VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH HẢI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834. 04. 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. LƯU NGỌC TRỊNH
Tuy nhiên, làng điêu khắc đá truyền thống Non Nước, quận Ngũ Hành
Sơn cũng như nhiều làng nghề khác trên cả nước, bên cạnh những lợi ích lớn
như đã nêu trên, cũng đang đặt ra những vấn đề tồn tại, bất cập liên quan đến
xu thế phát triển và tồn tại của các làng nghề nói chung: như xây dựng quy
hoạch tổng thể cho các làng nghề truyền thống, xây dựng vùng nguyên liệu
ổn định cho các làng nghề truyền thống, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các
sản phẩm của làng nghề truyền thống, xây dựng nguồn nhân lực cho các làng
nghề truyền thống, phát triển làng nghề truyền thống gắn với việc bảo vệ
môi trường sinh thái, phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch để
bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống một cách bền vững và chính
sách hỗ trợ về vốn, mặt bằng và thông tin để làng nghề tiếp tục phát
triển,...Đây là những vấn đề được đặt ra trong quá trình hoạt động thực tiễn
của làng nghề, nó ảnh hưởng không chỉ đến sự phát triển bền vững của các
làng nghề truyền thống mà còn đến chiến lược, chính sách phát triển kinh tế,
xã hội, văn hoá nói chung của Đảng và Nhà nước ta.
Để làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước phát triển một cách
bền vững, thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một nhiều
hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của thành phố
Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn, đòi hỏi các cấp các ngành và
lãnh đạo thành phố Đà Nẵng cần phải có những chính sách, giải pháp phù
hợp và đảm bảo việc sản xuất cho làng nghề đá non nước, trong đó chú trọng
vấn đề về môi trường sản xuất tại làng nghề, vấn đề bố trí đất cho hộ sản xuất
bị thu hồi đất vào làng nghề, vấn đề chuyển đổi ngành nghề và tạo việc làm...
Tất cả những điều này đòi hỏi phải nghiên cứu hoàn thiện các chính sách
phát triển làng nghề cũng như vấn đề thực thi chính sách đối với sự phát triển
của làng nghề truyền thống.
Xuất phát từ thực tiễn và tính cấp bách của vấn đề, là một cán bộ đang
Đà Nẵng, đã có thêmnguồn tư liệu tham khảo rất hữu ích cho bản thân trong
quá trình thực hiện luận văn này.
Các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập đến làng nghề
truyền thống nói chung đối với các làng nghề truyền thống nông nghiệp ở
nông thôn, các vấn đề được phân tích chủ yếu về văn hoá làng nghề, chưa tập
trung phân tích các giải pháp thực hiện chính sách đối với làng nghề truyền
thống việc thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống còn mờ nhạt.
Đặc biệt, đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu đầy đủ, có hệ
thống về chính sách phát triển làng nghề đá mỹ nghệ truyền thống tại quận Ngũ
Hành Sơn thành phố Đà Nẵng trong quá thực hiện đền bù, giải tỏa trong quá
trình đô thị hóa.Trên cơ sở đó, luận văn tiếp tục nghiên cứu theo hướng
chuyên sâu, cụ thể trên phạm vi làng nghề đá truyền thống quận Ngũ Hành
Sơn nhằm nêu rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
của việc thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ
trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng,
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
phát triển làng nghề truyền thống. Qua đó, phân tích, đánh giá thực trạng
chính sách phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước tại quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền
thống đá mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói
riêng và trên cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Max - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm của Đảng, Nhà nước; dựa trên cơ sở các chính sách đã ban hành để thực
hiện đối với làng nghề truyền thống của nước ta hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của
khoa học xã hội để giải quyết các mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu
đặt ra. Cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý
luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có
và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn
liên quan đến thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống nói
chung và làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước của quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng hiện nay (ở Chương 1).
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh: Dựa vào các
báo cáo chuyên môn của chính quyền địa phương các cấp, các báo cáo
chuyên ngành, các tài liệu liên quan...kết hợp với phương pháp quan sát thực
tế, đánh giá thực tế về hiện trạng phát triển của làng nghề truyền Thống đá
Mỹ nghệ Non Nước ở quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng (ở Chương
II).
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh qua đó để đề xuất các quan
điểm, giải pháp nhằm nâng caohiệu quả thực hiện các chính sách liên quan
đến phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ
Hành Sơn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới (ở Chương III).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách
phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng thời gian tới.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Khái niệm làng nghề truyền thống, đặc điểm và phân loại
1.1.1. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống
Quan điểm thứ nhất, “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền
làm nghề thủ công. Ở đây, các hộ dân trong làng không nhất thiết tất cả các
hộ dân trong làng đều sản xuất hàng thủ công. Mà người thợ thủ công nhiều
trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông, nhưng yêu cầu và đòi hỏi về
chuyên môn, kỹ thuật tay nghề cao tạo nên những sản phẩm độc đáo do
những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng nghề của
mình” [40, tr.10].
Quan điểm thứ hai, “Làng nghề là một nơi quần cư đông người, sinh
hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề
không những là một làng sống chuyên nghề mà là những người cùng nghề
sống hợp quần thể để phát triển tạo ra việc làm lúc nông nhàn. Đực trưng
của các làng nghề Việt nam đó là vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản
sắc dân tộc và nó có những đặc trưng khác biệt của địa phương so với các
địa phương khác” [43, tr.32].
Quan điểm thứ ba, “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông
thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại
trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh
sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về
kinh tế, xã hội và văn hóa” [42, tr.21].
Quan điểm thứ tư, “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần
thống.
Dù nhiều làng nghề thất truyền cùng với thời gian, theo thống kê cho
thấy ở nước ta hiện nay có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, có 1.839
làng nghề đầy đủ các tiêu chí theo quy định của Chính phủ... [44, tr.29].
Được phân loại như sau:
Theo chất liệu tạo ra sản phẩm, thì các làng nghề được chia ra làm 14
nhóm, đó là: Đá mỹ nghệ; Đồ gỗ; Mây tre đan, kể cả các sản phẩm đan lát,
bện thủ công; Cói; Gốm sứ; Sơn mài, khảm trai; Thêu ren, Dệt; Cây cảnh;
Giấy thủ công; Tranh nghệ thuật , hoa các loại bằng vải, lụa, giấy; Trò chơi
dân gian; Sản phẩm kim khí; Chế biến nông sản và thực phẩm [48, tr.49].
Theo nhóm sản phẩm, thì có16 nhóm đó là: Điêu khắc, chạm khắc gỗ;
Thủ công mỹ nghệ; Mây tre đan; Gốm, sứ, pha lê; Dâu tằm; Làm giấy; Làm
trống; Chế biến thực phẩm; Thêu, dệt, lụa; Đánh bắt, chế biến hải sản; Đúc đồng,
chạm bạc; Đóng, sửa chữa tàu thuyền; Sản xuất hàng dân dụng; Hoa, cây cảnh;
Làm chiếu; Sơn mài.
Việc phân làng nghề truyền thống như trên chỉ là theo quy ước, bởi
vì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và cụ thể về phương
pháp phân nhóm làng nghề. Mặc dù được phân nhóm, song các làng nghề
truyền thống hiện nay thường có những đặc điểm chung như sau:
- Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn
bó chặt chẽ với nông nghiệp, các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở
nông thôn sau đó các ngành nghề được tách dần nhưng không rời khỏi nông
thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong
các làng nghề đan xen lẫn nhau. người thợ thủ công trước hết và đồng thời là
người nông dân.
- Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề,
đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ
thuật thủ công là chủ yếu công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công
giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Tất cả đều
mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh
thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
- Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang
tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp. bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt
là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng
tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm
làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm
của các làng nghề. cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị
trường trong nước và một phần cho xuất khẩu.
- Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở
quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và
doanh nghiệp tư nhân.
- Tám là, về phát triển du lịch: Các làng nghề truyền thống có sức hấp
dẫn mới, lạ thu hút du khách đực biệt là du khách quốc tế. Do vậy phát triển
du lịch tại các làng nghề truyền thống là một giải pháp hữu hiệu để phát
triển kinh tế xã hội ở địa phương theo hướng tích cực và bền vững.
- Chín là, các cơ sở sản xuất ở làng nghề là có vốn đầu tư không lớn,
nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh. Kết cấu hạ tầng
làng nghề không đòi hỏi cao như các ngành công nghiệp hiện đại, các khu
công nghiệptập trung. Những nơi không thuận lợi trong việc phát triển công
nghiệp quy mô lớn thì có thể phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn. Việc
quản lý cơ sở làng nghề không phức tạp, phù hợp trình độ của chủ hộ, chủ
doanh nghiệp xuất thân là nông dân.
*****1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của làng nghề truyền thống đá mỹ
nghệ
Trên cơ sở các khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống nêu
Phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống phải lấy hiệu quả
kinh tế xã hội làm thước đo. Trước hết nhằm khôi phục lại sản xuất những
ngành nghề đã bị mai một, phát triển mạnh những ngành nghề đang còn tồn
tại, duy trì và tăng số lượng các ngành nghề tăng số hộ, số lao động trên cơ
sở đó tăng sản lượng, sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu,
về mặt xã hội thì phát triển ngành nghề nhằm tạo thêm nhiều chỗ làm việc
mới, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp trầm trọng ở nông thôn, tạo
điều kiện cho các hộ gia đình và người lao động tăng thu nhập ổn định và cải
thiện đời sống…
Đi đôi với nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế của các
làng nghề là quá trình không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ lao
động thông qua công tác đào tạo kỹ thuật, tay nghề cho người lao động, bồi
dưỡng kiến thức và kinh nghiệm quản lý kinh tế, kiến thức thị trường cho đội
ngũ những người quản lý. Chú trọng nâng cao trình độ dân trí văn hoá cho
lao động và dân cư trong các làng nghề đặc biệt là lớp trẻ, của các hộ gia
đình ngành nghề - đó là lực lượng nòng cốt để duy trì và phát triển các ngành
nghề trong tương lai.
Phát triển các làng nghề nói chung và các làng nghề truyền thống nói
riêng phải đi đôi với chủ trương xây dựng và phát triển nông thôn mới, bảo
tồn và giữ gìn các phong tục tập quán dân gian của dân tộc gắn với việc bảo
vệ môi trường sinh thái. Mỗi ngành nghề, làng nghề đều có những nét riêng
và đặc trưng riêng cần được giữ gìn bảo tồn. Cùng với phát triển kinh tế, chú
ý đến các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường bảo vệ sức khoẻ, đời sống
nhân dân.
1.2.2Vai trò của làng nghề truyền thống
Việt Nam là một đất nước xuất phát từ một nền văn minh lúa nước, với
sự sáng tạo của người nông dân qua bao thế hệ đã sản sinh ra nhiều ngành,
nghề thủ công truyền thống, các ngành nghề truyền thống đã tồn tại, trải qua
tế, về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu
lao động, nhất là nhiều người mất việc làm ở thành phố, khu công nghiệp trở
về làng.
Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cách
triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của từng hộ gia đình. Tất cả mọi
thành viên trong gia đình đều có thể tham gia sản xuất các mặt hàng truyền
thống. Nhờ đó mà những ngành nghề ông cha để lại không bị mai một,
ngược lại ngày càng phát triển đáp ứng đúng nhu cầu thị trường.
-Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc. Do hầu hết các làng nghề
và làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ sự sáng tạo trong
quá trình lao động của người nông dân và các nghệ nhân dân gian nên trong
sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều mang đậm nét về bản sắc văn
hoá của từng địaphương. Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống
gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thống có
tính nghệ thuật cao, trongđó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề.
Bảo tồn và phát triển cáclàngnghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát
huy đội ngũ nghệ nhân có bàn taykhéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá
và thông qua đó bảo tồn những nét độcđáo của bản sắc dân tộc Việt Nam nói
chung và của làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ
Hành Sơn nói riêng trong cộngđồng quốc tế. Ngoài việc tạo sản phẩm, liên
kết trong sản xuất và tiêu thụ hànghoá, nhiều làng nghề đã hình thành việc
liên kết có tính cộng đồng theo từngnhóm làng nghề, duy trì các truyền
thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề. Thông qua việc tạo ra các sản phẩm của
làng nghề, cộngđồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc sống, góp phần
hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hoá ngoại lai, không lành mạnh.
Với vai trò quan trọng của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội,
việc định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề làng nghề truyền thống Đá
Mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong xu thế
- Bố trí sắp xếp, quy hoạch lại các cơ sở sản xuất và kinh doanh của
làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước theo hướng vừa đảm bảo cho việc phát
triển ổn định, vừa không làm ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường sinh thái
cũng như việc tham quan Khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn của các du
khách.
Bảng 2.5.Số lượng quy mô cơ sở sản xuất đávà phương án bố trí vào Khu
sản xuất tập trung
Quy mô cơ sở(S = diện tích)
Cơ sở sản xuất lớn (S>=700m2, có trên 15 lao
động)
Cơ sở sản xuất vừa (S>=300m2 - dưới 700m2,
có từ 10 - 15 lao động)
Cơ sở sản xuất nhỏ (S>=100m2- dưới 300m2,
có từ 07-09 lao động)
Cơ sở sản xuất rất nhỏ (S
Do nhiều cơ sở sản xuất của làng nghề ít có cơ hội tham gia xuất khẩu
trực tiếp mà thường phải qua nhiều khâu trung gian nên không nắm bắt đầy
đủ các yêu cầu về mẫu mã, chất lượng, giá cả để quyết định sản xuất các mặt
hàng phù hợp với thị hiếu của khách hàng. Mặt khác, chính quyền địa
phương cũng chưa có một cơ chế chính sách và hệ thống hỗ trợ để làng nghề
có thể tiếp cận rộng rãi với thị trường trong và ngoài nước.
Vì vậy, trên cơ sở các sản phẩm truyền thống đã được sản xuất và tiêu
thụ ổn định như các tượng thú vật, tượng người, các sản phẩm đồ trang sức
lưu niệm... cần tiếp cận các thị trường mới và nghiên cứu tạo thêm các sản
phẩm phục vụ cho yêu cầu xuất khẩu, cho các đơn đặt hàng và nhu cầu mua
sắm hàng lưu niệm của du khách. Hướng nghiên cứu chủ yếu là cần tập trung
vào các sản phẩm tranh tượng dân gian Việt Nam, các sản phẩm mang tính
chất tín ngưỡng tôn giáo, các tác phẩm của các danh họa trên thế giới... Các
sản phẩm lưu niệm cần nghiên cứu mẫu mã nhỏ gọn và tinh xảo.
2.2.4.3. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng các thợ nghề đá và
ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất của
làng nghề:
Việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho các thợ
nghề đá cần chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, cần kết
hợp với việc nâng cao trình độ tay nghề của các nghệ nhân để họ thực sự là
các "bàn tay vàng" sáng tạo ra nhiều mẫu mã sản phẩm mới. Sự kết hợp giữa
nhiều thế hệ lao động trong làng nghề nhằm mục đích khôi phục và phát triển
làng nghề theo hướng công nghiệp, hiện đại nhưng vẫn duy trì và phát huy
tính truyền thống và vai trò cực kỳ quan trọng của các nghệ nhân. Xây dựng
kế hoạch mở các lớp dạy nghề tại chỗ với phương pháp đào tạo kết hợp cả
việc trang bị những kiến thức lý luận về mỹ thuật điêu khắc (kinh nghiệm tạo
hình, khối...) với kỹ năng thực hành các công đoạn sản xuất qua sự hướng
dẫn của các nghệ nhân truyền nghề. Những học viên đã qua các lớp đào tạo,
Nguyên liệu cho sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng quyết
định sự tồn tại và phát triển của làng nghề. Nguồn nguyên liệu cho sản xuất
của làng nghề hiện nay phụ thuộc nhiều vào khả năng cung ứng của các
khách hàng do đó còn thiếu tính ổn định lâu dài. Cần phải có một tổ chức với
đủ tư cách pháp nhân đứng ra để thực hiện việc ký kết hợp đồng khai thác và
cung ứng đá nguyên liệu phục vụ cho yêu cầu sản xuất ổn định của cả làng
nghề.
Để làm tốt công tác sắp xếp quy hoạch, mở rộng năng lực sản xuất,
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và khai thác du lịch cần
phải có nguồn vốn lớn trong khi vốn của các cơ sở sản xuất có hạn. Giải
quyết vấn đề này, Nhà nước và chính quyền địa phương cần hỗ trợ giải quyết
những khó khăn về vốn cho làng nghề theo hai hướng:
Thứ nhất là, ưu tiên đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng trong
toàn bộ Khu làng nghề đá theo theo quy hoạch đã được duyệt với phương
châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
Thứ hai là, áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi cho các hộ sản xuất vay
vốn (nhất là đối với các hộ sản xuất có quy mô nhỏ và trung bình) để đầu tư
trang bị máy móc, công nghệ sản xuất mới tiến bộ, hiện đại nhằm nâng cao
năng lực và quy mô sản xuất cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm làng
nghề.
2.24.5 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá:
Việc tuyên truyền quảng bá cần thực hiện kết hợp đối với làng nghề
điêu khắc đá và cho cả Khu di tích danh thắng Ngũ hành Sơn, bởi mối quan