thực trạng thực hiện chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn - Pdf 24

I. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nghề nông thôn là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế
ở khu vực nông thôn, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện
đời sống người dân ở khu vực nông thôn.
Ngành nghề nông thôn giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát
triển nông thôn Việt Nam, không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm lúc
nông nhàn, tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo nên những dấu ấn, bản
sắc văn hóa của mỗi vùng, miền thông qua các sản phẩm văn hóa được lưu
giữ từ đời này qua đời khác.
Ngày nay, trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập kinh tế thế giới, sức ép dư thừa lao động ở nông thôn và sự chuyển
dịch lao động ra thành phố ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị có nguy cơ ngày một gia tăng. Vì vậy, phát triển ngành
nghề nông thôn không chỉ ngày càng quan trọng đối với khu vực nông thôn
mà còn góp phần phát triển bền vững nền kinh tế xã hội chung của cả nước.
Đã từ lâu Đảng và Nhà nhà nước đã có những chính sách nhằm phát
triển ngành nghề ở khu vực nông thôn, xây dựng nông thôn việt nam mới,
giảm dần tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp và tăng dần tỷ trọng các ngành
nghề khác. Tuy nhiên ở mỗi địa phương có những đặc điểm kinh tế - xã hội
khác nhau nên việc thực hiện những chính sách chung do nhà nước ban hành
đem lại những hiệu quả khác nhau. Nhìn một cách tổng thể, việc đưa chính
sách áp dụng vào phát triển kinh tế nông thôn đã đem lại những chuyển biến
tích cực trong nền kinh tế nông thôn, những không phải những chính sách ấy
đã được thực hiện và đem lại hiệu quả tốt. Vậy để tìm hiểu rõ hơn về thực
trạng thực hiện các chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn, tôi xin lựa
chọn đề tài : " Thực Trạng thực hiện chính sách phát triển ngành nghề ở
nông thôn"
1
II. Nội Dung
2.1. Chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn việt nam.
a) Khái niệm

sắc văn hóa dân tộc.
- Phát triển ngành nghề nông thôn góp phần ổn định trật tự xã hội và
hạn chế các vấn đề xấu trong mối quan hệ xã hội ở nông thôn.
- Phát triển ngành nghề nông thôn là động lực thúc đẩy Chương trình
xây dựng Nông thôn mới và Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị.
3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn.
3.1. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn.
Các hoạt động ngành nghề nông thôn chủ yếu tập trung ở 5 nhóm
ngành chính sau:
- Nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản;
- Nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;
- Nhóm tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ;
- Nhóm công nghiệp;
- Nhóm gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.
Trong các năm qua, hoạt động ngành nghề nông thôn luôn được chú
trọng phát triển. Từ năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định
66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn, trên cơ
sở đó, các tỉnh thành đã xây dựng các chính sách thực hiện theo Nghị định,
trong đó chú trọng xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển
ngành nghề nông thôn, xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển ngành
nghề (tập trung váo 3 lĩnh vực: bảo tồn và phát triển làng nghề, phát triển
làng nghề gắn với du lịch và phát triển làng nghề mới).
Cũng trong năm 2006, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư
113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 hướng dẫn một số nội dung về ngân
sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn. Ngân hàng Nhà nước
3
đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn tín dụng cho lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn. Đồng thời hoạt động ngành nghề nông thôn được xếp vào
lĩnh vực được hưởng các ưu đãi trong chính sách tín dụng phục vụ phát triển

- Các làng nghề truyền thống nhiều, đa dạng là thuận lợi cho việc thực
hiện chính sách phát triển ngành nghề ở nông thôn. Tại nhiều làng nghề
trong thành phố vẫn còn đội ngũ nghệ nhân với tay nghề cao, giàu tâm huyết
và có khả năng truyền dạy nghề cho lớp thợ trẻ.
- Là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng, mỗi vùng miền lại có
những đặc trưng văn hóa khác nhau, việc kết hợp phát triển làng nghề gắn
với du lịch là mục tiêu có thể đạt được trong chính sách phát triển ngành
nghề nông thôn.
b) Những khó khăn
- Năng lực, kinh nghiệm quản lý sản kinh doanh của các chủ hộ, cơ sở
sản xuất; trình độ kiến thức và tay nghề của người lao động trong các làng
nghề còn hạn chế.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm ngành nghề nông thôn vẫn còn tồn tại
nhiều khó khăn, đó là sự cạnh tranh của những mặt hàng cùng loại được sản
xuất bằng công nghệ hiện đại từ các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, do
thiếu thông tin về thị trường nên việc mở rộng tiêu thụ hàng thủ công mỹ
nghệ nước ta còn phát triển chậm. Các sản phẩm ngành nghề nông thôn gắn
với du lịch còn ít; các làng nghề chưa gắn với các tour du lịch để tăng cường
giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm.
- Do quá trình đô thị hoá và chuyển dịch lao động nông thôn vào các
khu công nghiệp nên lao động làng nghề biến động, lao động có tay nghề
cao tìm việc làm tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp.
5
- Hệ thống giao thông đến các làng nghề, đặc biệt hệ thống thông tin
liên lạc, quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là
trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các
loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát
triển ; chưa có các trung tâm đào tạo, cơ quan nghiên cứu khoa học công
nghệ, trung tâm xúc tiếp thương mại, bảo tàng về nghề thủ công mỹ nghệ.
- Môi trường một số làng nghề đã và đang có thể bị ô nhiễm do sự

- Các cơ sở ngành nghề nông thôn có thể phát triển ở nhiều loại hình từ
hộ sản xuất gia đình, đến những doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ tổ hợp tác đến
hợp tác xã; có thể làm vệ tinh cho những tập đoàn kinh tế lớn, có khả năng
linh hoạt giải quyết những đơn đặt hàng lớn.
b) Hạn chế
- Hoạt động quản lý ngành nghề nông thôn đang có sự chồng chéo
giữa các cơ quan từ TW đến địa phương.
- Chính sách của nhà nước về hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
theo Thông tư số 112/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính chưa thực sự đến
được với người dân và các làng nghề nói chung; nguồn kinh phí cho hoạt
động làng nghề còn hạn chế, nhất là trong thu mua nguyên vật liệu phục vụ
sản xuất; đầu tư máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động (LĐ) hạ giá
thành sản phẩm.
- Công tác đào tạo nâng cao tay nghề cho LĐ làng nghề chưa được
chú trọng triển khai thực hiện. Kỹ thuật, công nghệ đang sử dụng tại làng
nghề chủ yếu là thủ công, cổ truyền, mức độ cơ giới hoá còn thấp.
- Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các
nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ.
- Chính sách vay vốn còn hạn chế khi các hộ, HTX và doanh nghiệp
về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận
nguồn vốn tín dụng, chủ yếu về mặt cơ chế tín dụng và thủ tục vay vốn.
7
- Chính sách phát triển ngành nghề nông thôn còn chưa thực hiện
mạnh mẽ việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất, nên ảnh
hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của
sản phẩm.
4. Một số giải pháp để tiếp tục phát triển ngành nghề ở nông thôn
Để đẩy mạnh phát triển ngành nghề nông thôn, là công cụ để công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Chính sách phát triển ngành nghề nông

trên cơ sở có đầy đủ cơ sở hạ tầng và hệ thống xử lý chất thải (rắn, lỏng, khí)
để đảm bảo môi trường sinh thái. Thực hiện các giải pháp giảm ô nhiễm môi
trường. Về công nghệ sản xuất: hướng dẫn thay đổi và đổi mới công nghệ
sản xuất theo hướng áp dụng công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường.
c) Giải pháp về đầu tư, tín dụng
Đẩy mạnh công tác triển khai giới thiệu, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh
nghiệp, tổ hợp tác, tổ ngành nghề, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân tham gia
phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tiếp cận được nguồn vốn vay
có hỗ trợ lãi suất.
Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất áp dụng chính sách hỗ trợ phát triển
ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010
của Chính phủ về khuyến nông và Thông tư số 183/2010/TTLT-BTC-BNN
ngày 15/11/2011 của liên bộ Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Tài chính về
việc Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp
đối với hoạt động khuyến nông, nhằm hỗ trợ, nâng cấp hệ thống máy móc,
trang thiết bị phục vụ sản xuất của một số cơ sở, tổ ngành nghề, tổ hợp tác,
HTX làng nghề, ngành nghề nông thôn tại các xã xây dựng nông thôn mới,
góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của làng nghề, ngành
nghề nông thôn.
9
d) Giải pháp về phát triển kinh tế hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã
Kinh tế hộ là nền tảng phát triển làng nghề, nhưng kinh tế hộ với
những hạn chế vốn có của nó, không thể phát triển được. Con đường tất yếu
là phải phát triển hộ sản xuất trở thành các cơ sở trong làng nghề, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn, liên kết hình thành tổ hợp tác, HTX để nâng
cao tính cạnh tranh. Đây là biện pháp có hiệu quả lớn để đẩy mạnh công
nghiệp hóa, không cần nhiều vốn đầu tư mà giải quyết được nhiều lao động,
đồng thời có thể tranh thủ được công nghệ hiện đại, thích hợp của các nước.
Liên kết hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã kết nối với doanh nghiệp nhằm
tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ.

+ Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi
người có công với cách mạng, hộ nghèo, người tàn tật, người bị thu hồi đất
canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn, với mức tối đa 03 triệu
đồng/người/khóa học; hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực
học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa
không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư
trú từ 15 km trở lên;
+ Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150%
thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn, với mức tối
đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học.
+ Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn,
với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học.
+ Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện
hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc
ổn định ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất
đối với khoản vay để học nghề;
+ Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc
gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo
việc làm.
11
- Nghiên cứu tổ chức các Hội thi, hàng năm tổ chức trao giải: “sản
phẩm tiêu biểu của làng nghề, ngành nghề nông thôn” cho các sản phẩm
mới, kết hợp với cuộc thi sản phẩm thủ công và đề xuất phong tặng danh
hiệu nghệ nhân.
III. Kết luận
Như vậy qua sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng mặc dù sau hơn 5
năm thực hiện chính sách phát triển các ngành nghề nông thôn, chúng ta đã
đạt được những thành tựu to lớn, đã dần thay đổi bộ mặt nông thôn theo mục
tiêu chung công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Chính sách góp phần giảm
khoảng cách phân hóa giàu nghèo, mang lại thu nhập ổn định cho người dân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status