chính sách công.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan tới chính sách phát triển
ngành thủy sản.
7
- Đúc rút bài học kinh nghiệm về chính sách và tổ chức thực hiện chính sách
phát triển ngành thủy sản từ thực tiễn một số địa phương ở nước ta.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn cung cấp nhưng vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng
các lý thuyết về chính sách công đề xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về chính
sách phát triển ngành thủy sản ở tỉnh Thái Bình trong những năm tiếp theo
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành
tỉnh trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách một cánh hiệu quả trong công
quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và phục vụ người dân
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của
xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền.( Đỗ Phú Hải, học viện
Khoa học xã hội).
b. Thủy sản
Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại
cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu
hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Trong đó
ngành thủy sản có liên quan đến việc đánh bắt cá tự nhiên hoặc cá nuôi thông qua việc
nuôi cá. Nuôi trồng thủy sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lớn đến đời sống của
hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng
thủy sản (theo từ điển điện tử wikipedia trang điện tử )
c. Ngành thủy sản
Thuỷ sản là một trong những ngành sản xuất kinh doanh, một ngành hoạt
động kinh tế nằm trong tổng thể kinh tế –xã hội của loài người .Thuỷ sản đóng vai
trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại, không những thế nó
9
còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân
đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng ven biển.
Ngành thủy sản là một bộ phận nhỏ của ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa
rộng bao gồm: nông - lâm - ngư nghiệp. Ngành thủy sản được coi là ngành sản xuất
dựa trên những khả năng tiềm tàng sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra
những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người. Hoạt
động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế
biến mua bán, xuất khẩu thủy sản, dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo
địa phương. Chính sách phát triển thủy sản tại địa phương đề ra những giới hạn cho
phép của các quyết định, nhắc nhở các chủ thể những quyết định nào có thể (nằm
trong khuôn khổ cho phép của chính sách) và những quyết định nào là không thể
(không trong khuôn khổ cho phép của chính sách). Bằng cách đó chính sách hướng
các hoạt động liên quan đến phát triển của vùng lãnh thổ tới việc thực hiện việc phát
triển lĩnh vực ngư nghiệp của địa phương. Chức năng định hướng luôn được coi là
một trong những chức năng quan trọng nhất của chính sách phát triển thủy sản tại
địa phương. Điều này được khẳng định bởi vai trò định hướng của chính sách phát
triển kinh tế tại địa phương đối với các chủ thể kinh tế, chính trị và xã hội nhằm
hướng tới việc đạt được những mục tiêu đã đề ra. Chính sách phát triển thủy sản tại
địa phương định hướng các doanh nghiệp đầu tư và người dân phát triển theo ưu
tiên cơ cấu ngành, các khu vực cần thiết theo quy hoạch để đảm bảo môi trường,
phát triển bền vững, giải quyết công ăn việc làm, định hướng phát triển các ngành
phụ trợ khác.
b. Chức năng điều tiết
Ba vai trò quan trọng nhất của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được
xác định là huy động nguồn lực, phân bổ nguồn lực và bình ổn kinh tế nhằm đảm
bảo tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực, tạo nên sự ổn định xã hội và tăng trưởng
bền vững. Ở góc độ này, chính sách phát triển thủy sản tại địa phương ban hành
nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, thực hiện chức năng điều tiết trong phát
triển ngành thủy sản. Chính sách phát triển thủy sản tại địa phương điều tiết khắc
phục tình trạng mất cân đối trong việc sử dụng, phát huy hiệu quả nguồn lực của xã
hội, điều tiết những hành vi, hoạt động không phù hợp trong phát triển thủy sản, nhằm
11
tạo một hành lang pháp lý cho các hoạt động hướng tới việc đạt được các mục tiêu đã
đề ra. Chính sách phát triển thủy sản tại địa phương điều tiết sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, sử dụng có hiệu quả đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng nguồn lao
động dôi dư trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội tại địa phương.
huy những lợi thế vốn có, đặc biệt là khi nó đóng vai trò là một ngành kinh tế mũi
nhọn của một quốc gia.
- Lao động
Trong mỗi lĩnh vực con người luôn là yếu tố then chốt. Do hoạt động khai
thác phải chịu nhiều yếu tố khí hậu khắc nghiệt, ngư trường, cho nên yếu tố sức
khỏe và kinh nghiệm của người lao động trong qúa trình trực tiếp đánh bắt hải sản
là rất quan trọng.
Ngành thủy sản rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực ở cả hai khía cạnh số
lượng và chất chượng. Vì vậy để phù hợp với yêu cầu khai thác hải sản theo công nghệ
ngày càng cao thì việc nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý cũng như những người
lao động càng được chú trọng hơn. Trong đó phải kể đến việc đào tạo một số lượng lớn
ngư dân trực tiếp khai thác và công nhân thực hiện chế biến theo quy trình các sản
phẩm đông lạnh phù hợp với yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
- Phương tiện
Phương tiện sử dụng chủ yếu trong khai thác thủy sản là tàu, thuyền. Tàu,
thuyền có công suất lớn trang thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi nâng cao năng
suất trong việc khai thác, đặc biệt đối với hoạt động khai thác và đánh bắt xa bờ.
Bên cạnh đó việc có những cảng biển, bến đỗ, nhà máy đông lạnh… với quy
mô lớn cũng góp phần lưu thông nguồn thủy, hải sản một cách dễ dàng.
Yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm hải sản là kỹ
thuật công nghệ trong bảo quản sản phẩm. Bên cạnh trong bị đầy đủ công cụ, dụng
cụ cũng như phương tiện thì kinh nghiệm về sử dụng là rất cần thiết.
Khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cho nên khi sử dụng các công
cụ đánh bắt phải được nghiên cứu thử nghiệm kỹ tránh gây thiệt hại đối với các loài
thủy hải sản quý, hiếm.
- Thông tin thị trường
13
d. Thị trường (giá cả, quan hệ cung - cầu, cạnh tranh)
- Giá cả
Giá cả luôn là vấn đề nhạy cảm và phức tạp của mọi nền kinh tế. Giá cả là
“đòn bẩy” kinh tế trong cơ chế thị trường, được coi là một hệ thống tín hiệu khách
quan trên thị trường.
Giá cả là một trong những thông tin đáng tin cậy để định hướng sản xuất, đầu
tư; đồng thời để giám sát sản xuất, phát hiện hiệu quả của sản xuất, cung cấp những
thông tin có căn cứ về hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng mặt hàng; tác động
làm thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tổ chức sắp xếp lại sản xuất dưới sự
kiểm soát của thị trường.
Giá cả quyết định đến lợi nhuận, vì lợi nhuận sẽ đưa nhà sản xuất kinh doanh
đến các khu vực sản xuất các hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng cần nhiều hơn bỏ
qua những vấn đề lợi ích công cộng của xã hội và cũng từ đó có thể dẫn đến sản
xuất, đầu tư trùng lắp, kém hiệu quả, đưa lại cơ cấu sản xuất luôn thay đổi vì mục
tiêu lợi nhuận.
Quy định giá cả bằng luật pháp: Trong cơ chế thị trường, hầu hết các hàng
hóa đều được định giá dựa trên quan hệ cung – cầu. Giá cả hàng hóa được xác định
tại mức mà lượng cung bằng với lượng cầu. Tuy nhiên do những mục tiêu điều tiết
vĩ mô nhất định, sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường là điều không thể tránh
khỏi, thậm chí tại Mỹ và các nước có nền kinh tế thị trường phát triển khác, sự can
thiệp này cũng diễn ra khá phổ biến. Bên cạnh việc trợ cấp, đánh thuế, các chính
phủ còn can thiệp trực tiếp vào thị trường bằng các biện pháp kiểm soát giá. Đó là
những quy định và luật lệ của Chính phủ cản trở việc hàng hóa, dịch vụ được mua
bán ở giá cân bằng trên thị trường. Các biện pháp kiểm soát giá có thể là giá trần
hay giá sàn.
- Quan hệ cung – cầu
Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên
thị trường. Cầu được hiểu là nhu cầu xã hội về hàng hóa được biểu hiện trên thị
trường ở một mức giá nhất định, nó bị giới hạn bởi khả năng thanh toán của dân cư.
15
sự phân bố các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu. Mục đích hoạt động
16
của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đó họ sẽ đầu tư vào nơi có lợi nhuận
cao, tức là các nguồn lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được
sử dụng với hiệu quả cao nhất.
Cạnh tranh kích thích tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.
Người sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận
siêu ngạch. Do đó cạnh tranh là áp lực đối với người sản xuất buộc họ phải cải tiến kỹ
thuật, nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội được phát triển.
Cạnh tranh góp phần tạo nên cơ sở cho sự phân phối thu nhập lần đầu. Người
sản xuất nào có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao sẽ có thu nhập cao, đồng thời
thông qua cạnh tranh nhu cầu của người tiêu dùng được đáp ứng.
Cạnh tranh thường xảy ra mạnh được yếu thua, các chủ thể hành vi kinh tế
thích ứng với thị trường sẽ tồn tại và phát triển và ngược lại các chủ thể hành vi
kinh tế không thích ứng với thị trường sẽ bị đào thải.
Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực, thể hiện ở
cạnh tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi
phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình, gây tổn hại đến lợi ích
của người khác, của tập thể, xã hội… như làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, ăn cắp
bản quyền.
1.2. Vấn đề phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam
1.2.1. Thực trạng phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam
a. Tiềm năng và ưu thế
Việt nam có thế mạnh về khai thác và nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 vùng
nước mặn, ngọt, lợ. Khu vực đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 thuộc 4
khu vực được phân chia rõ ràng về mặt thuỷ văn đó là: Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc,
khu vực biển miền Trung, khu vực biển Đông Nam và vùng Vịnh Tây Nam, hàng
năm có thể khai thác 1,2 –1,4 triệu tấn hải sản, có độ sâu cho phép khai thác ở nhiều
Sản lượng khai thác bền vững ước tính là 1,7 triệu tấn/năm. Nguồn lợi hải sản chủ
yếu là các loại cá có khả năng di chuyển nhanh, lưu trú ở vùng biển Việt Nam trong
khoảng thời gian ngắn. Theo số liệu thống kê, tổng sản lượng hải sản đánh bắt năm
2014 là 2,45 triệu tấn. Trong đó, 82% sản lượng hải sản đánh bắt được là các loại
cá, số còn lại là cua, mực, tôm các loại và một số loại hải sản khác. Khoảng 60%
18
sản lượng khai thác được phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước, 18% cho xuất
khẩu và khoảng 20% cho các mục đích khác.
Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, ngành thuỷ sản Việt nam
còn có lợi thế về tiềm năng lao động và giá cả sức lao động. Lao động nghề cá Việt
nam có số lượng dồi dào, thông minh, khéo tay, chăm chỉ, có thể tiếp thu nhanh
chóng và áp dụng sáng tạo công nghệ tiên tiến.
Thuận lợi về thị trường: Việt nam nằm cạnh Trung quốc một nước đông dân
nhất trên thế giới: hơn 1,4 tỉ người, đây là 1 thị trường đầy tiềm năng và tiêu thụ hải
sản rất mạnh, hầu như từ trước đến nay Việt nam chưa từng thoả mãn được nhu cầu
về hải sản của Trung quốc. Ngoài trung quốc ra còn có thị trường Nhật Bản và Hàn
Quốc cũng là 2 thị trường tiêu thụ rất mạnh các sản phẩm thuỷ sản của nước ta, vì
vậy trong tương lai thuỷ sản Việt nam còn có tiềm năng mở rộng thị trường, đẩy
mạnh kim ngạch xuất khẩu, vươn lên một tầm cao mới.
b. Những khó khăn còn tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, nhìn chung ngành thủy sản còn chưa thực
sự phát triển tương xứng với tiềm năng phong phú của nó, so với các nước còn thua
kém về nhiều mặt. Chúng ta về cơ bản mới chỉ là đánh bắt cá ven bờ, cả trong khâu
đánh bắt cũng như khâu chế biến còn rất thủ công, chưa thực sự đẩy ngành thủy sản
lên tầm vĩ mô, mang tính công nghiệp cao .
Xét về sản lượng, mức khai thác thấp hơn rất nhiều so với 1 số nước trong
khu vực như : Philipin, Thái Lan, Trung Quốc. Khai thác của ta còn chưa được hiện
đại hóa, thiếu khả năng vươn nhanh mạnh ra xa bờ. Hầu hết các tàu đánh bắt có
sở hạ tầng, hệ thống kho bảo quản, làm lạnh ... Chính vì thế mới có tình trạng hầu
hết các xí nghiệp chế biến thủy sản ở nước ta chỉ làm gia công cho 1 số công ty lớn
trong hoặc ngoài nước.
Nhìn chung, trước mắt, ngành thủy sản Việt nam còn có rất nhiều khó khăn
và thử thách cần phải giải quyết, nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản, mở rộng
thị trường, để cho ngành thủy sản thực sự xứng đáng với tiềm năng to lớn của nó.
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phƣơng
1.3.1. Nghệ An
Nghệ An đang phát triển hiệu quả nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trên cơ
sở khai thác tiềm năng đất đai, mặt nước và kinh nghiệm của người dân. Tại các
20