Bước đầu tìm hiểu tình hình giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên hùng vương thành phố việt trì tỉnh phú thọ giai đoạn (1982 – 2012) - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HÙNG VƯƠNG
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN (1982 – 2012)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HÙNG VƯƠNG
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN (1982 – 2012)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Phí Thị Toan

SƠN LA, NĂM 2015




Khoa học công nghệ

KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình

NXB

Nhà xuất bản

THPT

Trung học phổ thông

TCN

Trước Công nguyên

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

2.2.1. Mạng lưới lớp học ..................................................................................... 28


2.2.2. Đội ngũ giáo viên, số lượng học sinh ....................................................... 29
2.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. ....................................... 32
2.2.4. Công tác quản lý giáo dục và nguyên lý “học kết hợp với hành”……….32
2.2.5. Kết quả học tập .......................................................................................... 33
2.3. Tình hình giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương
giai đoạn 2002 - 2012 .......................................................................................... 34
2.3.1. Mạng lưới lớp học ..................................................................................... 34
2.3.2. Đội ngũ giáo viên và số lượng học sinh. ................................................... 35
2.3.3. Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ........................................ 37
2.3.4. Công tác quản lý giáo dục và nguyên lý “học kết hợp với hành”............. 38
2.3.5. Kết quả học tập .......................................................................................... 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 40
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU VÀ YẾU KÉM CỦA TRƯỜNG
THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG .................................................................. 41
3.1. Những thành tựu ........................................................................................... 41
3.2. Tồn tại yếu kém ............................................................................................ 46
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn khóa luận
Giáo dục - đào tạo luôn là vấn đề chiến lược của bất kì quốc gia nào.
Trong định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng nêu rõ: "Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc
sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với KH-CN là nhân tố
quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư

+ Làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về tình hình giáo
dục và phát triển của các trường THPT nói chung và trường THPT chuyên Hùng
Vương nói riêng,
+ Góp phần giáo dục truyền thống hiếu học cho các thế hệ sau
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều tài liệu viết về trường trung học phổ thông chuyên Hùng
Vương như tháng 5- 1988 Nguyễn Văn Công đã viết: Quá trình chuyển mình
của trường THPT chuyên Hùng Vương, bài viết đã dựng lại quá trình hình
thành và phát triển về cơ sơ vật chất của trường THPT chuyên Hùng
Vương.Tiếp đến năm 1990 thành phố đã tổ chức : Hội nghị trao đổi về phương
pháp dạy và học của các trường THPT trong tỉnh. Các báo cáo tổng kết về số
lượng lớp học,số lượng học sinh, số lượng giáo viên, và kết quả học tập qua
các năm từ 1982 đến 2012.
Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào nghiên cứu hoàn chỉnh về tình hình giáo dục
của trường THPT chuyên Hùng Vương một cách toàn diên và có hệ thống. Với
khóa luận này, tôi sẽ tiếp tục quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về trường
THPT chuyên Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của khóa luận
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: "Tình hình giáo dục của trường trung học phổ
thông chuyên Hùng Vương giai đoạn 1982 - 2012".
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu về quá trình thành
lập và tình hình giáo dục của trường THPT chuyên Hùng Vương giai đoạn từ
1982 đến 2012.
Về không gian: Khóa luận chỉ giới hạn trong phạm vi của thành phố Việt
Trì tỉnh Phú Thọ.

3


4


Hai là: Đây là nguồn cung cấp tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và tìm
hiểu, sưu tầm về lịch sử của các trường THPT nói chung và trường THPT
chuyên Hùng Vương nói riêng.
Ba là: Qua việc phân tích và đánh giá để thấy được những thành tựu và
hạn chế của trường THPT chuyên Hùng Vương, từ đó nêu lên được những giải
pháp để giải quyết những hạn chế đó.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1. Khái quát về thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Chương 2. Tình hình giáo dục của trường của trung học phổ thông
chuyên Hùng Vương thành phố Việt Trì từ 1982 - 2012
Chương 3. Những thành tựu và hạn chế của trường trung học phổ
thông chuyên Hùng Vương thành phố Việt Trì.

5


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ
1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Việt Trì là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang địa
hình đồng bằng, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng. Từ trung tâm thành phố
nhìn về phía Tây là núi Ba Vì; phía Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo; ở phía TâyTây Bắc là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ các vua Hùng.Thành phố Việt Trì
nằm đối diện với huyện Ba Vì và Hà Nội qua sông Hồng. Việt Trì có tọa độ
21o18’ Bắc,105o26’ Đông.

khu vực chiếm giữ của tướng Kiều Công Hãn, thời Lý - Trần Việt Trì thuộc về
châu Thao Giang, lộ Tam Giang, Thời nhà Lê Việt Trì là một thôn thuộc xã
Bạch Hạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây. Đầu thời Nguyễn, địa giới Việt Trì cơ
bản vẫn giữ như thời Hậu Lê.
Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các
trấn trong cả nước thành tỉnh. Thôn Việt Trì thuộc về xã Bạch Hạc, huyện Bạch
Hạc, phủ Tam Đái; sau đổi thành phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây.
Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp xáo trộn lại các đơn vị hành
chính cũ, lập ra những tỉnh mới nhỏ hơn trước để dễ quản lý và đàn áp. Việt Trì
tách khỏi xã Bạch Hạc, trở thành một làng trong tổng Lâu Thượng, huyện Hạc
Trì; còn xã Bạch Hạc vẫn nằm trong huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Yên. Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến đường giao thông thủy,
bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ có vị trí quan trọng về mặt kinh tế mà còn là
tiền đồn trọng điểm về quân sự. Ngày 22 tháng 10 năm 1907, toàn quyền Đông
Dương ra Nghị định thành lập thị xã Việt Trì và đặt trung tâm huyện lỵ Hạc Trì
tại đây, cách mạng tháng 8 thành công, Việt Trì thuộc liên xã Sông Lô bao gồm
các xã: Lâu Hạ, Hạ Giáp, Thuần Lương, Việt Trì làng và Việt Trì phố.
Về mặt địa chất, đất đai ở Việt Trì thuộc vùng đất cổ có niên đại cách đây
từ 50 đến 200 triệu năm. Theo tài liệu khảo cổ học cách ngày nay khoảng 2 vạn
năm, ở đây đã có sự định cư của người Việt cổ. Khoảng 2700 năm trước Vua
Hùng đã chọn nơi này làm đất đóng đô của nhà nước Văn Lang. Trải qua biết

7


bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất Việt Trì đã nhiều lần thay đổi ranh giới
hành chính và sự phân cấp quản lý hành chính.
Với cấu trúc địa hình nói trên, vùng thành phố Việt Trì có vùng trung du
chiếm diện tích trên 50% đất đai, độ dốc bình thường, thích hợp cho việc trồng
các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Vùng đồng

là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ, là
vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng. Ngay từ buổi bình minh
dựng nước, các vua Hùng đã chọn vùng đất này làm kinh đô của nước Văn Lang
- nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các
thế hệ người dân Việt Trì đã đoàn kết bên nhau khắc phục thiên tai, đấu tranh
chống giặc ngoại sâm, biến đất hoang thành những cánh đồng tươi tốt, những
xóm làng, phố xá đông vui, trù phú… Việt Trì có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, đa dạng tạo điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa
với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế
với cơ cấu đa dạng nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp.
Thế mạnh kinh tế của huyện là nông nghiệp. Cây lúa được trồng ở các
vùng bãi ven sông. Cây công nghiệp và cây ăn quả được trồng ở các vùng đồi
núi. Toàn thành phố hiện có 1.200 ha chè, cung cấp nguồn nguyên liệu khá ổn
định cho các nhà máy chế biến chè ở địa phương. Ngành chăn nuôi cũng phát
đang từng bước đẩy mạnh cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, tăng diện tích
gieo trồng lên 28.567 ha. Phát triển chăn nuôi toàn diện, đa dạng hóa vật nuôi,
tăng đàn bò lên 30 ngàn con, hàng năm cung cấp 4.200 tấn sữa và 1.400 tấn thịt.
Quy hoạch 4 khu vành đai rau sạch có diện tích hàng chục ha. Với đặc thù đất
chia làm ba vùng là núi, bán sơn địa và đồng bằng , những năm qua Việt Trì còn
đẩy mạnh thực hiện các dự án chăn nuôi bò sữa, bò thịt, trồng chè, nuôi trồng
thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… phù hợp từng vùng để khai thác thế
mạnh. Đến nay, diện tích trồng chè toàn huyện chiếm khoảng 1.650 ha, sản
lượng hàng năm đạt gần 13 nghìn tấn, giá trị đạt trên 50 triệu đồng/ha; tổng đàn
bò sữa đạt gần 3.000 con, đàn bò thịt phát triển mạnh với hơn 50.000 con. Ngoài
ra, Việt Trì còn định hướng các xã vùng bán sơn địa và miền núi phát triển chăn
nuôi lợn quy mô lớn. Toàn thành phố hiện có gần 100 trang trại chăn nuôi lợn
tập trung với quy mô (600 – 2.000 con). Đối với 15 xã đồng bằng, huyện chỉ đạo
đưa giống mới năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, đồng thời chuyển giao
9


thuế. Sưu cao thuế nặng, cộng với các khoản phụ thu, làm cho đa số nông dân bị
10


bần cùng hóa. Ngoài ra, nông dân phải chịu thêm nhiều hình thức bóc lột hết sức
nặng nề. Nạn cho vay nặng lãi "Điền thương" cứ lãi xuất hàng tháng từ 5 đến
10% trong một tháng đã làm cho nhiều gia đình mất ruộng. Đồng thời, thực dân
Pháp còn thực hiện chính sách "chia để trị" với các thủ đoạn tuyên truyền lừa
bịp nhằm chia rẽ dân tộc. Chúng khuyến khích chia bè phái, tranh dành quyền
lực giữa các dòng họ, nhằm làm yếu đi khối đoàn kết toàn dân để dễ bề cai trị.
Song song với chế độ hà khắc của thực dân, Pháp còn sử dụng bọn tay sai để
làm việc cho chúng. Đây chính là lực lượng tay sai trực tiếp bóc lột nhân dân lao
động, làm cho đời sống nhân dân càng thêm điêu đứng. Các hình thức siêu cao,
thuế nặng, bóc lột tô tức cùng các lệ làng hủ tục, khắc nghiệt, tệ nạn xã hội đẩy
người dân đến đói rét lầm than.
Hiện nay, Việt Trì cũng là địa phương có các hoạt động xã hội rất tốt, tiêu
biểu là hoạt động xóa đói giảm nghèo. Năm 2009 toàn thành phố đã giải quyết việc
làm cho 10.500 lao động; xóa được 3.116 hộ nghèo, giảm 3,2% so với đầu năm
2009, nhân dân gia sức thi đua lập nghiệp đưa thành phố Việt Trì đi lên.
Giao thông ở thành phố Việt Trì xưa kia là đường thủy trên 3 con sông là
sông Hồng, Sông Đà, Sông Lô là cửa ngõ nối liền giữa miền xuôi với miền
ngược, trong nội tỉnh với ngoại tỉnh. Việt trì với vai trò là thành phố công
nghiệp, vị trí là thành phố ngã 3 sông và là thành phố lễ hội về với cội nguồn
trước năm 2015 nên trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng của thành phố được
đầu tư xây dựng khá đồng bộ. Nhiều tuyến đường được đầu tư cải tạo, nâng cấp,
xây mới theo đúng tiêu chuẩn đường nội thị đảm bảo giao thông luôn được
thông suốt. Việc vận chuyển hàng hoá thuận lợi trên cả đường ôtô, đường sắt,
đường sông,...
Thành phố Việt trì có các cảng sông Cảng Bạch Hạc (Phường Bạch
Hạc), Cảng Việt Trì (Phường Bến Gót), Cảng Dữu Lâu (Phường Dữ Lâu),

ở Phù Ninh và còn rất nhiều lễ hội khác.
Cư dân chủ yếu theo tôn giáo như phật giáo, thiên chúa giáo ở trong tỉnh
đã xây dựng các nhà thờ như nhà thờ ở Vân Cơ, Tiên Cát.
1.2. Sơ lược về truyền thống của nhân dân Việt Trì.
1.2.1. Truyền thống đấu tranh.
Nhân dân Việt trì đã trải qua muôn vàn khó khăn trong cuộc đấu tranh giữ
nước, ngay khi mới được thành lập quân ta đã phải kháng chiến chống quân Tần
12


năm 221 TCN lúc đó người Lạc Việt và Âu Việt đã hợp sức chiến đấu kiên
cường chống kẻ thù chung. Người Việt“ đều vào rừng không để giặc bắt, họ cử
người tài giỏi làm tướng để đánh quân Tần”
Với lối đánh linh hoạt sau 6 năm người Âu Lạc đã đại phá được quân Tần,
đây là chiến thắng vẻ vang oanh liệt của dân tộc ta. Tiếp theo là các cuộc đấu
tranh chống quân Hán xâm lược, đến đầu thế kỉ XIII đến XV là chống quân
Nguyên Mông tới 3 lần tiếp theo đó là cuộc kháng chiến chống quân Minh vào
thế kỉ thứ XV, qua đây có thể thấy rằng ngay vào buổi dựng nước nhân dân Việt
Trì hòa chung với nhân dân cả nước chống lại các nước xâm lược. Đây cũng là
cơ sở để hình thành các căn cứ kháng chiến chống Pháp ở Việt Trì.
Trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954 nhân dân Việt Trì đã phối
hợp với nhân dân trong tỉnh chiến đấu anh dũng như những cái tên Mai Văn
Giáp, Nguyễn Quang Bích, Đốc Ngữ đã lưu vào sử sách muôn đời. Trong 9 năm
kháng chiến trường kì gian khổ, quân dân Việt Trì đã có 462 trận lớn, nhỏ, dệt
186 tên địch và bắt sống 13 tên, làm bị thương nhiều tên khác, đồng thời đóng
góp hàng vạn ngày công, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm phục vụ chiến
tranh. Với thành tích đó quân, dân Việt Trì đã được Đảng và Chính phủ tặng
nhiều phần thưởng cao quý: 190 huân chương kháng chiến chống pháp hạng
nhất, 214 hạng hai, 314 hạng 3 và 420 huy chương, nhân dân xã Chính Nghĩa
được tặng cờ danh hiệu “anh hùng du kích” của liên khu Việt Bắc.

biệt là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng đến nay tình hình kinh tế xã
hội đã có bước phát triển và luôn là đơn vị đứng đầu tỉnh trong hầu hết các lĩnh
vực, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao.
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của
tỉnh Phú Thọ, là một trong những cái nôi của nền công nghiệp miền bắc với các
ngành như: dệt, làm giấy, hóa chất, sứ cùng với đó là sự phát triển của các cấp,
các ngành làm cho nền kinh tế, vì vậy thành phố này đã được Thủ tướng Chính
phủ cho phép đầu tư để thành phố Việt Trì trở thành một trong 11 đô thị lớn
nhất.

14


TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy qua đây cho ta thấy Việt Trì là thành phố rất phát triển, là đô thị
loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ với nền kinh tế phát triển có nhiều khu công
nghiệp có kĩ thuật cao đáp ứng nhu cầu việc làm cho người dân địa phương, có
nhiều trường học, trường đại học, cao đẳng, trung cấp và trung cấp nghề.
Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam. Nơi có
kinh đô Văn Lang - kinh đô đầu tiên của người Việt quê hương của đất tổ vua
Hùng. Đây cũng là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối các tỉnh trung
du và miền núi phía Bắc với các tỉnh đồng bằng. Thành phố còn là điểm nhấn, là
nét đẹp là văn hóa của tỉnh Phú Thọ.



Lễ hội đền Hùng thc tại Đền Hùng ngày 10 tháng Ba âm lịch, h




tại phường Tân Dân, thành phố Việt Trì. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của
trường vì chuyển từ thị xã Phú Thọ về thành phố Việt Trì cơ sở hạ tầng thiếu
16


thốn chủ yếu là nhà cấp 4, không đủ lớp học cho học sinh, trình độ giáo viên còn
hạn chế, chất lượng đào tạo còn kém, tình trạng thiếu giáo viên vẫn xảy ra, học
sinh liên tục phải học 3 ca, số lượng đầu sách giáo khoa và sách tham khảo cho
giáo viên và học sinh không đủ dẫn đến tình trạng học sinh không có sách để
học, giáo viên thiếu các thiết bị để lên lớp. Người ta nói: "Lửa thử vàng, gian
nan thử sức", chính vì vậy, thầy và trò của trường THPT chuyên Hùng Vương
đã cùng nhau vượt mọi khó khăn và đạt được những thành tích đáng nể. Tỷ lệ đỗ
tốt nghiệp rất cao,năm sau cao hơn so với các năm trước. Học sinh có hạnh kiểm
tốt đạt trên 80%, các Tôi luôn luôn ngoan ngoãn lắng nghe, luôn tìm tòi, phát
hiện ra cái mới để đưa sự nghiệp giáo dục của trường phát triển.
Trong giai đoạn 1982 đến 1986 trường THPT chuyên Hùng Vương đã đạt
được những thắng lợi to lớn và đáng tự hào. Hệ thống giáo dục mạng lưới lớp
học được mở rộng, đội ngũ giáo viên và số lượng học sinh không ngừng tăng
lên, công tác quản lý giáo dục đã hoạt động có hiệu quả, chặt chẽ, chất lượng
đào tạo được nâng lên đáng kể.
Năm học 1982 - 1983 đây là năm học đầu tiên trường THPT chuyên
Vương thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đại hội nêu rõ
vấn đề phát triển giáo dục là vấn đề quan trọng phát huy thành quả đổi mới giáo
dục của tỉnh trường THPT chuyên Hùng Vương cũng hòa chung vào sự nghiệp
đó. Đây là giai đoạn mà trường vẫn còn ở thị xã Phú thọ trường còn gặp rất
nhiều khó khăn tuy nhiên được Đảng và Nhà nước quan tâm thầy cô tận tình với
trường lớp. Vì vậy mà hệ thống giáo dục được củng cố, hệ thống lớp học được
mở rộng.
Hệ thống lớp học trong giai đoạn 1982-1986 là:



3

1982 – 1983

2

1983 – 1984

2

1984 – 1985

2

1985 – 1986

2

1982 – 1983

2

1983 – 1984

2

1984 – 1985

2

Từ năm 1982 – 1986 trường đã tổ chức thao giảng để chọn giáo viên dạy
giỏi, kết quả: hàng năm đều có trên 15 giáo viên là giáo viên giỏi cấp trường
trên 5 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh. Đa số giáo viên giỏi phát huy tác
dụng tốt trong giảng dạy. Từ thực tiễn thi đua trở thành giáo viên giỏi, một số
giáo viên trở thành cán bộ quản lý trường học. Do vậy, đội ngũ quản lý cả
trường đã cơ bản chuẩn hóa về đạo đức, chuyên môn và trình độ quản lý, có
tiềm lực phát triển.
Nét đẹp của các cá nhân xuất sắc dám nghĩ dám làm, dũng cảm vượt qua
khó khăn, đó chính là lòng yêu nghề, yêu học sinh của mỗi giáo viên. Người cán
bộ đốt lên ngọn lửa nhiệt tình, hăng say đã tạo nên chất keo gắn bó, đoàn kết của
đội ngũ giáo viên. Nét đẹp của người giáo viên còn thể hiện ở tinh thần, phương
pháp làm việc khoa học, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đúc kết kinh nghiệp,
thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh
một cách đầy đủ và dễ hiểu nhất. Sự kết hợp hữu cơ giữa đạo đức, tự học và
sáng tạo trong giảng dạy, giáo dục. Người thầy luôn tâm huyết với nghề nghiệp,
yêu học sinh như yêu con mình, luôn tự học, trăn trở, suy nhĩ tìm tòi cái mới
trong bài vở, sách báo, luôn gần gũi hiểu biết tâm hồn của học sinh. Tìm ra điểm
mạnh, điểm yếu của các Tôi về kiến thức, phương pháp học tập từ đó tìm cách
giúp đỡ các Tôi chủ động say xưa đạt được nhiều thành tích. Tiêu biểu là các
thầy, các cô: Nguyễn Ngọc Bích, Trần Văn Huyên, Đỗ Tráng Thụ, Trần Văn
Hà, Vũ Minh Hùng, Nguyễn Thị Huế, Cù Huy Quang, Trần Thị Mai Phương....
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status