Thực hiện chính sách pháp luật về đất đai từ thực tiễn huyện thanh liêm, tỉnh hà nam - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CHÍ TỊNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ CHÍ TỊNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG


huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam................................................................... 49
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM ................................................. 60
3.1. Phương hướng tăng cường thực hiện chính sách pháp luật về đất đai trên
địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ...................................................... 60
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách pháp luật về đất đai trên
địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ...................................................... 65
KẾT LUẬN ................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH

Công nghiệp hóa

CSPL

Chính sách pháp luật

GCN

Giấy chứng nhận

HĐND

Hội đồng nhân dân


Quốc lộ

TN & MT

Tài nguyên và môi trường

SDĐ

Sử dụng đất

UBND

Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BI U

Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Liêm năm 2015 .................. 29
Bảng 2.2. So sánh biến động một số loại đất ở huyện Thanh Liêm ............. 31
Bảng 2.3. Kết quả cấp GCN QSD đất tại huyện Thanh Liêm ....................... 42
Bảng 2.4. Kết quả thu ngân sách huyện Thanh Liêm và nguồn thu từ đất giai
đoạn 2010 - 2015 ............................................................................................ 44
Bảng 2.5. Kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai trên địa
bàn huyện Thanh Liêm (2010 - 2015) ........................................................... 46
Bảng 2.6. Kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên
địa bàn huyện Thanh Liêm giai đoạn 2010 - 2015 ........................................ 49
Bảng 3.1. Mục tiêu phát triển KT-XH huyện Thanh Liêm đến năm 2020 .... 60
Bảng 3.2. Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 ......................... 61
trên địa bàn huyện Thanh Liêm ..................................................................... 61



1


phải khoa học để sử dụng nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả. Cũng như
các địa phương khác trên cả nước, đất đai ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam không
những có ý nghĩa to lớn về giá trị sử dụng mà đất đai còn cung cấp nguồn vốn đầu
tư rất quan trọng cho quá trình CNH - HĐH của huyện.
Từ thực tiễn tại huyện Thanh Liêm cho thấy, việc thực hiện CSPL về đất đai
trong những năm qua, bên cạnh những mặt tích cực, nhưng cũng tồn tại không ít
hạn chế, ảnh hưởng đến việc phát huy nguồn lực đất đai để phát triển kinh tế và
nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, một trong những hạn chế đó là việc thực
hiện CSPL về đất đai còn chưa bám sát thực tiễn hoặc chưa phù hợp nên tình trạng
vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn ra phổ biến và chưa được xử lý dứt điểm, tình
trạng sử dụng đất đai còn lãng phí, không hiệu quả ở nhiều nơi, nhiều vụ việc khiếu
kiện tập thể về đất đai trở nên phức tạp. Bên cạnh đó các thông tin CSPL về đất đai,
ý thức chấp hành và hiểu biết pháp luật về đất đai của người dân còn hạn chế...
Chính vì thế nguồn lực đất đai của huyện là khá lớn nhưng chưa được khai thác và
sử dụng một cách có hiệu quả.
Để việc thực hiện CSPL về đất đai ở huyện Thanh Liêm trong những năm tới
phát huy được những thế mạnh đồng thời khắc phục được những hạn chế hiện nay
cần tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về lĩnh vực này. Với mong muốn
góp sức nhỏ bé của mình vào công trình nghiên cứu đó, đề tài: “Thực hiện chính
sách pháp luật về đất đai từ thực tiễn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” được
chọn làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc thực hiện CSPL về đất đai đã và đang thu hút được sự quan
tâm đông đảo của nhiều nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu với nhiều công
trình nghiên cứu chất lượng đem lại hiệu quả thiết thực tại nhiều địa phương, đơn
vị. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đất đai, tiêu biểu như:

Đặng Hùng Võ (2003), Hoàn thiện pháp luật về đất đai đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Báo Nhân dân số ra ngày 06/5/2003;
Nguyễn Văn Sửu (2010), Đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam - từ lý
thuyết đến thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia;
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về
thực hiện CSPL về đất đai trên phạm vi cả nước và ở một số địa phương. Tuy nhiên,

3


hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực hiện CSPL về đất
đai trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Do vậy, việc nghiên cứu việc
thực hiện CSPL về đất đai trên địa bàn huyện Thanh Liêm là vấn đề mà thực tiễn
đang đòi hỏi, cần có những nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hiệu quả trong việc thực hiện CSPL về đất đai nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển của huyện Thanh Liêm trong thời gian tới. Trong quá trình nghiên cứu luận
văn, sẽ tiếp thu và kế thừa các thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước
nhằm luận giải những vấn đề thực tiễn đặt ra và hướng đổi mới việc thực hiện CSPL
về đất đai của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn là nhằm tăng cường thực hiện chính
sách pháp luật về đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Để đạt được mục đích, đề tài luận văn sẽ có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách pháp luật đất đai.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách pháp luật về đất
đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong 5 năm gần đây, chỉ rõ những thành
công, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất tăng cường thực hiện chính sách pháp luật về đất đai trên địa bàn
huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Thu tập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách công liên
quan đến vấn đề thực hiện chính sách pháp luật về đất đai.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá
phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại với một đối
tượng nhằm thu thập thông tin. Theo dự kiến thiết kế nghiên cứu có phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi đối với đối tượng là những người làm công tác thực thi các
CSPL về đất đai và một số đối tượng đang sử dụng đất đai tại địa phương. Tuy
nhiên, do thời gian có hạn nên tác giả tập trung vào phương pháp phỏng vấn sâu
nghiên để cứu chính sách.

5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và vận dụng các
lý thuyết về chính sách công.
- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết
liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp
chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng
các lý thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn việc thực
hiện CSPL về đất đai ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, từ đó nâng cao hiệu quả
chất lượng của chính sách được ban hành trong những năm tiếp theo.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan của huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách một
cách hiệu quả trong công cuộc phát triển KT - XH ở địa phương trước những yêu
cầu phát triển KT - XH trong giai đoạn hiện nay.
- Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp các giải pháp nâng cao hiệu quả

nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất
đai, đó là các hoạt động nắm tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ
đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình tổ chức thực hiện và điều
tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Không có nước nào Nhà nước không tham gia quản lý đất đai. Tuy nhiên,
do phụ thuộc vào chế độ sở hữu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quyền hạn
của Nhà nước, việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở các nước khác nhau
khá khác nhau.
Ở nước ta, phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước có hai
tư cách để thực hiện chính sách pháp luật về đất đai. Với tư cách đại diện cho sở
hữu toàn dân thống nhất quản lý đất đai, Nhà nước thực hiện các công việc được
Hiến pháp 1992 quy định là giao đất cho người dân sử dụng ổn định (có kỳ hạn và
không kỳ hạn), thu hồi đất khi hết hạn sử dụng và thực thi các quyền của chủ sở hữu
toàn dân như thu địa tô.

7


Một nét rất đặc trưng của thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở nước ta
là sự phân chia các quyền của chủ sở hữu giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
Theo Luật đất đai năm 2003, Nhà nước có quyền hạn rất lớn, bao gồm các quyền
định đoạt đối với đất đai; quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các
chính sách tài chính về đất đai, trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông
qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người
đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Các
chủ thể sử dụng đất được phân chia một số quyền như được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi
ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước
hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước
bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;

ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. UBND cấp huyện tổ chức thực
hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng.
- UBND cấp huyện cấp GCN QSD đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng
dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với QSD đất ở.
UBND cấp huyện còn có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất
đai ở địa phương, báo cáo kết quả lên UBND cấp tỉnh.
- UBND cấp huyện có quyền và trách nhiệm tiến hành các cuộc thanh tra
việc thực hiện CSPL về đất đai đối với UBND các xã, thị trấn thuộc thẩm quyền.
- Trong trường hợp xảy ra tranh chấp mà người sử dụng đất không có GCN
QSD đất và trên đất không có tài sản thì UBND cấp huyện thực hiện giải quyết
tranh chấp đất đai.
Thứ hai, Đặc trưng của việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai.
Việc thực hiện CSPL về đất đai ở cấp huyện có những đặc trưng sau:
- Chính sách pháp luật về đất đai ở cấp huyện có phạm vi hẹp nhưng nội
dung rất phức tạp: Khi so sánh với việc thực hiện CSPL về đất đai trên phạm vi cả
nước hoặc trên phạm vi một tỉnh thì có thể thấy, phạm vi thực hiện CSPL về đất đai
ở cấp huyện khá hẹp cả về quy mô, không gian và diện tích. Tuy nhiên, việc thực
hiện chính sách pháp luật về đất đai ở cấp huyện lại trực tiếp liên quan đến người sử
dụng đất nên tính chất có phức tạp hơn.
- Chính sách pháp luật về đất đai cấp huyện mang tính tuân thủ các quy định
pháp lý và hành chính của nhiều cấp: Những nội dung CSPL về đất đai ở cấp huyện
từ việc lập bản đồ hành chính, bản đồ địa chính, đến các hoạt động điều tra khảo sát,

9


đo đạc, đánh giá đất, phân hạng đất, định giá đất đều do cấp trên (Chính phủ và cấp
tỉnh) quyết định hoặc chỉ đạo tổ chức thực hiện. Đặc biệt, việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của cấp huyện phải do cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện và phải trên cơ
sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh... Mệnh lệnh hành chính và tính tuân

phải xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất nhưng cũng phải đảm bảo tính
cân bằng tương đối về cung cho các loại đất.
- Xét về tính cố định: Đất đai gắn liền với một vị trí và không gian nhất định,
không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Tính cố định của đất đai đồng thời
quy định tính giới hạn về không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu sự chi
phối. Đặc điểm này đã khiến cho giá trị kinh tế của đất đai phụ thuộc rất lớn vào vị
trí của đất.
- Đất đai không bị mất đi khi sử dụng: Trừ trường hợp bị thiên tai huỷ hoại,
con người không thể tạo ra đất và đất không bị mất đi trong quá trình sử dụng, mà
đất đai chỉ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Khả năng tăng năng lực
sản xuất của đất đai tuỳ thuộc vào phương thức sản xuất khi sử dụng đất. Đây là đặc
điểm không tư liệu sản xuất nào khác có được.
- Đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động: Đất đai là sản
phẩm của tự nhiên nhưng lại là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con
người. Trong quá trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu không thể thiếu
được. Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất rất đa dạng,
trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Tất
cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai, vốn dĩ là sản phẩm của tự
nhiên, đã trở thành một sản phẩm của lao động.
- Tính đa dạng và phong phú của đất đai: Do đặc tính tự nhiên của đất đai và
phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ nhất định gắn liền với điều kiện hình thành
đất quyết định, mặt khác do yêu cầu, đặc điểm, mục đích sử dụng các loại đất khác
nhau. Đặc điểm này đòi hỏi quá trình thực hiện CSPL về đất đai phải biết khai thác
triệt để lợi thế của mỗi loại đất. Để làm được điều đó phải có quy hoạch sử dụng đất
trong cả nước và các địa phương.
- Xét về tính kinh tế - xã hội: Đất đai là một tài sản có giá trị kinh tế lớn, tuy
nhiên, về mặt xã hội, quan hệ đất đai có nhiều ý nghĩa. Thực tế cho thấy, có nhiều

11



12


Đất đai là tài nguyên đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, người ta coi đất
đai là hàng hóa đặc biệt. Trước khi trở thành hàng hóa đặc biệt thì từ hàng triệu năm
qua đất đai là tài nguyên đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên. Tính
chất vô cùng đặc biệt của đất đai ở chỗ tính chất tự nhiên và tính chất xã hội đan
xen vào nhau. Đất đai quý giá còn bởi con người không thể làm nó sinh sản, nở
thêm, ngoài diện tích tự nhiên vốn có của nó.
Đất đai là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người
và các sinh vật khác trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã
hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau. Trong công
nghiệp và các ngành khác ngoài nông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai
nói chung làm nền móng, làm địa điểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác. Đất đai
là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động.
Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua
nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được
vốn đất đai như ngày nay” [22, tr. 1].
Bởi vậy, việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài
nguyên vô giá này là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia. Do đó
việc thực hiện CSPL về đất đai là hết sức cần thiết, vừa đảm bảo khai thác tốt tiềm
năng đất đai với vai trò là một nguồn lực, lại vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi
trường sống cho toàn xã hội.
1.1.3. Vai trò thực hiện chính sách pháp luật về đất đai
Thứ nhất, góp phần triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về đất đai

chính lớn, phục vụ đầu tư phát triển các lĩnh vực KT-XH khác và thực hiện điều tiết
các nguồn lợi từ đất đai.
Thứ ba, việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở cấp huyện góp
phần ổn định và công bằng xã hội
Thông qua việc lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, lập sổ
địa chính và cấp GCN QSD đất, việc thực hiện CSPL về đất đai ở cấp huyện đã

14


thiết lập căn cứ pháp lý cho các chủ thể sử dụng đất, hạn chế tối đa các hành vi
tranh chấp, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Hơn nữa, nhu cầu về đất và giá
đất ngày càng tăng lên trong khi diện tích lại có giới hạn nên tranh chấp, khiếu kiện
về đất đai cũng ngày càng nhiều. Chính quyền cấp huyện với chức năng, quyền hạn
được giao, đã cung cấp các tài liệu, hồ sơ về đất và giải quyết các tranh chấp, giảm
bớt những xung đột xã hội có nguồn gốc từ đất đai có thể xảy ra tại địa phương.
Thứ tư, việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở cấp huyện góp phần
tăng cường hiệu quả và tính bền vững của việc sử dụng và khai thác đất đai
Với tư cách có liên quan trực tiếp đến đối tượng sử dụng đất, chính quyền
cấp huyện thực hiện điều chỉnh hành vi các chủ thể sử dụng đất, buộc họ phải sử
dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch được duyệt, đúng ranh giới được giao,
thực hiện thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất... buộc người sử dụng phải nâng cao ý
thức cũng như trách nhiệm trong việc sử dụng và khai thác đất đai, đồng thời điều
chỉnh mục đích sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự
điều chỉnh mục đích sử dụng đất, nếu có tầm nhìn dài hạn, tổng thể, sẽ đảm bảo quỹ
đất được khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thực hiện CSPL về đất đai, chính quyền
cấp huyện cũng tiến hành xử lý các hành vi lấn chiếm đất đai, hủy hoại đất, sử dụng
sai mục đích...đảm bảo trật tự, kỷ cương trong sử dụng đất, bảo vệ nguồn lực đất
đai. Hoạt động này của chính quyền cấp huyện có tác dụng răn đe, ngăn chặn các

việc hoạch định chính sách, bởi vì bất cứ một hoạt động nào dù là kinh tế chính trị
hay xã hội đều cần phải đạt được.
Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong thực
hiện CSPL về đất đai được thể hiện bằng việc: Xây dựng các quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đảm bảo tính khả thi cao và quản lý, giám sát chặt chẽ việc thực hiện
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1.2.2. Nội dung của việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai
Thứ nhất, Tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện
* Tuyên truyền, phổ biến luật và các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai
Để đưa việc thực hiện CSPL về đất đai vào nề nếp theo quy định của pháp
luật, chính quyền cấp huyện cần coi trọng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục

16


chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai tới tất cả các
cấp chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân đóng tại địa bàn dưới nhiều hình thức.
Công việc này giúp cho các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể quán triệt chủ
trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhân dân hiểu rõ
và tự giác chấp hành các quy định của pháp luật, nhờ đó sẽ tạo ra sự nhất trí cao
trong nhận thức và hành động thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
CSPL về đất đai.
* Tổ chức thực hiện luật và văn bản quy phạm pháp luật về đất đai
Đối với cấp huyện, nội dung này bao gồm việc xây dựng và ban hành văn
bản để thực hiện luật, các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện CSPL về đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Theo quy định của Hiến pháp, thẩm quyền ban
hành văn bản pháp quy về đất đai của cấp dưới thường được quy định trong văn bản
pháp quy của cấp trên. Nghiêm cấm việc các cơ quan cấp dưới ban hành văn bản
hoặc có thêm các quy định trái với quy định của cấp trên.

hiện chính sách pháp luật về đất đai nên được thể hiện chi tiết đến từng thửa đất. Vì
vậy, tuỳ theo khu vực cụ thể mà bản đồ địa chính được xây dựng theo các tỷ lệ: 1:
500, 1:1000, 1: 2000, l : 5000. Yêu cầu của bản đồ địa chính là tất cả những thửa đất
có diện tích ≥10m2 theo tỷ lệ bản đồ phải được thể hiện trên bản đồ và được lập theo
đơn vị cấp xã và được quản lý tại 3 cấp địa phương: xã, huyện, tỉnh.
Thứ ba, Lập, điều chỉnh và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ
Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện
chính sách pháp luật về đất đai, để đảm bảo việc sử dụng đất đai một cách hợp lý,
tiết kiệm, có hiệu quả, đạt các mục đích nhất định và phù hợp với các quy định của
Nhà nước. Đồng thời, giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được tình hình sử dụng
đất. Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai là công việc của tất cả các cơ quan thực
hiện CSPL về đất đai và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của Nhà nước.
- Lập hoặc điều chỉnh quy hoạch đất: Đối với cấp huyện, trong kỳ quy hoạch
10 năm, trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển KT-XH,
quốc phòng, an ninh; quy hoạch phát triển các ngành trên địa bàn tỉnh; các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường; hiện trạng sử dụng đất và nhu
cầu sử dụng đất; định mức sử dụng đất; UBND cấp huyện lập quy hoạch sử dụng
đất của địa phương và trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.

18


- Lập hoặc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất: Trong kỳ kế hoạch 5 năm, UBND
cấp huyện thực hiện lập hoặc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất trình UBND tỉnh phê
duyệt trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất của địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội 5 năm và hàng năm; nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cư; kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; khả năng đầu tư thực
hiện các dự án, công trình có sử dụng đất.
- Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Đối với cấp huyện,
trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status