LUẬN văn THẠC sĩ CÔNG tác xây DỰNG tổ CHỨC ĐẢNG cơ sở ở ĐẢNG bộ THỊ xã sơn tây, TỈNH hà tây GIAI đoạn 2001 2008 - Pdf 38

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương
Chính trị - xã hội
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Hệ thống chính trị
Tổ chức cơ sở đảng
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
BCHTƯ
CT-XH
CNXH
CNH, HĐH
HĐND
HTCT
TCCSĐ
UBND
XHCN

1


MỤC LỤC
Trang
3


Kinh nghiệm

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

52
52
67
83
85
91

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tổ chức cơ sở đảng là “gốc rễ” của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với
nhân dân, là nơi thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; nơi thể hiện
quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng - an ninh. Đời sống các mặt của nhân dân lao động có được
nâng lên hay không, hệ thống chính trị cơ sở có thực sự trong sạch vững mạnh
hay không đều tùy thuộc vào việc xây dựng TCCSĐ.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị
chỉ ra những yêu cầu, mục đích và nhiệm vụ, giải pháp xây dựng TCCSĐ, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng. Những năm gần
đây, vấn đề củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ là vấn
đề mang tính cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, như trong Nghị quyết Trung

Từ thực tiễn công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thị xã Sơn Tây
những năm qua đặt ra phải có nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện. Nhằm
làm sáng tỏ những chủ trương và quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện, đánh giá
đúng những ưu điểm, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm về xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ thị xã Sơn Tây. Để vận dụng và nâng cao hơn nữa chất
lượng, hiệu quả xây dựng TCCSĐ trên địa bàn trong thời gian tới. Do vậy, tôi
chọn đề tài “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thị xã Sơn
Tây, tỉnh Hà Tây từ năm 2001 đến năm 2008” làm luận văn thạc sĩ Lịch sử
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những quan điểm, chủ trương, biện pháp để xây dựng Đảng nhằm nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ đã được thể hiện qua các văn kiện
của Đảng. Đã có nhiều cá nhân và tập thể chọn vấn đề xây dựng TCCSĐ để làm đề
tài nghiên cứu khoa học, khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có nhiều đề
tài cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết…được nghiên cứu dưới góc độ
Xây dựng Đảng; Lịch sử Đảng; Chính trị học.
* Nhóm công trình khoa học nghiên cứu chung về công tác xây dựng
Đảng trong đó có công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
Về xây dựng Đảng, (1978) của tác giả Lê Duẩn, Nhà xuất bản Sự thật,
Hà Nội; Nâng cao phẩm chất cộng sản của người đảng viên, (1985) của tác
giả Chu Huy Mân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Về xây dựng Đảng,
(1994) của tác giả Đỗ Mười, Nxb CTQG, Hà Nội; Công tác xây dựng Đảng
4


trong giai đoạn hiện nay, (1995), của tác giả Nhiệm Khắc Lễ, Nxb CTQG,
Hà Nội; Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở
nông thôn và đường phố, của nhóm tác giả do Lưu Minh Trí (Chủ biên), Nxb
Hà Nội,(1995); “Về xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh”,
của tác giả Lê Quang Thưởng, Tạp chí Cộng sản (số 2), (1997); “Một số vấn

Cộng sản (số 5), (2011).
Các công trình trên đã đề cập một cách khái quát, có hệ thống những vấn
đề cơ bản về Đảng cầm quyền, tình hình đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ
đổi mới. Các tác giả đã dành một phần quan trọng luận giải về chất lượng
TCCSĐ. Từ sự phân tích khoa học, nghiêm túc cơ sở lý luận và những vấn đề
thực tiễn về công tác xây dựng Đảng nói chung và các TCCSĐ nói riêng, các tác
giả đã đề xuất phương hướng và một số giải pháp cấp bách để ngày càng hoàn
thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới.
* Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến xây dựng tổ
chức cơ sở đảng ở các địa phương, ban ngành.
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây tập 1 (1926 - 1945), Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Xưởng in Công Đoàn - Hà Nội (3/1992); Luận văn thạc
sĩ Xây dựng Đảng, Chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Sơn La
hiện nay - thực trạng và giải pháp nâng cao, của tác giả Văn Thể (1993);
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây tập 2 (1945 - 1954), Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh Hà Tây, Nhà máy in Tiến Bộ - Hà Nội, (4/1994); Đề tài khoa học cấp Bộ,
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cho các loại hình tổ chức cơ sở
Đảng xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp, của
tác giả Đỗ Ngọc Ninh (1995); Luận văn thạc sĩ Tôn giáo học, Nâng cao chất
lượng tổ chức cơ sở Đảng vùng có đồng bào theo đạo Công giáo ở tỉnh Phú
Thọ hiện nay, của tác giả Phạm Văn Minh (1998); Luận án tiến sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Xây dựng Đảng, Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông
thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Nguyễn Đức Ái (2000);
Luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng, Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các trung đoàn không quân chiến đấu hiện nay,
của tác giả Cao Xuân Thưởng, Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, (2000); Đề
tài KX 98-32 - Tổng cục chính trị, Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác
kiểm tra của tổ chức cở sở đảng trong Đảng bộ Quân đội , của tác giả
Nguyễn Hữu Bảng làm chủ nhiệm đề tài (2000); Luận án tiến sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng, Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ

sở đảng, và đội ngũ đảng viên, đề ra một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
hoạt động góp phần vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước. Các công trình
nghiên cứu kể trên là thành quả lao động, sáng tạo của các cá nhân, tập thể
góp phần thiết thực vào nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ hiện nay.

7


Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học có liên quan đã được công
bố những năm trước, trong và sau thời kỳ đổi mới ở Việt Nam và tỉnh Hà Tây, có
thể thấy các công trình khoa học thuộc nhiều thể loại khác nhau, tập trung nghiên
cứu về xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của một số loại
hình TCCSĐ, về công tác kiểm tra, công tác cán bộ, công tác phát triển Đảng...
Cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về TCCSĐ nhưng hầu hết lại tiếp cận vấn
đề dưới góc độ khoa học Chính trị và Xây dựng Đảng. Sau khi nghiên cứu tôi đã kế
thừa những vấn đề mang tính lý luận chung về xây dựng TCCSĐ của các công
trình khoa học đó. Đồng thời, biết được vấn đề xây dựng Đảng và xây dựng
TCCSĐ đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và của
các tổ chức đảng. Các công trình nói trên được các tác giả sử dụng các phương
pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic và một số các
phương pháp khác như: điều tra xã hội học, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh,
phương pháp chuyên gia để nghiên cứu, luận giải các vấn đề nêu trên và phản ánh
chúng ở những mức độ, khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về: Công tác xây dựng tổ chức cơ
sở đảng của Đảng bộ thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây từ năm 2001 đến năm 2008.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà
Tây từ năm 2001 đến năm 2008. Qua đó nhận xét và đúc kết kinh nghiệm để

6. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Sơn Tây, tỉnh
Hà Tây về xây dựng TCCSĐ trong những năm 2001- 2008.
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào tiếp tục xây dựng TCCSĐ ở
thị xã Sơn Tây trong những năm tới; đồng thời bổ sung vào Lịch sử Đảng bộ thị
xã Sơn Tây thêm đầy đủ, phong phú.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng ở thị xã Sơn Tây nói riêng và trong
các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội nói chung.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương, (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục
9


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY (2001 - 2008)

1.1. Những yếu tố tác động tới công tác xây dựng tổ chức cơ sở
đảng của Đảng bộ thị xã Sơn Tây
1.1.1. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng tổ
chức cơ sở đảng
V.I.Lênin là người kế tục sự nghiệp cách mạng của C.Mác và
Ph.Ăngghen phát triển sáng tạo những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen
về Đảng, xây dựng nên học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.
Một trong những nội dung quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
đối với công tác xây dựng Đảng đó là công tác xây dựng TCCSĐ luôn bảo
đảm vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. V.I.Lênin khẳng định:
Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải

Hồ Chí Minh rất coi trọng và luôn khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan
trọng đặc biệt của TCCSĐ, Người chỉ rõ: TCCSĐ là nơi nắm vững và bảo
đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Làm tốt công tác xây dựng TCCSĐ là một yếu tố quan trọng để
Đảng vững mạnh. Hạt nhân của TCCSĐ là chi bộ, nơi quán triệt và bàn các
biện pháp chấp hành triệt để các Nghị quyết của Đảng; nơi đấu tranh về quan
điểm và rèn luyện đảng viên; nơi vận động quần chúng thực hiện tốt chính
sách của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong xây
dựng các TCCSĐ, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt về xây dựng TCCSĐ
ở địa phương. Với tính đặc thù xã hội Việt Nam với hơn 90% là nông dân, vì
vậy, quan tâm xây dựng các TCCSĐ ở địa phương trong sạch vững mạnh, đủ
sức lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng có vị trí, vai trò quan
trọng đặc biệt. Khi nói đến vai trò của TCCSĐ ở địa phương, ở nông thôn, Hồ
Chí Minh cho đó là gốc rễ của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở
địa phương; bảo đảm mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ
luôn được thực hiện tốt. Hồ Chí Minh cho rằng: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở
nông thôn. Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách của Đảng và Chính phủ nhất
định thi hành được tốt” [41, tr.115]. “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt
nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở. Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ quan
lãnh đạo vững chắc ở địa phương theo đúng đường lối, chính sách của Trung
11


ương” [41, tr. 212]. Vì TCCSĐ ở địa phương có vị trí, vai trò quan trọng, cho
nên muốn thực hiện tốt kế hoạch của Đảng, thì phải chăm lo củng cố không
ngừng. Phải xây dựng các TCCSĐ ở địa phương luôn đoàn kết, thống nhất;
xây dựng địa phương đoàn kết, nhất trí cao; đồng thời các TCCSĐ và địa
phương cũng phải luôn đoàn kết, nhất trí thì mọi công việc ở địa phương dù
khó khăn đến mấy cũng có thể làm được. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chi bộ phải tăng cường hơn nữa việc đoàn kết nông thôn ... Phải đi đúng

Trong công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế hiện nay do
Đảng lãnh đạo đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng của các TCCSĐ.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng, (khoá VI) khẳng
định: “Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, các tổ chức
cơ sở đảng đóng vai trò hết sức quan trọng… Các tổ chức cơ sở đảng phải
thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động” [20, tr. 76].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng cũng chỉ rõ yêu cầu
xây dựng, củng cố TCCSĐ: “Tất cả các Đảng bộ, chi bộ ở cơ sở đều nắm
vững và thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị... Cấp uỷ cấp
trên tập trung chỉ đạo củng cố các Đảng bộ, chi bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn
cấp uỷ và tăng cường cán bộ ở những nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn
kết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ” [15, tr. 48].
Quán triệt những quan điểm về xây dựng các TCCSĐ vào thực tiễn
xây dựng Đảng; nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng TCCSĐ;
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của BCH Trung ương Đảng, (khóa IX) đã ra
Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính
trị ở cơ sở. Vận dụng Nghị quyết 17- NQ/TƯ của BCH Trung ương Đảng,
(khóa IX). Đảng bộ thị xã Sơn Tây nhận định, đánh giá các TCCSĐ trong
Đảng bộ Thị xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của
cộng đồng dân cư. Vì vậy, để nâng cao nhận thức và làm đúng vai trò hạt
nhân chính trị, Đảng bộ thị xã Sơn Tây khẳng định: “Đảng bộ, chi bộ cơ sở là
hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, cần nắm vững nhiệm vụ
phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng
chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân” [8, tr. 14]. Phát huy được
vai trò của mọi tổ chức, các đoàn thể trong hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt
13


suối, hồ, đầm tương đối nhiều, vừa là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông
14


nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân vừa là nơi nuôi trồng thủy sản và phát triển du
lịch như hồ Đồng Mô, hồ Xuân Khanh, hồ Đầm Dương [66, tr. 212].
Thị xã Sơn Tây tiếp giáp với 4 huyện. Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Tường
(tỉnh Vĩnh Phúc), phía Đông giáp huyện Phúc Thọ, phía Nam giáp huyện Thạch
Thất, phía Tây giáp huyện Ba Vì. Sơn Tây có các tuyến đường giao thông quan
trọng chạy qua như: Quốc lộ 21A (Đường Hồ Chí Minh), Quốc lộ 32 nối liền
Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, tỉnh lộ 87A nối liền tỉnh Phú Thọ - Hòa
Bình… Diện tích Sơn Tây khoảng 113,46 km² (11.346,85 ha), dân số: khoảng
181.381 nhân khẩu (theo thống kê năm 2008). Thị xã Sơn Tây hiện có 15 đơn vị
hành chính trực thuộc, gồm 9 phường: Lê Lợi, Quang Trung, Phú Thịnh, Ngô
Quyền, Sơn Lộc, Xuân Khanh, Trung Hưng, Viên Sơn, Trung Sơn Trầm; và 6
xã: Đường Lâm, Thanh Mỹ, Xuân Sơn, Kim Sơn, Sơn Đông, Cổ Đông.
Thị xã Sơn Tây nằm ở khu vực phía Bắc của tỉnh Hà Tây được Trung
ương định hướng về phát triển kinh tế - xã hội, là trung tâm phía Tây thủ đô
Hà Nội. Trong tương lai sẽ mở ra những triển vọng phát triển mới như: Khu
công nghiệp cơ khí, chế biến, sản xuất vật liệu và công nghiệp điện tử; Làng
văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam; Khu trung tâm Đại học quốc gia;
Khu an dưỡng, nghỉ ngơi, sân gôn quốc tế; Khu xây dựng các xí nghiệp quốc
phòng, các trường sỹ quan quân đội theo mô hình hiện đại hóa… là những thuận
lợi lớn, là thời cơ để thị xã Sơn Tây khai thác tiềm năng, giải quyết việc làm, tạo
sự phát triển về mọi mặt. Một trong những khu vực phát triển trọng điểm trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với các công trình tiêu biểu
như: các khu du lịch Đồng Mô, làng cổ Đường Lâm, Đền Và, thành cổ Sơn
Tây… do đó, thị xã Sơn Tây có rất nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế,
văn hóa - xã hội, nhất là phát triển văn hóa du lịch, du lịch tâm linh.
Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây

Về giáo dục và y tế: Chất lượng giáo dục và đào tạo của thị xã Sơn Tây
luôn được nâng cao với 98% giáo viên các cấp học đạt chuẩn và trên chuẩn. Số
học sinh giỏi và học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng hàng năm đạt 30 - 40%.
Chất lượng đội ngũ cán bộ y tế của thị xã Sơn Tây được từng bước
nâng cao, cơ sở vật chất tuyến cơ sở từng bước được đầu tư hiện đại. Công tác
y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân được chăm lo chu đáo.
Danh lam thắng cảnh và du lịch: Thị xã Sơn Tây có nhiều danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử - văn hóa tâm linh nổi tiếng như Thành cổ Sơn Tây, Đền thờ
Phùng Hưng, Lăng Ngô Quyền, Đền thờ Thám hoa Giang Văn Minh, Chùa Mía,
16


Chùa Cúc, Lễ hội Đền Và, làng Việt cổ đá ong Đường Lâm là những di tích lịch
sử được xếp hạng cấp quốc gia); sân Gôn quốc tế hồ Đồng Mô, Làng văn hóa các
dân tộc Việt Nam…
Thị xã Sơn Tây đã và đang được khai thác hiệu quả, thu hút được đông
lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với các điểm du lịch nổi tiếng như:
khu du lịch Hồ Đồng Mô, Làng cổ Đường Lâm, Thành cổ Sơn Tây, Đền Và, Làng
Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam… [73, tr.12-13].
Đặc điểm tình hình những vấn đề xã hội của thị xã Sơn Tây
Thị xã Sơn Tây có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời với những nét
văn hóa độc đáo của con người vùng đất xứ Đoài. Là nơi sinh ra hai vị Vua là
Ngô Quyền và Phùng Hưng nổi tiếng trong lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta. Nét văn hóa độc đáo của vùng đất xứ Đoài tiếp tục được duy
trì và phát huy cho đến ngày nay, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn
được lưu truyền, tôn tạo và phát triển. Trong công cuộc đổi mới đất nước,
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, Tình hình văn hóa - xã hội ở thị xã
Sơn Tây luôn được các cấp ủy Đảng chú trọng và tiếp tục phát triển. Đời sống
nhân dân ổn định từng bước và ngày một được nâng lên. Trên địa bàn Thị xã
rộng dân cư phân bố không đều, đan xen giữa các phường và xã, trong phường

ương Đảng, Nghị quyết số 10 NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây.
Sau khi tái lập, toàn thị xã có 15 đơn vị hành chính, bao gồm 9 phường, 6 xã, với
75 TCCSĐ và hơn 5.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.
Từ đặc điểm của các TCCSĐ ở xã, phường, thôn xóm, khu phố, cụm
dân cư và trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các đơn vị hành chính
sự nghiệp với số lượng đảng viên đông, phần lớn là đảng viên đã nghỉ hưu,
đảng viên là nông dân, công nhân, viên chức. Trình độ đảng viên không đồng
đều về nhận thức, năng lực lãnh đạo. Đảng viên mới kết nạp phần lớn còn trẻ,
có trình độ kiến thức, có lòng nhiệt tình trách nhiệm, gương mẫu. Tuy nhiên,
kinh nghiệm, năng lực lãnh đạo còn nhiều hạn chế, một số xuất thân từ nông
dân nên chịu ảnh hưởng tác phong manh mún, mang nặng tư tưởng cá nhân
cục bộ địa phương, tác động đến quá trình lãnh đạo của TCCSĐ. Số đảng viên
nghỉ hưu phần lớn có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, tiếp tục có nhiều
cống hiến, tham mưu cho công tác lãnh đạo ở địa phương; một số ít chưa thực
sự gương mẫu trong sinh hoạt, chưa thực sự là tấm gương trong thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
những quy định của địa phương. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở xã, phường, thôn
18


xóm, khu phố, cụm dân cư chủ yếu là do nhân dân bầu lên nên trình độ, năng lực
lãnh đạo còn hạn chế cũng tác động không nhỏ tới công tác xây dựng TCCSĐ.
Từ những đặc điểm trên, cùng với những thuận lợi và khó khăn đã tác động tới
công tác xây dựng TCCSĐ của thị xã Sơn Tây trước năm 2001.
Ưu điểm:
Về công tác chính trị, tư tưởng: Trước những biến động của tình hình
thế giới, khu vực và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện sự
nghiệp đổi mới, các cấp ủy Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư
tưởng, chú trọng tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo
đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường công tác thông tin, bồi

đảm nhiệm được yêu cầu nhiệm vụ mới trong điều kiện phải xắp xếp bộ máy
gọn nhẹ. Thực hiện đúng chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
công tác cán bộ, sắp xếp bố trí ổn định tổ chức một số công ty, xí nghiệp,
phòng, ban cho phù hợp với nhiệm vụ mới. Chỉ đạo các xã, phường thực hiện
nghị định 46/CP. Công tác cán bộ được thực hiện theo đúng quy định của
Trung ương Đảng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc bố trí, sử
dụng, phân công, điều động.
Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên được quan tâm thường xuyên trong
việc giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên. Công tác phát triển đảng viên được
Đảng bộ đặc biệt chú trọng; đã tăng cường công tác tạo nguồn bồi dưỡng quần
chúng ưu tú kết nạp vào Đảng bảo đảm cả số và chất lượng. Từ năm 1996 đến năm
2000, toàn Đảng bộ đã kết nạp được 528 Đảng viên tăng 32%. Trong đó số đảng
viên là Đoàn viên Thanh niên là 174 đồng chí bằng 33%; nữ 245 đồng chí bằng
56,4%; trình độ cao đẳng và đại học 134 đồng chí bằng 25,4%. Riêng các TCCSĐ
xã, phường, khu phố, cụm dân cư mỗi năm kết nạp từ 40 đến 60 đảng viên. Cơ bản
đội ngũ đảng viên mới kết nạp có trình độ học vấn, tuổi trẻ, phát huy được năng lực,
hoàn thành nhiệm vụ [72, tr. 16-17].
Về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng
Thị ủy đã tâp trung vào việc kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ
Đảng, chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Kết hợp tổ
chức kiểm tra theo chuyên đề như: Kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy
chế làm việc của cấp ủy, kiểm tra công tác tài chính của Thị ủy; công tác thu,
nộp và sử dụng đảng phí của cấp ủy cơ sở. Kiểm tra việc thực hiện chỉ thị 15
của Bộ Chính trị về chống tham nhũng. Để giúp cấp ủy Đảng trong chỉ đạo
nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời gian, ủy ban kiểm tra đã phối hợp với các
20


ngành tiến hành kiểm tra công tác quản lý đất đai, việc triển khai nhiệm vụ
phòng chống lụt, bão… của một số cơ sở. Đã kiểm tra 72 lượt cấp ủy cơ sở,



sách của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII,
các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thường
xuyên, trực tiếp là những quan điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy; đồng thời biết vận
dụng vào điều kiện cụ thể thực tiễn của thị xã Sơn Tây.
Hạn chế:
Sự chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và
tổ chức ở một số cấp ủy chưa mạnh, chưa đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện.
Hình thức tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Đảng ở các cấp chậm đổi mới,
hiệu quả chưa cao. Một số chủ trương của thị xã, nhất là về phát triển kinh tế công
nghiệp chưa được tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác tư tưởng chưa chủ động phát hiện kịp thời và tham mưu cho cấp ủy,
chính quyền tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ở cơ sở và trong nhân dân.
Việc quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng các cấp tới cán bộ,
đảng viên và nhân dân có TCCSĐ làm còn mang tính hình thức, chưa chú ý
tới chất lượng và hiệu quả; phương pháp còn đơn điệu, chủ yếu là giới thiệu
tập trung thông qua các buổi học tập quán triệt nghị quyết; chưa sử dụng
nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục. Số đảng viên ở xã, phường, khu phố,
cụm dân cư và trong các doanh nghiệp tham gia học tập nghị quyết của Đảng
mới đạt 80 - 85%. Chất lượng TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh chưa cao,
vẫn còn TCCSĐ yếu kém (trước năm 2001 còn 01 tổ chức đảng ở cấp xã yếu
kém cảnh cáo tập thể Đảng ủy xã Sơn Đông và cách chức 03 đ/c Đảng ủy
viên là cán bộ chủ chốt của xã vi phạm việc quản lý và sử dụng đất đai. Nội
dung, phương thức hoạt động của tổ chức đảng chưa được đổi mới sâu sắc
theo yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo
của một số TCCSĐ còn yếu, vai trò mờ nhạt, nhiều TCCSĐ còn để khiếu kiện
về đất đai kéo dài. Các TCCSĐ tuy có sinh hoạt nhưng nội dung sinh hoạt còn
nghèo nàn, đơn điệu thiếu các biện pháp cụ thể, thiết thực trong tổ chức thực
hiện, việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề còn ít. Tỷ lệ đảng viên sinh hoạt có nơi

nhiệm. Một số trường hợp xử lý sau khi kiểm tra đã có kết luận nhưng còn
thiếu kiên quyết, nể nang hoặc để kéo dài. Tình hình vi phạm và xử lý kỷ luật
còn nhiều: từ năm 1996 đến năm 2000 đã thi hành kỷ luật 01 TCCSĐ xã
(Đảng bộ xã Sơn Đông). Thi hành kỷ luật bằng các hình thức 143 đảng viên
chiếm 2,86% tổng số đảng viên trong các TCCSĐ xã, phường, khu phố, cụm
dân cư, doanh nghiệp.
23


Công tác xây dựng và phát triển đảng viên ở một số TCCSĐ chưa quan
tâm đúng mức. Công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ. Một số đảng viên đã
tham gia khiếu kiện, thậm chí thúc đẩy hoặc theo quần chúng tham gia khiếu kiện
vi phạm 19 điều quy định đảng viên không được làm của Bộ Chính trị.
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm
Sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng từ Thị xã đến cơ sở, trước
hết là Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Thị ủy còn có mặt hạn chế, lãnh đạo
chưa toàn diện. Một số Đảng bộ cơ sở còn vi phạm nguyên tắc tập trung, dân
chủ trong sinh hoạt, buông lỏng vai trò lãnh đạo, giảm xút sức chiến đấu,
chưa thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, Nghị quyết và sự chỉ đạo của cấp trên,
có nơi tình trạng mất đoàn kết kéo dài. Quản lý đảng viên còn lỏng lẻo. Hiệu
lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp và việc thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở còn hạn chế.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là cấp cơ sở xã, phường trình độ văn
hóa, chuyên môn, lý luận nhìn chung còn thấp, chính sách đào tạo, sử dụng và
quản lý cán bộ còn nhiều mặt hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng nguồn
nhân lực trong toàn Thị xã.
Vai trò lãnh đạo của một số TCCSĐ còn yếu, chưa xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ quyền hạn trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm
vụ chính trị. Chưa thực sự là hạt nhân đoàn kết trong Đảng; phương thức
lãnh đạo chậm đổi mới, trình độ năng lực của một số cấp ủy chưa đáp ứng

Đảng về chính trị, tư tưởng được coi trọng; đã quan tâm xây dựng, kiện
toàn củng cố TCCSĐ; công tác phát triển đảng viên được chỉ đạo và đạt
được một số kết quả; công tác cán bộ có một số đổi mới về nội dung và
cách làm; Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương sáu (lần 2), (khóa VIII) đạt được một số kết quả nhất
định; đã quan tâm hơn tới công tác kiểm tra của Đảng. Tuy nhiên, công
tác xây dựng Đảng còn có nhiều yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục:
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế, thiếu sót; nhiều
khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục, nhất
là việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ về chính trị, tư tưởng và đạo
đức lối sống, thực hành dân chủ và chế độ trách nhiệm trong công tác.
Công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các
nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Ðảng. TCCSĐ chưa được quan tâm chỉ
đạo đúng mức. Công tác kiểm tra trong Ðảng còn yếu, chất lượng và hiệu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status