LUẬN văn THẠC sĩ CÔNG tác xây DỰNG tổ CHỨC ĐẢNG cơ sở ở HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH bắc NINH từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Tổ chức cơ sở đảng

TCCSĐ

Trong sạch vững mạnh

TSVM

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

1


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh

37
54
54

2.2.

đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010)
Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ huyện Thuận
Thành lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010)

63
78
81
87

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, trong đó công tác xây dựng
TCCSĐ được coi là một nhiệm vụ thường xuyên, xuyên suốt trong quá trình tồn tại

Đảng đến các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, trong đó có Đảng bộ huyện Thuận Thành.
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở huyện Thuận Thành
trong những năm 2000 - 2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, các
TCCSĐ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, TCCSĐ luôn được củng
cố vững chắc. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xây
dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thuận Thành vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộ
huyện Thuận Thành lãnh đạo xây dựng TCCSĐ nhằm làm sáng tỏ chủ
trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Thuận Thành
trong công tác xây dựng TCCSĐ. Từ đó rút ra những nhận xét và kinh
nghiệm góp thêm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Thuận Thành
trong công tác xây dựng TCCSĐ những giai đoạn tiếp theo là điều cần
thiết, có ý nghĩa. Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Công
tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện Thuận Thành, Bắc
Ninh từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu về xây dựng Đảng, đặc biệt là công tác xây dựng
TCCSĐ đã được nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học, nhiều nhà lý luận chính
trị nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu liên quan
đến đề tài được chia thành các nhóm sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng Đảng và TCCSĐ trong
phạm vi toàn Đảng.
Lê Đức Bình (2002), Mấy vấn đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Cúc và các tác giả (2004), Tổ chức cơ sở
đảng với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; Triệu Quang Tiến và nhiều tác giả (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về

4



5


đến năm 2005, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Trần Thị Thu Hằng (2012), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 1995 đến năm 2005 , Luận án tiến
sĩ, chuyên ngành Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội; Mai Bích Huệ (2013),
Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm
2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội; Nguyễn Đình Hùng (2014), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 2001 đến 2010”,
Luận văn thạc sỹ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội. Nhìn chung,
các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ địa
phương đề ra chủ trương và sự chỉ đạo của mình trên cơ sở vận dụng chủ
trương Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ vào thực tiễn công tác xây dựng
TCCSĐ ở địa phương; qua đó đưa ra nhận xét và đúc rút những kinh nghiệm.
Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng Đảng ở tỉnh Bắc Ninh
và huyện Thuận Thành.
Công tác xây dựng Đảng và TCCSĐ ở Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh được đề cập
trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926 - 2010), Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội. Vấn đề xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và một số huyện
được nghiên cứu chuyên sâu qua đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng của Nguyễn
Văn Cường (2011), Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh từ năm 2000 đến năm 2010; Trần Thị Hiệp (2014), Đảng bộ Huyện Lương
Tài tỉnh Bắc Ninh thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1999
đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội.
Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của Ban chấp hành Đảng bộ
huyện Thuận Thành với việc xuất bản 2 cuốn lịch sử Đảng bộ địa phương
“Lịch sử Đảng bộ Huyện Thuận Thành, Tập I (1928 - 1954)”, Nxb Văn hóa

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thuận Thành về xây dựng TCCSĐ.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Thuận Thành về xây dựng TCCSĐ.

7


- Về thời gian: từ năm 2000 đến năm 2010. Trong quá trình nghiên cứu
tác giả có mở rộng phạm vi đến trước năm 2000 và sau năm 2010.
- Về không gian: huyện Thuận Thành (Bắc Ninh).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp luận sử học mácxít.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam, chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic; đồng
thời sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp
phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia,…
6. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm rõ chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn và quá trình Đảng
bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010.
- Kết quả luận văn góp thêm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Thuận
Thành về công tác xây dựng TCCSĐ trong những năm tiếp theo.
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập, nghiên cứu về công tác
xây dựng Đảng ở địa phương và tỉnh Bắc Ninh.
7. Kết cấu của đề tài

Lâm, Trí Quả, Hà Mãn và thị trấn Hồ.
Địa bàn huyện Thuận Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có khí hậu
ôn hòa, mát mẻ, nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,50C, lượng mưa trung bình
đạt 1100 - 1200 mm/năm, độ ẩm trung bình 82,5%. Địa hình huyện Thuận

9


Thành được bồi đắp từ sông Đuống và một số sông nội đồng như: sông Dâu,
sông Đông Côi, sông Bùi,… Do sự bồi đắp của tự nhiên nên địa hình huyện
Thuận Thành có độ nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam; nơi cao nhất thuộc
xã Đình Tổ, nơi thấp nhất ở phía Đông Nam thuộc xã Trạm Lộ. Đất đai phì
nhiêu, cùng với khí hậu ôn hòa đã là điều kiện thuận lợi để phát triển cây trồng,
vật nuôi. Chính vì vậy, Thuận Thành được biết đến là một Huyện thuần nông.
Thuận Thành có những điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải với
tuyến đường 38, 282, 283 trở thành con đường huyết mạnh nối Thuận Thành
với quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng), các huyện Văn Lâm (Hưng Yên), Gia
Lâm (Hà Nội), Gia Bình (Bắc Ninh) và đường đê sông Đuống từ Gia Lâm
đến địa phận tiếp giáp huyện Gia Bình. Ngoài ra, sông Đuống là con đường
thủy thông thương quan trọng nối trực tiếp với sông Hồng và kết thúc tại Lục
Đầu Giang tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương buôn bán. Mạng lưới
giao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi là điều kiện thuận lợi để Thuận
Thành phát triển kinh tế - xã hội.
Thuận Thành vốn là một Huyện thuần nông, kinh tế nông nghiệp luôn
giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó các ngành nghề thủ công nghiệp cũng tương
đối phát triển, nó được thể hiện qua câu ca:
Tư thế bút mực làm giàu
Trà Lâm mổ lợn, uốn câu làng Giàn
Nấu chì đã có Văn Quan
Kẻ Tướng đi hát kiếm quan tiền dài

Nam và Công an nhân dân Việt Nam được quy định tại chương VI.
Qua đó, chúng ta thấy được TCCSĐ gồm chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở.
Trong đó, đảng bộ cơ sở có 2 loại: một là, đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực
thuộc; hai là, đảng bộ cơ sở có đảng bộ bộ phận và chi bộ trực thuộc. Trong
các chi bộ thì có thể phân thành nhiều tổ đảng trực thuộc chi bộ.
Về loại hình TCCSĐ, có thể phân thành 5 loại hình cơ bản sau: TCCSĐ ở
xã, phường, thị trấn; TCCSĐ trong doanh nghiệp(có nhiều loại hình doanh
nghiệp); TCCSĐ trong cơ quan hành chính; TCCSĐ trong đơn vị sự nghiệp
và TCCSĐ trong lực lượng vũ trang(quân đội, công an). Đối với loại hình
TCCSĐ trong lực lượng vũ trang do có nhiệm vụ chính trị đặc biệt của từng

11


ngành, việc tổ chức và thành lập được quy định riêng biệt trong chương VI
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nhận thấy
vị trí, vai trò quan trọng của các TCCSĐ trong hệ thống tổ chức của Đảng.
C.Mác và F.Ănghen là những người đầu tiên nêu rõ yêu cầu khách quan và
tính tất yếu của sự ra đời một chính đảng vô sản khi phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân phát triển đến một trình độ nhất định. Qua thực tiễn
cách mạng, hai ông đã thấy được vị trí, vai trò quan trọng của các TCCSĐ
với nòng cốt là chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở. C.Mác và F.Ănghen đã chỉ
ra rằng: các chi bộ bị buông lỏng vể mặt tổ chức sẽ dẫn đến cắt đứt liên lạc
với Ban chấp hành Trung ương, làm cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và
duy nhất. Từ thực tiễn đó, hai ông đã nhấn mạnh: phải biến mỗi chi bộ của
mình thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân. Thông qua
hoạt động của các chi bộ đảng mà đưa nhân tố tự giác vào phong trào công
nhân và tổ chức họ đấu tranh với chủ nghĩa tư bản.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của C.Mác và

mạnh thì mọi chính sách của Đảng mới thực hiện tốt được. Người từng nói: Muốn
làm nhà cho tốt phải xây dựng nền móng cho vững. Muốn thực hiện kế hoạch cho tốt
phải chăm lo củng cố chi bộ. Trong quá trình xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng,
củng cố tổ chức đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và nêu rõ: “Mỗi chi bộ
phải là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ chặt chẽ với
quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng. Mỗi cấp bộ
của Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường
lối, chính sách ở Trung ương” [29, tr.28].
Bên cạnh việc đánh giá cao vai trò của TCCSĐ trong hệ thống tổ chức
của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cần thường xuyên đánh giá chất
lượng TCCSĐ để phát hiện những TCCSĐ có khuyết điểm, yếu kém mà kịp
thời có biện pháp khắc phục những khuyết điểm, hạn chế đó. Người chỉ rõ:
chúng ta phải nghiêm khắc phê bình những chi bộ yếu kém. Ở những chi bộ ấy
có những cán bộ, đảng viên không gương mẫu, nội bộ thiếu đoàn kết. Tệ hơn
nữa là trong những chi bộ ấy có một số đảng viên và cán bộ, có cả cán bộ cấp
cao, cán bộ lãnh đạo quan liêu, mệnh lệnh nặng. Đảng cần phải thi hành kỷ luật

13


nghiêm khắc những cán bộ mắc sai lầm đó. Về biện pháp khắc phục, Chủ tịch
Hồ Chí Minh chủ trương: để tránh tình trạng có đảng viên yếu kém, có chi bộ
yếu kém, từ nay các Huyện ủy, Thành ủy, Tỉnh ủy cần phải đi sâu, đi sát đến
các chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách thiết thực và thường xuyên.
Như vậy, bên cạnh việc đánh giá cao vai trò, vị trí của TCCSĐ và sự cần thiết
phải tăng cường xây dựng các chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở vững mạnh thực
hiện tốt vai trò lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng
thắn chỉ ra cần đánh giá, phát hiện các TCCSĐ và đảng viên có khuyết điểm,
hạn chế để nghiêm khắc phê bình, đưa ra biện phát khắc phục. Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình là cách tốt

các tổ chức sự nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở,
nâng cao tính chiến đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông lỏng
vai trò lãnh đạo. Cấp ủy cấp trên cần tập trung chỉ đạo củng cố các Đảng
bộ, chi bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở
những nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết. Nâng cao chất lượng
sinh hoạt cấp ủy, chi bộ [12, tr.142 - 143].
Thêm vào đó, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
IX) đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW trong đó nêu rõ: đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt
nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, cần nắm vững nhiệm vụ phát
triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng chính
quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Trước những biến đổi mau lẹ của tình hình thế giới đã tạo lên thời cơ và
những thách thức không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội, đã đặt ra yêu
cầu cần tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ đáp
ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn tiếp
theo. Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng lần X (4/2006) của Đảng đã xác định
nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng là: trong những năm tới, phải dành
nhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy
truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của
Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng
và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương
thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng

15


lực. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời, Đảng chủ trương: “Mỗi tổ
chức cơ sở đảng có trách nhiệm tổ chức và quy tụ sức mạnh của toàn đơn vị
hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo dục chính trị,

như: giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc chất lượng đảng viên, nơi đào
tạo cán bộ cách mạng cho Đảng.
Vì vậy, công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ trong tình hình hiện nay là một yêu
cầu cấp bách đối với Đảng ta nhằm đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng
nhân dân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH vì một nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
1.1.2.2. Tình hình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện
Thuận Thành trước năm 2000.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác xây dựng
TCCSĐ ở nhiệm kỳ trước và vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương của Đảng,
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh; Đại hội Đảng bộ huyện Thuận Thành lần thứ XVIII
(3/1996) đã đề ra mục tiêu về xây dựng TCCSĐ trong nhiệm kỳ (1996 – 2000):
“giữ vững Đảng bộ huyện vững mạnh, có 60% đến 70% cơ sở đảng vững mạnh,
không còn cơ sở đảng yếu” [30, tr. 24].
Đảng bộ huyện Thuận Thành đề ra chủ trương tăng cường xây dựng
TCCSĐ trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm tạo được chuyển
biến tích cực, góp phần quan trọng giữ vững Đảng bộ huyện TSVM. Tuy
nhiên công tác xây dựng TCCSĐ vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm cần
được khắc phục.
* Thành tựu, nguyên nhân.
- Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Đảng bộ huyện Thuận Thành luôn nhận thức đúng và xác định công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao
nhận thức đối với đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên về những chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo tốt
công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đặc biệt là việc học tập, triển khai
thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và chủ trương của Đảng, Tỉnh ủy đã

17


18


TCCSĐ năm 1999, căn bản xóa được các cơ sở Đảng yếu kém. Hàng năm đều
có khảo sát đánh giá chất lượng sinh hoạt của các TCCSĐ. Qua đó, chất lượng
đảng viên qua các đợt phân loại ngày càng tăng. Năm 1996 có 68,8% đảng viên
hoàn thành tốt nhiệm vụ; 2,5% đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ đến năm
1999 có 73,9% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và 1,3% đảng viên không hoàn
thành nhiệm vụ. Công tác cán bộ có sự chuyển biến tích cực, theo hướng chú trọng
rà soát, quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có phẩm chất đạo đức
tốt, gương mẫu đi đầu trong các hoạt động thực tiễn của địa phương, nhằm tạo
nguồn cán bộ chủ chốt có chất lượng góp phần quan trọng trong chính sách quy
hoạch cán bộ theo tinh thần, chủ trương của Đảng [31, tr. 10]. Công tác phát triển
Đảng đã đạt được những kết quả nhất định, số đảng viên mới kết nạp đảm bảo về số
lượng và chất lượng đề ra; 100% các TCCSĐ đều kết nạp được đảng viên mới.
- Về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng được cấp ủy và ủy ban
kiểm tra Huyện ủy tiến hành theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và Chỉ thị
29 - CT/TW về tăng cường công tác kiểm tra. Đối tượng và nội dung kiểm tra
có trọng tâm, trọng điểm, sát hơn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa
phương. Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát
được tăng cường; trong 5 năm 1996 - 2000 đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho
894 đồng chí cấp ủy viên cơ sở và chi bộ. Nhờ vậy mà công tác kiểm tra, giám sát
được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, nội dung kiểm tra được tiến hành toàn diện.
Trong 5 năm ủy ban kiểm tra Huyện ủy và cơ sở đã ra quyết định kiểm tra 191
TCCSĐ, với 519 đảng ủy viên và chi ủy viên chi bộ được kiểm tra; kịp thời phát
hiện những TCCSĐ và đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng để xử lý, giữ nghiêm kỷ
luật Đảng. Qua đó thúc đẩy các TCCSĐ thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ
chính trị, thực hiện theo đúng những quy định, nguyên tắc của Đảng.

Một số kết luận kiểm tra có việc, có nội dung còn mang tính hạn chế; việc xử
lý kỷ luật theo thẩm quyền ở một số cơ sở làm chưa tốt còn né tránh, đùn đẩy
dẫn đến không kịp thời, ảnh hưởng đến tính giáo dục [31, tr. 16].
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (2005) đã chỉ ra những hạn chế, khuyết
điểm còn tồn tại trong nhiệm kỳ 2000 – 2005 xuất phát từ những nguyên nhân đó là:

20


Năng lực lãnh đạo, ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, trên một số
lĩnh vực còn hạn chế, việc nhận thức và vận dụng đường lối, quan điểm của
Đảng, nhất là quan điểm về phát triển kinh tế chưa sâu sắc, dẫn đến áp dụng
vào thực tiễn còn lúng túng, không cụ thể, chưa sát với thực tế địa phương.
Việc cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của một số cấp ủy ở một
số lĩnh vực còn chậm, thiếu tính cụ thể; công tác quản lý, điều hành một số
mặt còn buông lỏng, thiếu sâu sát trong kiểm tra, đôn đốc.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa phát huy được đúng vai trò tiên
phong, gương mẫu, chưa tích cực chủ động suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong tổ
chức thực hiện nhiệm vụ đề ra [31, tr. 17].
Như vậy, với những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng
TCCSĐ trong những năm trước năm 2000 đã góp phần nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ và làm cho Đảng bộ huyện ngày
càng TSVM. Tuy nhiên, những tồn tại, khuyết điểm trong công tác xây dựng
TCCSĐ ở Đảng bộ huyện Thuận Thành trong những năm trước năm 2000 đã
và đang đặt ra những yêu cầu cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng bộ huyện Thuận Thành đối với các TCCSĐ trong toàn Đảng bộ làm cho
các TCCSĐ thật sự TSVM, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi những nhiệm
vụ chính trị ở địa phương.
1.1.3. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xây dựng tổ
chức cơ sở đảng

hướng xây dựng Đảng: “tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản
chất công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức,
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao,
có phương thức lãnh đạo khoa học, gắn bó với nhân dân” [14, tr.279].
Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Đảng chủ trương tăng cường
công tác giáo dục lý luận chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng và bản chất
giai cấp công nhân; lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên
cần tăng cường học tập lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; thực hiện nghiêm túc chế độ học tập chính trị, hội nghị quán triệt chủ

22


trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đổi mới
hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị; kết hợp với nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm củng
cố niềm tin của nhân dân, tạo được sự thống nhất giữ ý chí và hành động.
“Coi trọng công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,
xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14, tr.279]. Từ đó, làm cho mỗi cán bộ đảng viên
luôn ý thức được việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; nâng cao tính
tiên phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, thực hiện đúng các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của Đảng góp phần giữ vững phẩm chất chính trị, tư
tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng.
Về công tác xây dựng tổ chức: Đảng chủ trương: “thực hiện đúng các nguyên
tắc và hoạt động của Đảng; đặc biệt là chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; gắn xây dựng tổ chức đảng với xây dựng hệ
thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng” [14, tr.280].

lượng tốt và quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận có trình độ và
năng lực công tác vững vàng. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ
vùng dân tộc thiểu số. Quán triệt, vận dụng có hiệu quả chủ trương của Đảng
về luân chuyển cán bộ ở mỗi ngành và địa phương. Xây dựng cơ chế, chính
sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng những cán bộ có
đức, có tài, có năng lực lãnh đạo được nhân dân tín nhiệm, ủng hộ. Mặt khác,
kịp thời thay thế những cán bộ, đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, lối
sống, năng lực công tác kém và vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng. Tăng
cường xây dựng, nâng cao chất lượng các trường đào tạo cán bộ, các trung
tâm giáo dục chính trị và tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có chất lượng tốt đáp ứng được những yêu cầu,
nhiệm vụ công tác mới trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng:
Đảng chủ trương: công tác kiểm tra giám sát phải góp phần phát hiện và
khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh
việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu vi
phạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và
kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về nhận thức

24


và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng [65, tr. 697].
Cần tăng cường đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác
kiểm tra, giám sát; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị
quyết, chỉ thị của Đảng đối với các TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên
để phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; gắn việc kiểm
tra, giám sát về phẩm chất chính trị, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ,
đảng viên với việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status