Quan hệ kinh tế thương mại singapo việt nam giai đoạn từ 1991 đến nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THU TRANG

QUAN HỆ KINH TẾ THƢƠNG MẠI SINGAPO - VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1991 ĐẾN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THU TRANG

QUAN HỆ KINH TẾ THƢƠNG MẠI SINGAPO - VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1991 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lịch sử Thế Giới

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Điêu Thị Vân Anh

SƠN LA, NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng chân thành, sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

4.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
5. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 4
CHƢƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA NỀN KINH TẾ SINGAPO TRONG NỀN KINH
TẾ THẾ GIỚI VÀ ASEAN ................................................................................ 5
1.1. Vị trí của nền kinh tế Singapo trong nền kinh tế thế giới .............................. 5
1.2. Vị trí của nền kinh tế Singapo trong khu vực ASEAN .................................. 5
1.2.1. Cách nhìn nhận của Singapo về ASEAN .................................................... 5
1.2.2. Vị trí của nền kinh tế Singapo trong ASEAN ............................................ 8
1.3. Hiện trạng và hình thức trong hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt
Nam ..................................................................................................................... 10
1.3.1. Hiện trạng về quan hệ hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt Nam ........... 10
CHƢƠNG 2: QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƢ THƢƠNG MẠI SINGAPO VIỆT NAM TỪ 1991 ĐẾN NAY.................................................................................26
2.1. Đánh giá chung về quan hệ hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt Nam .....26
2.2. Thách thức và triển vọng trong quan hệ kinh tế - thương mại Singapo - Việt
Nam ..................................................................................................................... 36
2.2.1. Thách thức ................................................................................................. 36


2.2.2. Triển vọng ................................................................................................. 40
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mối quan hệ hợp tác giữa Singapo - Việt Nam đã phát triển nhanh chóng
đáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong hơn 3 thập kỷ qua, kể từ khi hai nước
thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 01 tháng 08 năm 1973. Đặc biệt sự hợp
tác đầu tư thương mại giữa hai nước đã có bước phát triển lớn, mang lại lợi ích
cho cả hai dân tộc. Hiện nay Singapo đã trở thành một trong những bạn hàng

+ Cung cấp thêm nguồn tư liệu để cho các nhà kinh tế học có thể sử dụng
và phát triển thêm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều những công trình nghiên cứu đề cập đến sự phát triển của nền
kinh tế Singapo như:
Tác giả Lý Quang Diệu (2001), trong cuốn sách Bí quyết hóa rồng. Lịch sử
Singapore 1965 - 2000, NXB trẻ - Hồ Chí Minh đã nói đến quá trình Singapo
vươn lên trở thành trung tâm Châu Á bên cạnh Hong Kong, Tôkyô và ngày
càng mở rộng mối quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tác giả Nguyễn Thị Hiền (2002), Hội nhập Kinh tế khu vực của một số
nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia cũng đã đề cập đến những nét phác họa
chung nhất về bức tranh mối quan hệ kinh tế giữa các nước trong tổ chức
ASEAN trong đó có Singapo và Việt Nam.
Trong cuốn sách Singapo đặc thù và giải pháp của Dương Văn Quản
(2007), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra những đặc thù, những nỗ lực
phi thường của quốc đảo nhỏ đầy năng động, những chiến lược đối ngoại của
Singapo, mối quan hệ giữa Singapo và các nước trên thế giới, trong khu vực
trong đó có Việt Nam.
Ngoài ra có rất nhiều những tạp chí, các báo cáo, các công trình chuyên
khảo cũng đã đề cập đến mối quan hệ hợp tác giữa Singapo và Việt Nam ở
những khía cạnh khác nhau như: Thảo Vy, “Singapore: Thị trường tiềm năng
cho doanh nghiệp Việt Nam”, Thị trường Chủ nhật, số 237 + 244, 01/09/2002;
Bắc Hải, “Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu”, Thời báo Kinh tế Việt Nam,
ngày 17/04/2002: Thanh Phương, “Hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam
với các nước thành viên ASEAN”, Tạp chí Thương mại, số 281, 10/2001.
2


Tuy nhiên, tất cả các công trình trên chưa có một công trình nào đề cập đến
mối quan hệ hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt Nam một cách toàn diện.


Thứ ba, là nhìn nhận lại quá trình hợp tác giữa Singapo và Việt Nam trong
thời gian từ 1991 đến nay, để rút ra được những điểm cần phát huy và những
điều thiếu sót cần bổ sung với mục tiêu xây dựng một mối quan hệ phát triển
bền vững trong thời gian tới.
Thứ tư, là làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu
về hợp tác đầu tư thương mai Singapo - Việt Nam.
Thứ năm, là cung cấp thêm nguồn tư liệu để cho các nhà chiến lược phát
triển kinh tế có thể sử dụng và phát triển thêm.
4. Cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tài liệu
Các công trình như: Bí quyết hóa rồng, Singapo đặc thù và giải pháp, ngoài
ra còn các tác phẩm, bài báo của các tác giả, tập thể các tác giả được công bố ở
các Nhà xuất bản, Tạp chí…
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện khóa luận tác giả sử dụng chủ yếu các phương pháp:
- Phương pháp luận:
+ Phương pháp biện chứng
+ Phương pháp lịch sử
+ Phương pháp logic
- Phương pháp cụ thể:
+ Thu thập tài liệu
+ So sánh, đối chiếu, phân tích, thống kê
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài
được kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Vị trí của nền kinh tế Singapo trong nền kinh tế thế giới và
ASEAN
Chương 2: Quan hệ hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt Nam từ
1991 đến nay

động quốc tế và là một bộ phận trong hệ thống sản xuất, dịch vụ toàn cầu.
1.2. Vị trí của nền kinh tế Singapo trong khu vực ASEAN
1.2.1. Cách nhìn nhận của Singapo về ASEAN
Singapo tham gia ASEAN giống như một hành động thông báo cho cộng
5


đồng thế giới biết rằng có một nước cộng hòa nhỏ bé mới được thành lập ở khu
vực này trên một hòn đảo thuộc địa cũ của Anh. Nhưng ngay từ lúc đó và đặc
biệt là hiện nay, Singapo nhận thức rất rõ tầm quan trọng của ASEAN đối với
đất nước.
Trong một tổ chức khu vực hay quốc tế, mọi nước thành viên đều tính đến
vai trò của mình và suy tính đến vai trò của các nước khác. Singapo cũng không
là nước ngoại lệ, thậm chí họ còn phải tính toán hơn các nước khác. Là một
nước nhỏ, thậm chí rất nhỏ, tổng diện tích chỉ là 699,4 km2, Singapo cần xác
định thật đúng vị trí của mình vì họ không được phép sai lầm. Song, với tư duy
thực dụng và có kinh nghiệm trong phát triển, họ có thể “gợi ý” nước này hay
nước kia đứng ra đảm nhiệm “trọng trách thủ lĩnh” ASEAN. Kể từ khi ASEAN
ra đời cho đến thập niên 1990, Iđônêxia đương nhiên được nhìn nhận là nước
đứng đầu. Khi nước này rơi vào tình trạng mất ổn định chính trị, vị trí này bị bỏ
ngỏ. Một vài nước cũng muốn lấp “chỗ trống”, nhưng do đặc thù của ASEAN
và tương quan lực lượng không có nước nào vượt trội lên được. Singapo đã
thăm dò nhiều phương án kể cả kịch bản “song mã” như kiểu trục Pháp - Đức
trong Liên minh Châu Âu, nhưng không phương án nào khả thi. Kể từ cuối năm
2004, khi ông Susilo Bambang Yudhoyono trúng cử tổng thống, tình hình
Inđônêxia ổn định dần và Singapo tìm cách thúc đẩy lại quan hệ hai nước. Tính
toán của Singapo là nếu ông Susilo Bambang Yudhayono thành công đưa lại ổn
định và phát triển, trấn áp được khủng bố ở Inđônêxia thì nước này sẽ lấy được
vai trò đầu tầu trong ASEAN. Điều này không chỉ đáp ứng lợi ích riêng của
Singapo, mà của cả ASEAN.

nhất để tránh sức ép của các nước lớn, nhất lại là nước láng giềng, là phải tham
gia hội nhập khu vực càng sâu rộng càng tốt. Hội nhập cho phép nước đó phát
huy hết lợi thế so sánh, đồng thời lại tận dụng được những điều kiện bên ngoài.
Vấn đề cốt lõi là xác định được chiến lược hội nhập đúng. Mọi thái cực như dè
dặt quá hay phiêu lưu quá đều phải trả giá.
Chính trong những năm đầu của thiên niên kỉ XXI, vì quá sốt ruột về sự
chậm chạp của ASEAN, Singapo đã đưa ra công thức 2+x nhằm thúc đẩy hội
nhập. Công thức này là sự phá rào theo đó, hai nước thành viên và x nước khác
nếu đồng ý thì sẽ kí kết các hiệp định riêng rẽ về từng lĩnh vực đã thỏa thuận
được với nhau. Chẳng hạn, Singapo, Thái Lan và Brunây đã kí thỏa thuận mở
7


cửa bầu trời. Hơn thế nữa, trên thực tế hội nhập trong ASEAN diễn ra với hai
tốc độ: một với các nước thành viên cũ, một với các nước thành viên mới.
Chính vì sốt ruột với hội nhập mà Singapo đã bị nghi ngờ là muốn bỏ rơi các
nước khác. Song, trong mọi kịch bản, ta có thể khẳng định rằng Singapo không
thể đi một mình và luôn luôn cần đến ASEAN trong chiến lược hội nhập quốc
tế của họ. Bốn biện pháp mà Thủ tướng Lý Hiển Long đã phân tích trong bài
phát biểu tại diễn đàn ASEAN 100 Leadership ngày 28 tháng 9 năm 2005 nhằm
thúc đẩy tiến trình hội nhập ASEAN phản ánh khá rõ quan điểm của nước này,
cụ thể:
Xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ với bên ngoài thông qua các FTA và
các hiệp định hợp tác khác.
Hội nhập mạnh mẽ hơn nữa trong ASEAN không chỉ về kinh tế mà cả các
lĩnh vực khác.
Thay đổi tư duy trong các nước, xây dựng ý thức cộng đồng, vượt lên trên
những lợi ích quốc gia hẹp hòi.
Xây dựng mối liên kết giữa công dân của các nước ASEAN và làm cho họ
nhận thức được vận mệnh chung của cộng đồng.

mắt tới. Điển hình là trường hợp của công ty CSE (System and Engineering) đã
mua 43% cổ phần của công ty Internet Infinite Information của Philippin với
giá 2 triệu USD. CSE là công ty sản xuất và lắp đặt phần mềm Internet, hiện
đang có mức thu nhập bán hàng với Mỹ chiếm 90%.
Với Thái Lan, ngoài quan hệ thương mại, quan hệ tiểu vùng (Singapo,
Malaysia, Thái Lan) tính riêng năm 1994, Singapo là nhà đầu tư lớn thứ 2 ở
Thái Lan, chiếm 21,1% tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài ở đất nước này. Các
dự án đầu tư ở Singapo cũng thể hiện trong nhiều lĩnh vực tài chính, ngân hàng
lớn nhất của Singapo là DBS Bank đã mua cổ phiếu của Thái Lan.
Với Campuchia, những năm gần đây, Singapo đã tăng cường hoạt động
thương mại và đầu tư. Vào năm 1998, tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước
là 354 triệu USD trong đó Singapo khuyến khích Campuchia xuất khẩu gạo cho
họ. Về đầu tư Singapo cũng là nhà đầu tư đáng kể vào Campuchia trong các
lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, sản xuất ống dẫn.
Với Lào và Mianma cũng vậy, năm 1997 Singapo là nhà đầu tư nước ngoài
lớn nhất của Mianma. [10;31]
9


1.3. Hiện trạng và hình thức trong hợp tác đầu tƣ thƣơng mại
Singapo - Việt Nam
1.3.1. Hiện trạng về quan hệ hợp tác đầu tư thương mại Singapo - Việt Nam
Đầu tư trực tiếp là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong quan hệ kinh tế
giữa hai nước Singapo và Việt Nam. Trong thập kỷ 70, Singapo đã bắt đầu
thăm dò khả năng đầu tư vào Việt Nam. Tuy vậy, khi xảy ra vấn đề Campuchia,
Singapo đã ban hành lệnh cấm đầu tư vào nước ta. Năm 1991, sau Hiệp định
hòa bình về Campuchia được kí kết, Singapo bãi bỏ lệnh cấm đầu tư vào Việt
Nam. Từ năm 1991, đầu tư trực tiếp từ Singapo vào Việt Nam tăng lên nhanh
chóng, đặc biệt từ năm 1995, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của ASEAN, cùng với các nước ASEAN khác, đầu tư của Singapo vào Việt

khoảng 20% vốn thực hiện của FDI Việt Nam. Cùng với Thái Lan và Malaysia,
Singapo là một trong ba nhà đầu tư lớn nhất của ASEAN tại Việt Nam tính đến
thời điểm này. Trong 500 dự án của ASEAN, Singapo chiếm hơn 50% với 253
dự án và 6.908 triệu USD vốn đầu tư (73,02%), vốn thực hiện đạt 2.270 triệu
USD (55,7%) bỏ xa vị trí thứ hai và thứ ba của Thái Lan và Malaysia với 101,
107 dự án và vốn đầu tư lần lượt là 1.098 triệu USD, 1.078 triệu USD. [5;37]
Trong số các dự án nêu trên của các nhà đầu tư ASEAN, có 287 dự án đã
đi vào sản xuất kinh doanh (chiếm 16% số dự án đầu tư nước ngoài đã đi vào
sản xuất kinh doanh tại Việt Nam) vối tổng vốn đăng kí trên 6.060 triệu USD
(chiếm 25%) và trên 80 dự án đang trong quá trình xây dựng cơ bản (chiếm
12,9%). Những số liệu tương ứng của Singapo là 158 dự án/287 dự án của
ASEAN, với vốn đăng kí 4.729 triệu USD/6.060 triệu USD và 45 dự án/80 dự
án với vốn đăng kí 748 triệu/920 triệu USD.[Vụ Quản lí Dự án Bộ kế hoạch và
Đầu tư]
Về thương mại do một số nguyên nhân khách quan nên trước kia quan hệ
thương mại giữa Singapo và Việt Nam hầu như không phát triển. Chỉ từ khi hai
nước chính thức thiết lập cơ quan đại diện ngoại giao (năm 1991) thì mối quan
hệ này mới được cải thiện. Đặc biệt năm 1995, với sự kiện Việt Nam gia nhập
ASEAN, là mốc đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ thương mại giữa
hai nước, bắt đầu thời kỳ Singapo trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất
của Việt Nam.

11


Quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh cả về kim ngạch và cơ cấu các mặt
hàng xuất nhập khẩu, năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước là
1.152,2 triệu USD, đến năm 1995 con số này là 3.173 triệu USD và luôn giữ
được mức ổn định ở các năm tiếp theo. Năm 1999, do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Singapo


Tổng

sang

giảm

KNXK với

SGP(1)

(%)

TG (2)

Tăng,

Tỷ trọng

giảm (%)

(1)/(2) (%)

1995

636

5.448,9

11,67


9.361,0

1,9

7,57

1999

822

15,94

11.523,0

23,1

7,23

2000

885,7

7.75

14.450,0

2,4

6,13

năm có mức tăng trưởng cáo nhất tơi 31,43% và tăng cả tỷ trọng trong tổng kim
ngạch xuất khẩu với thế giới. Năm 1998, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực, mức giảm của xuất khẩu Việt Nam vào thị trường
Singapo khá lớn 12,14%, song so với tổng kim ngạch xuất khẩu với thế giới, tỷ
trọng của Singapo giảm chút ít từ 8,79% xuống 7,57%. Từ năm 1999, xuất khẩu
của Việt Nam sang Singapo hồi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng cao (trung
bình gần 12%/năm) tuy nhiên cột tỷ trọng có chiều hướng giảm xuống. lý do là
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với thế giới có mức tăng trưởng lớn hơn.
Tuy nhiên, đây lại là dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam nói chung
và thương mại nói riêng. Sáu tháng đầu năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường Singapo có xu hướng giảm sút so với năm 2001 (chỉ bằng
13


81,4% so với cùng kỳ năm ngoái). Lý do là một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam sang Singapo gặp khó khăn về khâu chuẩn bị hàng hóa của các
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Ví dụ như mặt hàng gạo, sự phối kết hợp
không chặt chẽ giữa doanh nghiệp xuất khẩu gạo và người sản xuất đã dẫn đến
hiện tượng doanh nghiệp thiếu gạo xuất khẩu trong khi lúa của người nông dân
vẫn nằm chờ trong nhà. Ngoài ra, biến động bất lợi về giá cả của một số mặt
hàng nông sản như cà phê… trên thị trường thế giới cũng là nguyên nhân làm
giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam quý I và quý II năm 2002.[15;26]
Về cơ cấu xuất khẩu:
Như trên đã trình bày, Singapo phải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu để chế
biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Mặt khác, với vị thế và điều kiện
cơ sở hạ tầng thuận lợi, Singapo còn là nơi trung chuyển hàng hóa từ klhu vực
sang nước thứ ba. Hàng Việt Nam xuất sang Singapo những năm qua cũng
nhằm đáp ứng những nhu cầu đó của thị trường. Cơ cấu các mặt hàng chủ yếu
của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô và sơ chế, có thể chia thành hai nhóm
phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng của Singapo là dầu thô, tinh

2002 mặc dù khối lượng lên tới 12.053 tấn nhưng kim ngạch giảm xuống còn
5,664 triệu S$ do bất lợi về giá cả. [17]
Cao su: Singapo nhập cao su sơ chế hoặc phẩm chất thấp để sản xuất hoặc
qua tái chế để bán sang các nước công nghiệp phát triển như Nhật, Mỹ và Tây
Âu. Giá giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa Singapo (SICOM) nhưng chủ yếu
dựa trên giá cả Hội cao su Malaysia. Giá biến động từng ngày, thậm chí từng
buổi trong ngày và theo từng chủng loại. Trong những năm 80 và đầu những
năm 90, cao su của ta chủ yếu bán sang thị trường này hoặc qua thị trường này
sang nước thứ ba. Kim ngạch của mặt hàng này từ năm 1995 đến nay chiếm tỷ
lệ đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu và biến động lên xuống phức tạp.
Năm 1995 là 22,032 triệu S$, đến năm 1996 còn 8,083 triệu S$ giảm tới 63,3%.
Sang năm 1997, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này lại tăng lên 16,117 triệu S$
tăng 99,4%, nhưng năm 1998 chỉ còn 10,401 triệu S$ giảm 35,5%. Chu kì tăng
giảm liên tục lại tiếp tục diễn ra, năm 1999 kim ngạch đạt mức lớn nhất trong
giai đoạn đoạn này là 32,08 triệu S$ tăng tới 208,4%. Song từ đó trở đi kim
15


ngạch liên tục giảm mạnh: Năm 2000 là 16,046 triệu S$ giảm tới 50%, năm
2001 chỉ đạt xấp xỉ 7,01 triệu S$ giảm hơn 56%.[6;21]
Thịt, hải sản và rau quả: Hầu hết các loại thịt, hải sản, rau quả Singapo
phải nhập để tiêu dùng nội địa. Cục Quản lý Sản xuất cơ bản thuộc Bộ phát
triển quốc gia kiểm soát việc xuất nhập khẩu thực phẩm, kể cả động vật sống,
hoa và cây các loại. Singapo có quy định và quy chế chặt chẽ về việc nhập khẩu
này. Riêng các loại thịt gia cầm, gia súc, trứng, các sản phẩm sữa, Cục quản lý
sản xuất cơ bản trực tiếp đến các nước muốn xuất khẩu thực phẩm vào Singapo
để kiểm tra hệ thống chăn nuôi, chuồng trại để đảm bảo an toàn tối đa về vệ
sinh thực phẩm, không có các loại dịch bệnh, độc tố sau đó cấp phép và chịu
trách nhiệm kiểm tra chất lượng khi hàng nhập vào Singapo. Chỉ có những
nước được cấp giấy phép sau khi Cục này kiểm tra mới được xuất khẩu sản

xuất khẩu gạo tăng trưởng khoảng 10 lần trong năm 1996 - 1999 (năm 1996 4,087 triệu S$, năm 1998 - 9,613 triệu S$, năm 1999 - 44,057 triệu S$). Sở dĩ
có sự tăng đột biến là do một số lượng lớn gạo được nhập cho Inđônêxia,
Singapo phải đứng ra bảo lãnh. Tuy nhiên, khách hàng Singapo phàn nàn gạo
của ta chất lượng không đều, nhiều hạt vàng, hay giao thiếu đầu bao nên giá cả
khó cạnh tranh với cùng chủng loại của các nước khác. Do đó, năm 2000 kim
ngạch giảm xuống còn 31,8 triệu S$. Năm 2001, xuất khẩu gạo đã hồi phục đạt
40,693 triệu S$.
Cà phê: Là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. Năm 1995,
kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này sang Singapo đạt tới 117,386 triệu S$,
song từ đó trở đi kim ngạch xuất cà phê sụt giảm liên tục và nhanh chóng. Cho
đến năm 2001 chỉ còn 5,882 triệu S$.
Ngoài nhóm mặt hàng chính đã kể trên, chúng ta còn xuất khẩu sang
Singapo những mặt hàng khác như:
Đồ nội thất (năm 2001 đạt xấp xỉ 10,587 triệu S$)
Các mặt hàng nhựa (năm 2001 - 6,1 triệu S$)
Các mặt hàng giấy (năm 2001 - 4,54 triệu S$)
Hàng hóa du lịch (năm 2001 - 7,994 triệu S$)
Thiết bị máy bơm (năm 2001 - 11,39 triệu S$)
Thiết bị điện (năm 2001 - 12,730 triệu S$)
Thiết bị mạch điện (năm 2001 - 6,897 triệu S$)
17


(Số liệu từ tháng 1 đến cuối tháng 11 năm 2001). [14]
Trong khi kim ngạch của một số mặt hàng nông sản truyền thống như cà
phê, gia vị… có xu hướng giảm sút thì một số nhóm hàng công nghiệp lại tăng
trưởng khá mạnh về kim ngạch. Có thể kể đến như nhóm thiết bị thu truyền
hình năm 2001 tăng 167,9% đạt kim ngạch 18,642 triệu đô la. Năm 2001 là một
năm khó khăn của kinh tế Singapo, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của ta sang
thị trường này đều bị ảnh hưởng bất lợi thì sự tăng trưởng của mặt hàng này là


Tỷ trọng so với

(Triệu USD)

ASEAN (%)

thế giới (%)

1996

2.076

68,4

19

1997

2.075

65,3

18

1998

2.292

61,5


53

13

Năm

Nguồn: Bộ thương mại
Nhìn vào bảng trên, ta có nhận xét kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ
Singapo liên tục tăng theo các năm. Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu
kể từ khi có quan hệ buôn bán với Singapo, thâm hụt cán cân thương mại giữa
Việt Nam với Singapo luôn ở mức cao.
Mấy năm gần đây, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu như: xăng dầu các loại, phân
bón các loại, xi măng các loại, máy móc thiết bị phụ tùng, sắt thép, linh kiện xe máy
các dạng CKD, SKD, IKD… trong đó phần quan trọng là thiết bị, máy móc, vật tư
nguyên liệu cho các liên doanh, đầu tư nước ngoài. Như vậy, tuy tỷ trọng nhập siêu
cao nhưng tập chủ yếu vào những mặt hàng tư liệu, vật tư cho sản xuất công nông
nghiệp và các ngành sản xuất nhập khẩu năm 2000 - 2005.
Có thể nói từ năm 1996 đến năm 2002 tình trạng nhập siêu từ thị trường
Singapo nhìn chung vẫn ở mức cao. Tình trạng này là do ta nhập khẩu hàng
nguyên vật liệu, nhiên liệu còn hàng tiêu dùng chiếm lượng nhập khẩu không
nhiều và càng có xu hướng giảm thiểu.
Trong tương lai, với thị trường Singapo Việt Nam chưa thể thoát khỏi nhập
siêu ngay được. Bởi vì thị trường này có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu nhập
khẩu của Việt Nam, kể cả nhập khẩu đáp ứng cho các nhu cầu của các liên
19


doanh với nước ngoài tại Việt Nam. Về lâu dài, thị trường Singapo vẫn là thị
trường nhập khẩu đầy tiềm năng, bạn hàng tập trung, trong đó phải kể đến sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status