tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020 của tỉnh vĩnh phúc - Pdf 24

I.MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn là vấn đề được quan tâm, điều
đó không chỉ bởi nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng, là lực lượng sản
xuất chính và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, mà chính nông nghiệp, nông dân
Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước. Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho
tăng trưởng kinh tế và là nhân tó quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
của đất nước.
Đến nay sau nhiều năm đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện. Nhờ sự
quan tâm của Nhà nước thể hiện qua các chủ trương, chính sách đúng đắn, trong những năm
đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có những phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu.
Tiêu biểu cho những chủ trương đúng đắn đó là Nghị quyết số 26-NQ/TW, hội nghị
lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Vì
vậy chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu tình hình thực hiện Chính sách Phát
triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng
đến năm 2020 của tỉnh Vĩnh Phúc” theo Nghị quyết số 03- NQ/TU ngày 27/12/2006 của
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa XIV) dựa trên Nghị quyết số 26-NQ/TW.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu tình hình thực hiện Chính sách Phát triển nghiệp,nông
thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020
của tỉnh Vĩnh Phúc.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Tìm hiểu việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại
tỉnh Vĩnh Phúc
+ Kết quả của chính sách mang lại
+ Tìm ra những hạn chế còn tồn tại
+ Đưa ra đề xuất hoàn thiện chính sách
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nông nghiệp, nông thôn, nông dân và các cấp ban ngành của
tỉnh Vĩnh Phúc

b. Một số quan điểm liên quan đến chính sách
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng;
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và
nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với
xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản;
phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông
dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều
kiện của từng vùng, từng lĩnh vực; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh
tế quốc tế; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành
tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực,
nâng cao dân trí nông dân.
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường
vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời
sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Hệ thống các văn bản, chính sách liên quan đến chính sách nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về việc ban hành chương trình hành động của chính phủ
thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn
- Quyết định số 3979/QĐ-BNN-KH về việc ban hành chương trình hành động của Bộ nông

thành viên tích cực của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án
đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ.
3. Tình hình thực hiện chính sách
a. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT xuất bản
hàng nghìn tài liệu tuyên truyền về NQ03/TU, thông tin cập nhật các chủ trương của tỉnh và
kết quả thực hiện Nghị quyết. Báo Vĩnh phúc, Đài PTTH tỉnh, Bản tin sinh hoạt chi bộ,
Cổng thông tin điện tử, Website NN&PTNT Vĩnh Phúc,… đều có các chuyên trang, chuyên
mục thường xuyên cập nhật, đăng tải nội dung và tình hình thực hiện NQ26/TW, NQ03/TU,
các nghị quyết của HĐND tỉnh, quyết định cụ thể hóa của UBND tỉnh và văn bản chỉ đạo,
hướng dẫn thực hiện của các cấp, ngành liên quan.
Các cấp hội nông dân trong tỉnh đã đổi mới, nâng cao chất lượng các bản tin và phối hợp
với các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền của Hội, trong đó có nội dung của Nghị quyết số 03-NQ/TW.
Các cấp Hội đã tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức cho cán bộ, hội viên,
nông dân thực hiện Cuộc vận động ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”; tích cực phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn
trật tự, an ninh trên địa bàn nông thôn và thực hiện 3 chương trình vệ sinh tại hộ, chỉnh
trang đường làng, ngõ xóm, khơi thông cống thoát nước, trồng cây xanh tạo cảnh quan, thực
hiện khẩu hiệu ”sạch từ nhà ra ngõ, đẹp từ ngõ ra đồng”
b/ Công tác lập kế hoạch triển khai
Sau khi Nghị quyết được ban hành, Tỉnh ủy đã thành lập, bổ sung, kiện toàn Ban chỉ đạo
( BCĐ) thực hiện NQ03/TU của tỉnh do đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh
làm Trưởng ban; ban hành Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 12-7-2007 về nghiên cứu, quán
triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện NQ03/TU. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số
2462/KH-UBND ngày 13-7-2007 về tổ chức thực hiện Nghị quyết; Quy chế hoạt động của
BCĐ, thành lập Tổ công tác, giúp việc BCĐ thực hiện NQ03/TU.
Thực hiện NQ26/TW, Tỉnh ủy đã có chương trình hành động số 44-CCr/TU ngày 29-9-
2008 và Quyết định số 1018-QĐ-TU ngày 18-12-2008 về kiện toàn BCĐ thực hiện Nghị

- Thành lập các sở, ban, ngành của tỉnh, các huyện, thành, thị ủy trực thuộc Ủy ban Mặt
trận tổ quốc và các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở
• Cấp tỉnh
Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình MTQG do đồng chí chủ tịch UBND tỉnh làm
Trưởng ban. Phó trưởng ban: phó chủ tịch UBMTTQ tỉnh và Giám đốc Sở Nông nghiệp &
PTNT (Phó trưởng ban thường trực); thành viên là lãnh đạo các sở, ngành, tổ chức đoàn thể
liên quan; sở Nông nghiệp & PTNT là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Chương
trình (Viết tắt là BCĐ Chương trình).
Trách nhiệm các ngành:
Các sở, ban, ngành căn cứ chức năng nhiệm vụ, phối hợp với các ngành, địa phương: Xây
dựng kế hoạch, cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh; hướng dẫn xây dựng các đề án, dự án
để thực hiện các nội dung của Chương trình; đôn đốc, kiểm tra công tác chỉ đạo, tổ chức
thực hiện ở cấp huyện, xã. Trong đó:
- Sở Xây dựng hướng dẫn thực hiện các nội dung về: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế -
xã hội - môi trường; quy hoạch phát triển các khu dân cư trên địa bàn xã; hướng dẫn chỉnh
trang nhà cửa và công trình sinh hoạt của các hộ gia đình.
- Sở Nông nghiệp & PTNT:
+ Chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương hướng dẫn thực hiện
nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn;
+ Chủ trì hướng dẫn thực hiện nội dung: Xây dựng, duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp các công
trình thủy lợi và kiên cố hoá hệ thống kênh mương;
+ Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan hướng dẫn thực hiện nội dung: Tăng mức thu
nhập bình quân đầu người trong nông thôn;
+ Chủ trì, phối hợp với Liên minh HTX và các sở, ban, ngành liên quan hướng dẫn thực
hiện nội dung: Củng cố và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn;
- Sở Lao động, thương binh và Xã hội: Chủ trì, phối hợp với các sở Công thương, Giáo dục
& Đào tạo, các ngành liên quan hướng dẫn thực hiện các nội dung: Nâng cao tỷ lệ lao động
nông thôn qua đào tạo, giải quyết việc làm; giảm tỷ lệ hộ nghèo trong nông thôn.
- Sở Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện nội dung: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống

tin về các mô hình, điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm về xây dựng nông thôn,
phát triển nông nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến và nhân rộng;
+ Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở khu
dân cư; bổ sung các nội dung mới phù hợp với nghị quyết
- Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, các sở, ngành liên quan tổng
hợp, cân đối, lồng ghép và phân bổ vốn cho thực hiện Chương trình theo qui định, xây dựng
cơ chế, chính sách quản lý vốn thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh;
- Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Nông nghiệp & PTNT xác
định vốn ngân sách đối với từng nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, địa phương triển khai
thực hiện Chương trình theo quy định, chịu trách nhiệm hướng dẫn cơ chế tài chính phù hợp
với các đề án, dự án của Chương trình; giám sát chi tiêu; tổng hợp, quyết toán kinh phí thực
hiện Chương trình;
- Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chính sách tín dụng của hệ thống
ngân hàng phục vụ các doanh nghiệp, chủ trang trại, hộ nông dân vay vốn để thực hiện các
nội dung của nghi quyết
- Cục Thống kê tỉnh cập nhật, tổng hợp, phân tích, cung cấp số liệu về khu vực nông thôn
cho BCĐ tỉnh kịp thời chỉ đạo thực hiện Chương trình.
• Cấp huyện
Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình MTQG (gọi tắt là BCĐ huyện) do Chủ tịch
UBND huyện làm trưởng ban. Phó trưởng ban: Chủ tịch UB MTTQ huyện và 01 phó chủ
tịch UBND huyện (Thường trực). Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban và đoàn thể liên
quan. Phòng Nông nghiệp & PTNT (hoặc P. Kinh tế) là cơ quan thường trực giúp BCĐ
huyện điều phối thực hiện Chương trình.
BCĐ huyện có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện:
- Hướng dẫn, chỉ đạo các xã rà soát, đánh giá thực trạng nông thôn; tổng hợp báo cáo BCĐ
tỉnh;
- Hướng dẫn, chỉ đạo các xã lập quy hoạch và đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn; giúp
UBND huyện tổ chức thẩm định và phê duyệt quy hoạch, đề án của UBND xã;
- Xây dựng kế hoạch, tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn trên địa bàn báo cáo BCĐ tỉnh;

công cộng, xử lý rác thải;
- Tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao, chống hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hoá
trong thôn và tham gia phong trào thi đua do xã phát động;
- Tham gia các hoạt động hỗ trợ hộ nghèo, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, tăng thu nhập,
giảm nghèo;
- Tổ chức giám sát cộng đồng các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn thôn. Thành lập
các nhóm tự quản, khai thác, vận hành và duy tu, bảo dưỡng các công trình sau khi nghiệm
thu bàn giao;
- Đảm bảo an ninh, trật tự thôn xóm, xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước, nội quy
phát triển thôn, bản.
BCĐ các cấp xây dựng quy chế hoạt động, do UBND cùng cấp ra quyết định ban hành để tổ
chức thực hiện Chương trình đạt hiệu quả cao.
d/ Huy động nguồn lực
- Lồng ghép nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ
trợ có mục tiêu trên địa bàn;
- Huy động nguồn lực của địa phương (huyện, xã) theo phân cấp Ngân sách.
- Vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có thu tiền sử dụng đất trên
địa bàn xã (sau khi đã trừ chi phí) để lại cho ngân sách xã theo quy định của tỉnh để thực
hiện các nội dung xây dựng NTM;
- Thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực
tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc của tỉnh
được ngân sách Nhà nước hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của
pháp luật;
- Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân: Tuyên truyền vận động để
mọi người đều biết, thống nhất đóng góp cho thực hiện Chương trình theo từng dự án cụ
thể, tạo ra phong trào xã hội hoá mạnh mẽ trong quá trình xây dựng nông thôn mới;
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước cho các dự án đầu tư;
- Khuyến khích nhân dân vay và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng để đầu tư cho
phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; cải tạo, chỉnh trang nhà ở và 3 công trình sinh hoạt

trong sản xuất, kinh doanh, xây dựng các khu sản xuất hàng hoá tập trung, khu nông nghiệp
công nghệ cao. Tạo điều kiện cho nông dân có nhu cầu phát triển sản xuất được thuê đất.
Thực hiện tốt chủ trương cấp đất dịch vụ cho hộ gia đình dành đất để phát triển công
nghiệp, du lịch và đô thị và chính sách đền bù đất cho nông dân. Khuyến khích nông dân
góp cổ phần vào các doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất; tăng cường mối quan hệ
giữa doanh nghiệp và người lao động.
• Về khoa học-công nghệ và khuyến nông:
Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến vào sản xuất, trọng tâm
là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Có chính sách thu hút các nhà khoa học trong
hợp tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Tăng dần hàm lượng khoa học-công nghệ
trong giá trị nông sản. Từng bước thực hiện cơ khí hoá và ứng dụng công nghệ cao trong
sản xuất nông nghiệp.
Tăng mức đầu tư cho công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, nhất là vùng núi,
khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số.
• Về đào tạo ngành nghề:
Khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh nông thôn vào học tại các trường đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề.
Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn. Trong đào tạo,
chú ý các ngành, nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo
đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, làng
nghề và cho xuất khẩu lao động.
Mở các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức tại chỗ cho nông dân về luật pháp, chủ trương,
cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về nông nghiệp, nông thôn, nông dân;
kỹ thuật sản xuất cây trồng, vật nuôi; ngành nghề ở nông thôn; thương mại, dịch vụ cho sản
xuất, đời sống; bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; lao động, việc làm; kỹ
năng quản lý kinh tế hộ, trang trại
Xây dựng điểm tư vấn cho nông dân ở cấp xã.
Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ quản lý nông nghiệp, nông thôn, nhất là cán bộ quản lý
chính quyền cơ sở, các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã.
• Về giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động:

Củng cố tổ chức, mạng lưới y tế cơ sở, hoàn thiện và nâng cao các dịch vụ y tế phục vụ
chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục-đào tạo. Chú trọng mở rộng qui mô và nâng cao chất
lượng dạy nghề. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển quĩ khuyến học ở nông thôn.
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo
môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế
• Về tổ chức và bộ máy
Tạo sự chuyển biến toàn diện, sâu sắc về nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn, bảo đảm vai
trò nền tảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo toàn diện kinh tế-xã hội, chính trị, an ninh,
quốc phòng
Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của ngành
nông nghiệp và phát triển nông thôn.
5. Kết quả thực hiện chính sách
a. Về nông nghiệp
Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP nông- lâm- nghiệp- thủy sản tăng 5,7%
năm, vượt so mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XIV đề ra (5-5,5%/ năm). Kinh tế nông nghiệp
chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực, tỷ trọng trồng trọt giảm, tỷ trọng chăn nuôi- thủy
sản tăng, chăn nuôi đã thực sự trở thành ngành sản xuất chính.
Năm 2005: Trồng trọt 55,97%, chăn nuôi 39,07%, tỷ trọng chăn nuôi- thủy sản chiếm
42,12% trong tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp- thủy sản; Năm 2010: trồng trọt giảm
cón 46,32%, chăn nuôi đạt 49,98%, tỷ trọng chăn nuôi thủy sản chiểm 52,05% trong tổng
giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản; năm 2011: trồng trọt giảm còn 41,98%, chăn nuôi
đạt 53,46%, tỷ trọng chăn nuôi thủy sản chiểm 55,03% trong tổng giá trị sản xuất nông lâm
nghiệp thủy sản.
Giá trị sản xuất (GTSX) nông- lâm nghiệp- thủy sản bình quân 5 năm ( 2006-2010) tăng
7,75%/năm (vượt mục tiêu đề ra là 5,5%/năm). Theo giá so sánh năm 1994, GTSX nông-
lâm nghiệp- thủy sản năm 2005 đạt 1.815,7 tỷ đồng; năm 2006 đạt 1.883,7 tỷ đồng; năm
2011 đạt 2.604,5 tỷ đồng, đạt 94,5% kế hoạch, tăng 2,4% so với năm 2010.

qua, tỉnh ta đã phát triển mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm theo hướng công nghiệp trong hầu
hết các trang trại chăn nuôi.
Số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm đều tăng nhanh, nhất là đàn gà, đàn lợn
ngoại, đã khẳng định hướng chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh là hoàn toàn đúng đắn, được
nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia. Năng suất, chất lượng chăn nuôi, sản lượng
thịt hơi của tỉnh tăng nhanh, đến năm 2010 sản xuất thịt hơi bình quân của tỉnh đạt 85kg/
đầu người (bình quân cả nước 46 kg/người).
Đến năm 2010 đàn trâu có 26.962 con, đàn bò có 138.697 con. Chăn nuôi bò sữa đã trở
thành nghề mới tạo việc làm cho hàng nghìn lao động và đem lại thu nhập cao cho hộ chăn
nuôi, nhiều gia đình đã trở lên giàu có nhờ chăn nuôi bò sữa.
Đàn lợn tăng nhanh về số lượng và chất lượng, năm 2010 tổng đàn đạt gần 550 nghìn
con.
Đàn gia cầm, năm 2010 đạt 7,3 triệu con, sản lượng thịt gia cầm đạt 29,2 nghìn tấn, sản
lượng trứng trên 220,3 triệu quả.
Theo điều tra khảo sát của Sở Nông nghiệp & PTNT đến tháng 12/2010, trên địa bàn tỉnh
có gần 110 nghìn hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chăn nuôi trang trại, gia trại đã hình thành
và tập trung theo vùng như khu Đồi Mé cà Thanh Vân ( Tam Dương) tập trung 22 hộ chăn
nuôi gà đẻ trứng thương phẩm với tổng đàn có mặt thường xuyên đạt trên 80 nghìn con.
Khu Đồng Vang 1 và Đồng Tâm 1 của xã Kim Lonh ( Tam Dương) có 24 hộ chăn nuôi gà
thịt với công suất 150 nghìn con/lứa. Khu Cầu Trên xã Quang Sơn (Lập Thạch) có 4 hộ
chăn nuôi lợn ngoại với quy mô 200 lợn nái, 3000 lợn thịt,… Các trang trại chăn nuôi quy
mô lớn đã áp dụng công nghệ tiên tiến như: chuồng lồng đối với lợn, chuồng kín chủ động
điều tiết nhiệt độ, máng ăn máng uống tự động đối với nuôi gà đẻ, gà thịt,…
Công tác bảo vệ môi trường và xử lý chất thải trong chăn nuôi đã được quan tâm và
khuyến khích các hộ chăn nuôi thực hiện. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn còn
hiện tượng xả thẳng chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý ra ao hồ hoặc cống rãnh công cộng
gây ô nhiễm môi trường, nhiều nơi ô nhiễm rất nặng.
Công tác vệ sinh, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm được quan tâm và tổ
chức thực hiện giám sát chặt chẽ. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng chống dịch bệnh:
Tiêm phòng định kỳ và bổ sung phòng các bệnh nguy hiểm; Hàng năm tổ chức 02 đợt phun

góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực có rừng và ven rừng. Công tác khuyến
lâm đã giúp các chủ rừng và người dân khu vực có rừng nâng cao vai trò, trách nhiệm và ý
thức tự giác bảo vệ rừng. Các trường hợp khai thác lâm sản trái phép được xử lý kịp thời.
Công tác phòng chống cháy rừng được chỉ đạo tích cực nguy cơ cháy rừng được cảnh báo
thường xuyên nên chỉ xảy ra vụ cháy rừng nhỏ, thiệt hại ít.
Những năm qua, bên cạch việc tích cực thực hiện trồng rừng theo Chương trình 661 diện
tích đất lâm nghiệp tiếp tục được khai thác hiệu quả bằng việc đầu tư các dự án phát triển
cây ăn quả, trồng rừng sản xuất,… góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc và tăng thu
nhập cho người trồng rừng. Công tác chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có trên địa bàn
tỉnh được thực hiện tốt. Giai đoạn 2006-2010 toàn tỉnh trồng mới được 8.000 ha rừng,
khoanh nuôi tái sinh hơn 3.000 ha, nâng độ che phủ rừng từ 18% năm 1997 lên 22,55% năm
2010.
Giai đoạn 2006-2010 tỷ trọng lâm nghiệp giảm dần trong cơ cấu giá trị sản xuất nông-
lâm nghiệp- thủy sản, năm 2005 chiếm tỷ trọng 2,05%, đến năm 2010 giảm còn 1,43%. Tốc
độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 1997-2011 bình quân 0,2%/năm. Năm 2005,
giá trị sản xuất lâm nghiệp ( theo giá cố định năm 1994) đạt 37,25 tỷ đồng, năm 2011 đạt
39,1 tỷ đồng.
b.Về phát triển nông thôn
• Về công tác quy hoạch
Trong những năm qua, tỉnh ta đã quan tâm rất lớn đến vấn đề quy hoạch, UBND tỉnh đã
chỉ đạo, đầu tư thỏa đáng cho công tác quy hoạch, cả về nguồn lực và cơ chế chính sách,
nhằm đưa quy hoạch thật sự đóng vai trò định hướng cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội,
đảm bảo an ninh quốc phòng.
Công tác lập quy hoạch được các cấp ngành tích cực triển khai đồng bộ. Đến hết năm
2011 trên toàn tỉnh đã triển khai lập 43 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, trong đó 10 quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội, 18 quy
hoạch ngành, 15 quy hoạch lĩnh vực, tỉnh đã phê duyệt và công bố 9/9 quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội cấp huyện đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phấn đấu hoàn thành
quy hoạch xong tất cả các phân khu trong năm 2012. Đến ngày 10/12/2011 tỉnh ta đã hoàn

dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ phê duyệt. Hoàn thành việc cập nhật, xử lý số liệu
thống kê đất đai 2009 cho 100 xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh đạt 72,9%.
Về việc giao đất dịch vụ, đất ở có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng hạ tầng và giao
đất dịch vụ đến ngày 15/8/2011, tất cả các xã phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã tổng hợp
cơ bản xong tiêu chuẩn đất dịch vụ của các hộ gia đình, cá nhân với diện tích đất dịch vụ
cần phải giải quyết từ 01/01/1997 là 141,08 ha đã trả bằng tiền với diện tích là 23,43 ha, đất
dịch vụ còn tiếp tục phải thực hiện là 117,65 ha.
Đến nay, tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh đạt 73%. Tỷ lệ hộ
gia đình có chuồng trại chăn nuôi, hố tiêu hợp vệ sinh 40%. Có 45% chuồng trại chăn nuôi
được xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường. Đến nay có 53/159 nhà trẻ, mẫu giáo
(33%); 131/371 trường học (35%); 108/137 trạm y tế ( 79%); 72/137 trụ sở UBND xã
(53%); 15/59 chợ (25%) được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn TC 09 và nhà tiêu hợp vệ
sinh theo tiêu chuẩn TC 08.
• Kinh tế trang trại, kinh tế nông hộ, kinh tế hợp tác, các doanh nghiệp nông, lâm
nghiệp, thủy sản
Kinh tế trang trại có bước chuyển biến tích cực cả về chất, từng bước khẳng định xu
hướng phát triển, tạo vùng hàng hóa, quy mô sản xuất lớn góp phần giải quyết việc làm,
tăng của cải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống nông dân. Tính đến 01/7/2011 trên địa
bàn toàn tỉnh có 311 trang trại đủ tiêu chí.
Kinh tế hộ có sự chuyển dịch mạnh và rõ nét, nhờ khai thác tiềm năng lao động, cơ cấu
thu nhập của hộ nông thôn rất đa dạng, ngoài thu từ sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn
có nguồn thu từ dịch vụ, ngành nghề, nhiều hộ có thu nhập khá từ kinh tế nông hộ.
Kinh tế hợp tác: Toàn tỉnh hiện có 232 HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp,
trong đó: 116 HTX dịch vụ nông nghiệp; 95 HTX kinh doanh tổng hợp; 17 HTX chăn nuôi,
thú y; 03 HTX nuôi trồng thủy sản; 01 HTX sản xuất nấm. Số HTX quy mô toàn xã: 80
HTX; 152 HTX quy mô thôn, xóm.
Doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, thủy sản: Tính đến tháng 7/2010, toàn tỉnh có 104
doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, thủy sản vừa và nhỏ kinh doanh trên địa bàn nông thôn.
• Về chương trình khuyến nông và phát triển lang nghề giai đoạn

- UBND tỉnh đã thành lập 7 Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện, 2 phòng Kinh tế thành,
thị; một số đơn vị trực thuộc Sở Nông Nghiệp & PTNT; các cơ quan chuyên môn, sự nghiệp
thuộc UBND huyện Sông Lô.
- Năm 2007 thành lập thị trần Gia Khánh, Thanh Lãng huyện Bính Xuyên và thị trấn Thổ
Tang huyện Vĩnh Tường; Đầu năm 2008 thành lập các thị trấn Chí Đông, Quang Minh
huyện Mê Linh; các thị trấn Hoa Sơn, Tam Sơn huyện Lập Thạch và phường Đồng Xuân thị
xã Phúc Yên; Tháng 8/2008 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mê Linh về thành phố Hà
Nội; Năm 2009 điều chỉnh đại giới hành chính huyện Lập Thạch, thành lập huyện Sông Lô
và thành lập thị trấn Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường.
• Về thực hiện chế độ chính sách người có công với cách mạng
Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng được cả
hệ thống chính trị từ tỉnh đến địa phương đặc biệt quan tâm, tích cực hưởng ứng.
Lập thủ tục hồ sơ xác nhận là liệt sỹ cho 107 người, lập hồ sơ đề nghị tặng thưởng danh
hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hung cho 21 người, lập hồ sơ xác nhận là thương binh cho 300
người, xây tặng 466 nhà tình nghĩa, sửa chữa, nâng cấp 1.548 nhà cho gia đình đối tượng
chính sách.
c.Nâng cao đời sống nông dân
Sau 5 năm thực hiện NQ03/TU của Tỉnh ủy, Nghị quyết đã phát huy tác dụng tích cực,
giúp nông dân vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là lạm phát, suy giảm kinh tế,
thiên tai, dịch bệnh trong những năm gần đây, đảm bảo an sinh xã hội; đời sống vật chất,
tinh thần của đại bộ phận nhân dân được cải thiện,… Để đánh giá khách quan, Ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy đã triển khai điều tra dư luận xã hội về kết quả hơn 3 năm thực hiện NQ03/TU
của Tỉnh ủy, trên 80% ý kiến đánh giá đời sống nông dân tốt hơn so với trước khi có Nghị
quyết.
- Bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, huấn luyện nghề ngắn hạn và cung cấp thông tin cho
nông dân: Mở được 1.910 lớp bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho trên 180 nghìn lượt nông
dân, đạt 100% so với mục tiêu Nghị quyết; tổ chức được 2.539 lớp huấn luyện nghề ngắn
hạn cho 77.171 lượt nông dân với 8 nghề, đạt 101,5% so với mục tiêu Nghị quyết. Thiết lập
được hệ thống thông tin từ tỉnh đến cơ sở; xây dựng 121 điểm cung cấp thông tin cho nông
dân trong tổng số 137 xa, phường, thị trấn.

- Công nghiệp chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề chưa phát triển. Kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn mặc dù đã được tỉnh quan tâm đầu tư nhưng
vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
- Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu; tình trạng thừa lao động thiếu việc
làm khá phổ biến, nữ hóa lao động nông nghiệp, già hóa lao động nông thôn. Giải quyết
việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề cho nhân dân tại các khu vực chuyển mục đích sử dụng
sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ còn nhiều khó khăn.
- Việc đồn điền đồi thửa, tích tụ ruộng đát gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sản xuất còn
manh mún, chưa có vùng sản xuất lớn, hạn chế đưa tiến bộ kỹ thuật và cơ giới hóa vào sản
xuất.
- Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ ở một số nơi
chưa tốt, tệ nạn xã hội ở nông thôn còn phức tạp, an ninh nông thôn còn tiềm ẩn. Đời sống
nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khó khăn, chênh lệch thu nhập giữa nông dân và
các tầng lớp dân cư khác còn cao, chưa được thu hẹp.
- Trong những năm qua tỉnh ta đã quan tâm rất lớn đến vấn đề quy hoạch, nhưng việc
quản lý và thực hiện quy hoạch kết quả còn nhiều hạn chế.
- Đã xuất hiện một số mô hình sản xuất mới như khu CNTT, trang trại, gia trại, vùng
TTSXHH nhưng tổ chức sản xuất còn lung túng và đang dần bị dự án hóa.
- Giải quyến vấn đề nhà ở, đất ở cho khu vực nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, các chế
độ, chính sách liên quan đến đất đai mặc dù tỉnh đã rất quan tâm giải quyết xong vẫn còn
tồn tại.
- Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng tính bền vững chưa cao, sức cạnh tranh của
SXNN còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chênh lệch về phát triển
giữa các vùng, về đời sống, thu nhập giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng, về đời sống,
thu nhập giữa đô thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư có xu hướng gia tăng, môi
trường còn nhiều nơi ô nhiễm. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế,
bất cập, an ninh nông thôn còn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định.
7. Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tiêu cực tới chính sách
Có nhiều cách tiếp cận để nhận diện các nguyên nhân, song nhìn tổng thể và

Đánh giá thật cụ thể các chương trình, dự án, đề án; Những chương trình, dự án hiệu quả
thấp xem xét, có thể tạm dừng.
- Một số Nghị quyết chưa hoàn thành mục tiêu hiện có hiệu quả, đề nghị tiếp tục cho kéo
dài thời gian thực hiện giai đoạn 2012 – 2015 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung lồng ghép với
Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Ban hành thêm một số Nghị quyết HĐND tỉnh để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 03-
NQ/TU của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 26-NQ/TƯ gắn với Chương trình xây dựng nông thôn
mới vào kỳ họp đầu năm 2012.
- Thực hiện công tác thi đua khen thưởng đối với những tập thể, cá nhân đã có thành tích
xuất sắc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh ủy và nghị
quyết 26-NQ/TW của BCH Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kịp thời biểu
dương những gương điển hình tiên tiến trong thời gian qua.
b. Đối với các bộ ngành trung ương
- Đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT: Quan tâm chỉ đạo, tăng cường hơn nữa công tác
đào tạo, nâng cao nghiệp vụ và kinh nghiệm, đồng thời hỗ trợ trang bị, thiết bị cần thiết cho
cán bộ và cơ quan chuyên ngành cảu địa phương làm công tác quản lý Nhà nước về giống,
vật tư phân bón, thức ăn chăn nuôi,…
- Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường: Quan tâm xem xét những tồn tại về vấn đề đất
đai ở địa phương, cơ sở, nhất là sản xuất nông nghiệp, trình Chính phủ, Quốc hội ban hành
văn bản và có chính sách rõ ràng, cụ thể về thời hạn giao đất và hạn mức đất sản xuất nông
nghiệp để cá nhân, tổ chức yên tâm tăng cường đầu tư, tích tụ đất đai, tổ chức sản xuất
thuận lợi, hiệu quả.
- Đề nghị Bộ Công thương, Bộ Tài chính: Sớm ban hành thông tư liên bộ về sử dụng
kinh phí khuyến công từ trung ương đến cơ sở; trình Chính phủ ban hành quy chế quản lý
khu, cụm công nghiệp địa phương và xem xét việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số:
02/2003/NĐ-CP ngày 14-02-2003 về việc phát triển và quản lý chợ cho phù hợp với xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế và Ban hành văn bản hướng dẫn về quy trình chuyển đổi mô hình
kinh doanh chợ truyền thống từ ban quản lý, HTX sang doanh nghiệp quản lý theo các hình
thức (BT, BOT, cổ phần hóa, đấu thầu kinh doanh).
- Đề nghị Bộ Lao động – TB&XH, Bộ Nội vụ: Đề xuất với Chính phủ bố trí định biên

Trên cở sở định hướng của Nhà nước và của tỉnh, Cán bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã
cùng nhau thực hiện chính sách “Tam nông” tại địa phương và rất thành công. Tỉnh đã tự
mình đột phá và thí điểm bằng các cải cách: Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá,
Bồi dưỡng kiến thức và khoan sức dân,…và đặc biệt là Miễn - giảm thuỷ lợi phí - cú hích
đầu tiên trong chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành công đã đạt được thì địa phương vẫn còn bị hạn chế khi tham gia vào cơ chế thị
trường, hội nhập quốc tế, áp dụng khoa học công nghệ kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất nông
nghiệp. Điều này là vấn đề vướng mắc của cả cán bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Tỉnh
cũng đã nhận ra những hạn chế đó và đang tìm cách khắc phục. Hi vọng trong một tương lai
không xa thì quê hương “khoán hộ” sẽ hoàn thiện mình hơn và còn đột phá hơn nữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status