Thùc hiÖn an sinh x· héi cho c«ng nh©n n÷
ë c¸c khu c«ng nghiÖp tØnh ®ång nai hiÖn nay
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 08
HÀ NỘI – 2015
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
An sinh xã hội
Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Chủ nghĩa xã hội
Khu công nghiệp
Người lao động
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
ASXH
BHTN
BHXH
BHYT
CNXH
KCN
NLĐ
XHCN
LƯỢNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI CHO
CÔNG NHÂN NỮ Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.1.
TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
Các nhân tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng thực
55
hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp
2.2.
tỉnh Đồng Nai hiện nay
Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng thực hiện an
55
sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh
Đồng Nai hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
61
79
82
88
MỞ ĐẦU
cũng đã có những chính sách ưu đãi “trải thảm đỏ”, khuyến khích hợp lý nên
đã thu hút được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, khiến cho tỉnh
Đồng Nai trở một vùng kinh tế trọng điểm, phát triển năng động của phía Nam
cũng như của đất nước. Từ đó, đội ngũ công nhân KCN tỉnh Đồng Nai có sự
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; có nhiều đóng góp to lớn vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung.
Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai đã thực hiện khá tốt ASXH, tạo điều kiện
cho công nhân nói chung và công nhân nữ nói riêng hoàn thành tốt nhiệm vụ
của mình. Tuy nhiên hiện nay, đội ngũ công nhân tỉnh Đồng Nai nói chung,
công nhân nữ KCN nói riêng đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, khó khăn,
thách thức. Đó là tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm diễn ra thường
xuyên do chưa qua đào tạo nghề hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nghiệp vụ
nên chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển sản xuất; tình trạng bị bóc lột quá mức
và thực hiện không nghiêm các chế độ, chính sách của các chủ sở hữu lao
động, do đó công nhân phải đối mặt với các tai nạn rủi ro trong quá trình lao
động; mắc các bệnh nghề nghiệp và các tệ nạn xã hội; tình trạng thiếu nhà ở
cho người công nhân lao động, nhà trẻ, trường học cho con em công nhân đang
diễn ra phổ biến… Họ còn bị phân biệt đối xử trong khi tham gia lao động so
với nam giới. Chẳng hạn lao động nữ thường bị trả lương thấp hơn so với lao
động nam. Ngoài ra, công nhân nữ còn phải nghỉ để sinh con, chăm sóc con
nhỏ và làm tất cả các công việc gia đình mà không có chế độ hỗ trợ. Việc đáp
ứng các nhu cầu cho phụ nữ như: y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản,
dịch vụ pháp lý… còn rất hạn chế. Điều này tạo ra khó khăn cho lao động nữ
KCN tỉnh Đồng Nai trong việc tiếp cận và được hưởng các chế độ ASXH.
4
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện an sinh xã hội cho
công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm luận văn
TS Lê Chi Mai (2001), “Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình
chính sách” - Nxb Đại học Quốc gia TP HCM.
PGS,TS Bùi Thế Cường (2002) “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở
Việt Nam thập niên 90” - Nxb Khoa học xã hội.
Trường Đại học Lao động xã hội (2004), “Các bài giảng ưu đãi xã hội,
bảo hiểm xã hội, công tác xã hội” - Nxb Lao động xã hội.
Phạm Văn Bích (2005), “An sinh xã hội qua tổng quan một số tài liệu”,
Viện Xã hội học.
TS Mạc Tiến Anh (2005), “Khái luận chung về an sinh xã hội”, Tạp chí
Bảo hiểm xã hội, (số 1, 2, 4). Trong đó tác giả đã đề cập đến khái niệm, bản
chất, tính tất yếu khách quan và các bộ phận của ASXH. Đồng thời, tác giả
cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và ASXH ở Việt Nam.
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (1993), “Một số vấn đề về chính
sách Bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp Nhà nước mã số KX 0405.
Sách chuyên khảo về lý luận chung và hệ thống chính sách ASXH của
nhóm tác giả: Nguyễn Anh Dũng, Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi
Văn Huyền (2009), Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội: Phân tích thực tiễn ở
Đồng Nai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trịnh Duy Luân (2006) “Góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội
tổng thể ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, ( số1, số 93)
TS Mai Ngọc Cường (chủ biên) (2009) Xây dựng và hoàn thiện hệ
thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam của, Nxb CTQG, Hà Nội.
TS Nguyễn Hữu Dũng (2012). Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng
và thực hiện hệ thống chính sách an sinh xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
6
Nguyễn Trọng Đàm, “Vấn đề cấu trúc, mô hình và cách vận hành các trụ
thị trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.
Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Hương (2011), Pháp luật An sinh xã hội Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam của, Nxb CTQG, Hà Nội.
TS Nguyễn Văn Nhường và Nguyễn Thành Độ (2011), Bàn về chính
sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các
khu công nghiệp - qua nghiên cứu ở tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Cộng sản, (số 823
tháng 7/2011, tr.46)
TS Lưu Ngọc Khải (chủ nhiệm) (2011), Nội dung, phương thức vận dụng
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về an sinh xã hội trong giảng dạy chủ
nghĩa xã hội khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay, Đề tài cấp học viện.
TS. Mai Ngọc Cường (2012), An sinh xã hội với dân cư nông thôn - hiện
trạng và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội
Đàm Hữu Đắc (3-2011), “Xây dựng và phát triển nghề công tác xã hội
chuyên nghiệp ở nước ta” của Tạp chí Cộng sản, (Số 821).
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2010) “Bảo đảm ngày càng tốt
hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020”, Báo Nhân dân, (Số 20135), tr3.
PGS,TS Phạm Xuân Hảo “An sinh xã hội - nội dung quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục
lý luận chính trị quân sự, (Số 1), năm 2012.
Tóm lại, các công trình khoa học trên đã đề cập vấn đề ASXH ở nhiều
chiều cạnh khác nhau, trong đó tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
Khẳng định ASXH là vấn đề xã hội phức tạp, mang tính toàn cầu liên
quan đến sự ổn định, phát triển bền vững của tất cả các quốc gia, đòi hỏi phải
phát huy tất cả các nguồn lực trong và ngoài nước, sự hợp tác giữa các quốc
gia dân tộc để giải quyết có hiệu quả.
8
Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Nhà nước chính
Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng thực
hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát thực trạng thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các
KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay, trong đó tập trung vào các KCN điển hình như: Biên
Hòa 1, 2; AMATA; Tam Phước. Các số liệu khảo sát tính từ năm 2009 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận: là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khoa học, cụ thể như: lô gíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh,
thống kê, điều tra xã hội học… để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa của đề tài
Với việc làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải
pháp nâng cao chất lượng thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh
Đồng Nai hiện nay, luận văn góp phần vào việc đưa ra những cơ sở khoa học để
các cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Nai tham khảo, vận dụng trong lãnh đạo,
chỉ đạo và đưa ra những quyết sách nhằm thực hiện tốt ASXH cho công nhân
nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
một số chủ đề của các bộ môn có liên quan.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, kiến nghị, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
10
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và
yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh
tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ
tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi
ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này
là BHXH) đã mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người
lao động đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của
mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ
nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu
mà tất cả đều phải tham gia đóng góp.
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ
Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được
độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức
truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ
những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn
tật, trẻ em mồ côi, người góa bụa và những người không may gặp rủi ro vì
thiên tai, hỏa hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự
phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ
trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức,
chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH
được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở
từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính.
Vào thời điểm đó, tuy Mác - Ăngghen chưa đưa ra một quan niệm hoàn
chỉnh về ASXH, nhưng trong tư tưởng của Mác - Ăngghen, đặc biệt là lý luận
của các ông về xã hội, xã hội chủ nghĩa đã thể hiện đậm nét quyền con người,
tính nhân đạo, nhân văn, tính công khai, dân chủ và công bằng xã hội trong
12
Năm 1946, sau 4 ngày Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát
biểu: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì
tự do độc lập cũng chẳng làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm
cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành” [48 tr.152]
Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao
cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Câu nói này đã toát lên triết lý về
an sinh xã hội của Hồ Chủ tịch.
Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật
năm 1935 ở Mỹ. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ
tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng.
Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. An sinh
xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người.
Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết:
“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH.
Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần
cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”. Ngày 25/6/1952, Hội nghị
toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH
trong đó xác định 9 bộ phận cấu thành của an sinh xã hội gồm: (I) Hệ thống chăm
sóc y tế; (II) Hệ thống trợ cấp ốm đau; (III) Trợ cấp thất nghiệp; (IV) Hệ thống trợ
cấp tuổi già; (V) Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; (VI) Trợ cấp
gia đình; (VII) Trợ cấp thai sản; (VIII) Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tự
chăm sóc được bản thân (trợ cấp tàn tật); (IX) Trợ cấp tiền tuất.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70
thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả
chức Lao động quốc tế định nghĩa:“An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối
15
với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công nhằm
chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị
ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật
trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm
sóc y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đã xác định, tác giả tiếp cận nghiên cứu
ASXH theo nghĩa này.
Qua khái niệm trên cho thấy, về mặt bản chất, ASXH là vấn đề mang
tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, nó tạo ra sự “an sinh” cho mọi
thành viên, góp phần bảo đảm đời sống và thu nhập cho mọi người trong xã
hội với phương thức hoạt động chủ yếu là thông qua các biện pháp công. Xét
về mô hình: ASXH bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp
ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất.
Đây là mô hình ASXH tương đối phổ biến được hầu hết các quốc gia trên thế
giới trong đó có Việt Nam thừa nhận. Tuy nhiên, việc thực hiện đầy đủ các
chế độ an sinh trên còn tùy thuộc vào nhu cầu bức thiết, điều kiện kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia, nhưng theo xu hướng chung trên thế giới, ASXH sẽ mở
rộng dần về quy mô và chất lượng thực hiện của từng chế độ.
Bên cạnh khái niệm trên, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà
khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn:
Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (18791963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo
đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.
Trong cuốn “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” tập I cũng đã thống
nhất khái niệm về an sinh xã hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của xã hội
đối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục
dịch vụ xã hội… mà nhà nước, cộng đồng dân cư, nhóm người hay một tổ
chức (gồm các cá nhân, tập thể hay cộng đồng) tạo nên. Nó mang đến cho
những đối tượng nghèo đói, yếu thế, gặp rủi ro bất thường về các nhu cầu cơ
bản khi họ phải đối diện với khó khăn, thách thức.
17
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tác
giả luận văn quan niệm: An sinh xã hội là một bộ phận cơ bản trong chính sách
xã hội của nhà nước và cộng đồng nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn
chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong xã hội do bị mất hoặc giảm
thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất
nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, để bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống
cho các thành viên trong xã hội.
An sinh xã hội là những chế độ chính sách của nhà nước và cộng đồng để
góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương
thức hoạt động của ASXH là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích của
ASXH là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội trong mọi hoàn
cảnh. Vì vậy, ASXH mang tính xã hội, tính nhân văn sâu sắc.
* Bản chất của an sinh xã hội
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
An sinh xã hội đó là sự bảo đảm của xã hội với các thành viên; là thể
hiện quyền con người, tính nhân văn, nhân đạo và hướng tới tiến bộ, công
bằng xã hội. Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công
cộng. Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước
những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập….
Bản chất của ASXH được thể hiện như sau:
Thứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên
hợp quốc và các quốc gia tiến bộ trên thế giới thừa nhận. Mọi người sinh ra
đều có quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc… đó là quyền con người
bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm.
- Hai là, sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và
các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động,
duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộc
sống của con người, kể cả phát triển bản thân con người.
19
- Ba là, các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật…) cho những
người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự
giúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyến khích,
thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn,
ở, dịch vụ đi lại…
Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay
thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những
chuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiền
bạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn
(hiểu một cách tương đối, biện chứng nhất) trong cộng đồng xã hội.
Như vậy, bản chất của ASXH trước hết là nhằm thực hiện quyền con
người, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi.
Thứ hai, ASXH là thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp của con người
và xã hội loài người.
Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác
nhau… là biểu hiện sự khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội. Nhưng vượt
lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để
phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội,
chủng tộc, tôn giáo… An sinh xã hội tạo cho những người bất hạnh, những
người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều
kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã
ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp
đóng” tương đối).
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức
mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp,
cho những nhóm người “yếu thế”. Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện
bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu
nhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc
các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…).
Việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một
“tập hợp mở” tương đối).
21
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còn
gặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức. Song cũng có thể có
một số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhập
thấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp. Những người có thu
nhập thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ sử
dụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn. Hệ thống trợ cấp cũng
lưu ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với những
người có thu nhập cao). Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đã
tạo ra một lưới ASXH (social safety net hoặc social security net) để thực hiện
công bằng xã hội và tiến bộ xã hội. không những thế, đến nay người ta đã ý
thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố
kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau. Sự phát triển của
thế giới trong những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm những cải thiện
nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người;
bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã
hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thu
nhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường… Đáp ứng
của hợp phần này là các chính sách, chương trình về thị trường lao động tích
cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng
cao kỹ năng cho người lao động.
Thứ hai: các chính sách, chương trình mang tính chất giảm
thiểu rủi ro.
Đây là hợp phần thứ hai, có vị trí đặc biệt quan trọng gồm các chiến
lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống ASXH. Nội dung quan
trọng nhất trong hợp phần này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên
tắc đóng - hưởng như: BHXH, BHYT, BHTN.v.v. Chính sách thuộc hợp
phần này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của
người dân, tiết kiệm nguồn lực nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống. Ngược
lại, nếu chính sách không phù hợp người dân sẽ không tham gia hoặc chính
sách bị lạm dụng.
Thứ ba: các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro.
23
Bao gồm các chính sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội
(gồm cả trợ giúp xã hội đặc thù). Đây được coi là hợp phần cuối cùng của hệ
thống ASXH với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ
gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được như: thất nghiệp,
người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em
mồ côi, người nghèo. Các chương trình trong hợp phần này thường là cứu trợ
xã hội và trợ giúp xã hội
* Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam hiện nay
Ngay từ năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính
sách, tuy còn đơn lẻ, chưa thành hệ thống nhưng có ý nghĩa rất quan trọng về
ASXH, đưa nước ta thoát khỏi tình thế hiểm nghèo…
Đến năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta chủ
trương đổi mới toàn diện đất nước, khơi dậy mọi nguồn lực, tiềm năng, thế