Những yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ em trong gia đình - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA
CỦA TRẺ EM VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN
ĐẾN TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

--------------

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA
CỦA TRẺ EM VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN
ĐẾN TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)

Chuyên ngành: Xã hội học

Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học Xã hội,
Lãnh đạo Khoa Xã hội học, Hội đồng khoa học của Khoa Xã hội học - Học viện
Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện để nghiên cứu sinh được thực hiện và hoàn thành
chương trình nghiên cứu của mình. Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các
cán bộ của Khoa Xã hội học, các nghiên cứu sinh khác vì sự hỗ trợ trên phương diện
hành chính, hợp tác có hiệu quả trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học của mình.
Nghiên cứu sinh xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Thanh
niên và các đồng nghiệp, bạn bè thân hữu đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi, hỗ trợ
thực hiện thu thập dữ liệu, triển khai khảo sát thực địa.
Cuối cùng là sự biết ơn tới gia đình và những người bạn thân thiết vì đã có sự
động viên liên tục, kịp thời cũng như cảm thông, chia sẻ về thời gian, sức khỏe và
các khía cạnh khác của cuộc sống trong suốt quá trình hoàn thành luận án.
Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa


CỤM TỪ VIẾT TẮT

BVCSGDTE

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

BVCSTE

Bảo vệ, chăm sóc trẻ em

THCS


1.1. Các nghiên cứu trên thế giới.................................................................................................... 15
1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam .................................................................................................... 31
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ........................................ 43
2.1. Một số quan điểm về quyền, quyền trẻ em và cách tiếp cận phát triển dựa trên quyền .... 43
2.2. Một số lý thuyết tiếp cận nghiên cứu đề tài ........................................................................... 50
2.3. Một số khái niệm công cụ........................................................................................................ 62
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH
LIÊN QUAN ĐẾN TRẺ TRONG GIA ĐÌNH .................................................................... 67
3.1. Một vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn khảo sát ............................................ 67
3.2. Thực trạng sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình .. 73
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM
VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TRẺ TRONG GIA ĐÌNH ........................ 88
4.1. Nhóm yếu tố vĩ mô................................................................................................................... 88
4.1.1. Biến đổi kinh tế - xã hội ................................................................................... 88
4.1.2. Luật pháp quốc tế và trong nước về quyền tham gia của trẻ em ...................... 92
4.1.3. Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán truyền thống ..................................... 100
4.2. Nhóm yếu tố vi mô................................................................................................................. 103
4.2.1. Nhóm yếu tố liên quan đến trẻ em .................................................................. 104
4.2.2. Nhóm yếu tố liên quan đến gia đình của trẻ em ............................................. 112
4.2.3. Nhóm yếu tố liên quan đến nhận thức, thái độ của trẻ em và gia đình đối với sự
tham gia của trẻ ........................................................................................................ 122
4.2.4. Nhóm yếu tố liên quan đến đặc điểm môi trường cộng đồng xã hội nơi trẻ em
sinh sống ................................................................................................................... 136
4.2.5. Nhóm yếu tố liên quan đến công tác giáo dục, truyền thông về quyền tham gia
của trẻ em ................................................................................................................. 139
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH ..................................................... 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ…………………………………………152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 153



Bảng 4.10. Mối liên hệ giữa mức độ tiếp cận quyền tham gia của trẻ em và việc trẻ em
quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân ................................................................... 127
Bảng 4.11. Ý kiến của trẻ em về những nguyên nhân khiến cho ý kiến của các em không
được cha mẹ và người lớn trong gia đình chấp nhận ......................................................... 132
Bảng 4.12. Mối liên hệ giữa nhận thức về vai trò và năng lực tham gia của trẻ em với mức
độ tham gia của trẻ em ....................................................................................................... 133
Bảng 4.13. Thái độ của cha mẹ và người lớn trong gia đình khi trẻ em tham gia bày tỏ ý
kiến vào các vấn đề có liên quan ....................................................................................... 135
Bảng 4.14. Mối liên hệ giữa khu vực sinh sống và mức độ tham gia của trẻ em vào các
quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình ....................................................................... 137


DANH MỤC BIỂU
Biểu 3.1. Những vấn đề liên quan mà trẻ được cha mẹ trao đổi, hỏi ý kiến........................ 74
Biểu 3.2. Các vấn đề sinh hoạt hàng ngày trẻ được trao đổi, bày tỏ ý kiến với cha mẹ và
người lớn trong gia đình ...................................................................................................... 75
Biểu 3.3. Cách thức trẻ thường làm khi ý kiến trao đổi, bày tỏ của trẻ bị cha mẹ và người
lớn trong gia đình bỏ qua ..................................................................................................... 82
Biểu 3.4. Hình thức quyết định các vấn đề liên quan đến trẻ trong gia đình ....................... 83
Biểu 3.5. Mức độ tham gia ý kiến của trẻ về các vấn đề có liên quan đến bản thân ........... 84
Biểu 3.6. Mức độ tiếp nhận thông tin của trẻ về các vấn đề có liên quan đến bản thân ...... 86
Biểu 4.1. Cách thức trẻ thường làm khi ý kiến trao đổi, bày tỏ của mình bị cha mẹ và người
lớn trong gia đình bỏ qua chia theo độ tuổi ....................................................................... 106
Biểu 4.2. Mối liên hệ giữa giới tính và cách thức trẻ thường làm khi ý kiến trao đổi, bày tỏ
của trẻ bị cha mẹ và người lớn trong gia đình bỏ qua........................................................ 108
Biểu 4.3. Mối liên hệ giữa đặc điểm văn hóa gia đình và mức độ tham gia ý kiến, mức độ
tiếp cận thông tin thường xuyên của trẻ em về các vấn đề liên quan đến bản thân ........... 118
Biểu 4.4. Việc quyết định các vấn đề liên quan đến trẻ chia theo đặc điểm văn hóa gia
đình ..................................................................................................................... 119
Biểu 4.5. Những điều khuyến khích và những điều cản trở trẻ em tham gia bày tỏ ý kiến về

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước bởi vậy sự phát triển
của trẻ em luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển con
người của mỗi quốc gia. Để có những công dân tốt, đáp ứng được yêu cầu phát triển
của đất nước, ngay từ nhỏ trẻ em phải được đảm bảo phát triển toàn diện và trong
điều kiện tốt nhất. Một cách đầy đủ, sự phát triển toàn diện của trẻ em không chỉ
bao gồm việc trẻ được đảm bảo quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ mà còn
cả việc trẻ được khẳng định bản thân, khẳng định vai trò chủ động, tích cực tham
gia vào các vấn đề của chính mình.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em tại điều 12, 13, 14, 15, 17 cũng như Luật
BVCSGDTE nước ta tại điều 20 qui định: trẻ em có quyền được tham gia, có quyền
được biết những thông tin phù hợp với sự phát triển của bản thân, được bày tỏ ý
kiến, nguyện vọng và tham gia vào các vấn đề liên quan đến các em không chỉ trong
phạm vi gia đình, nhà trường mà cả ngoài xã hội. Quy định pháp luật này phản ánh
thực tại khách quan nhu cầu phát triển toàn diện của trẻ em trong thời kỳ mới. Thực
hiện quyền được tham gia của trẻ em giúp cho mối quan hệ giữa người lớn và trẻ
em trong gia đình, xã hội được bình đẳng, dân chủ, lành mạnh, tạo điều kiện để trẻ
em có vai trò chủ động, có tiếng nói và được lắng nghe.
1.2. Gia đình Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thống với
nhiều giá trị quý báu được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong những giá trị đó, giá
trị đạo đức của người con trong gia đình thường được thể hiện và đề cao ở đức hiếu
thuận: cha mẹ dạy bảo thì con cái nghe theo và sự tuân theo đó thường diễn ra một
chiều, cứng nhắc từ trên xuống dưới theo tôn ti trật tự của các thành viên trong gia
đình. Trong mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn ở gia đình, trẻ em thường bị coi
là "trẻ con" và việc trẻ em tham gia vào các công việc chung cũng như những việc
có liên quan đến chính các em còn xa lạ. Người lớn thường coi nhẹ, bỏ qua ý kiến
của trẻ em, áp đặt trẻ em tuân theo suy nghĩ và cách giải quyết của mình. Trẻ em thụ
động trước những quyết định của người lớn.



giá trị xác lập quyền con người, quyền trẻ em trong gia đình, từ đó dẫn tới sự thay


3

đổi khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, cụ thể là thay đổi từ
khuôn mẫu ứng xử theo tôn ti trật tự, một chiều cứng nhắc sang khuôn mẫu ứng xử
qua lại hai chiều mang tính dân chủ, bình đẳng trong gia đình.
Bên cạnh đó, sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ
trong gia đình còn là sự biến đổi nhu cầu của con người từ bậc thấp lên bậc cao, từ
nhu cầu bảo đảm sinh tồn, an ninh sang nhu cầu tự khẳng định, được tôn trọng....
Những nhu cầu cơ bản đảm bảo cho sự sinh tồn đã không còn là đòi hỏi cấp bách
của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mà thay thế vào đó là nhu cầu
được tự khẳng định bản thân, tự thỏa mãn cái tôi của mình. Nhu cầu này của trẻ nếu
được đáp ứng thì sẽ giúp cho trẻ phát triển một cách tích cực, toàn diện và phù hợp
với yêu cầu của thời đại.
Gia đình Việt Nam đã và đang trong thời kỳ quá độ của sự biến đổi các giá
trị, khuôn mẫu ứng xử trong gia đình cũng như trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ
nhu cầu cơ bản của cá nhân sang nhu cầu được tự khẳng định mình. Tuy vậy, thực
tiễn đang đặt ra những bất cập của quá trình chuyển đổi theo quy luật chung này.
Điều này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, cả ở cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô. Việc
nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố có ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các
quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình là cần thiết nhằm lý giải một cách khoa
học và đưa ra cách hiểu đầy đủ, đúng đắn về bản chất của hiện thực trên.
1.4. Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về việc thực hiện quyền của
trẻ em, trong đó có quyền tham gia của trẻ em. Do mức độ, phạm vi, tính chất và
yêu cầu của các nghiên cứu đánh giá về quyền tham gia của trẻ em là khác nhau nên
các kết quả nghiên cứu cũng được đưa ra ở nhiều khía cạnh khác nhau. Nhìn chung
các nghiên cứu đều đề cập đến việc đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc
thực hiện quyền tham gia của trẻ em qua từng giai đoạn và qua cả ba môi trường:

tài sẽ làm sáng tỏ bản chất của một giá trị xã hội mới về sự tham gia của trẻ em vào
các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình, đồng thời góp phần xác định những
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự hình thành một giá trị xã hội mới trong đời sống
gia đình Việt Nam hiện đại.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào


5

các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình, trên cơ sở đó đưa ra một số gợi ý về
chính sách nhằm góp phần thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong gia
đình thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài.
- Điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết
định liên quan đến trẻ trong gia đình.
- Mô tả thực trạng sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến
trẻ trong gia đình tại địa bàn nghiên cứu.
- Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết định
liên quan đến trẻ trong gia đình.
- Nhận định một số vấn đề đặt ra và đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm
góp phần thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong gia đình.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên
quan tới trẻ trong gia đình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ, điều kiện có hạn, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

và rõ nét. Đồng thời, trẻ em được khảo sát cũng là những em còn đang đi học.
- Cha mẹ có con là trẻ em 11-17 tuổi và đang đi học.
3.2.3. Phạm vi thời gian nghiên cứu:
Luận án tiến hành thu thập thông tin trong 2 thời điểm:
- Thời điểm 1: thu thập thông tin định lượng vào tháng 4, tháng 5 năm 2013.
- Thời điểm 2: bổ sung thông tin định tính vào tháng 3, tháng 4 năm 2014.
3.2.4. Phạm vi không gian nghiên cứu:
Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại 2 địa bàn thuộc thành phố Hà Nội: 1
quận nội thành đặc trưng cho khu vực đô thị và 1 huyện ngoại thành đặc trưng cho
khu vực nông thôn. Cụ thể:
- Quận nội thành: quận Hai Bà Trưng
- Huyện ngoại thành: huyện Phú Xuyên (thuộc tỉnh Hà Tây cũ).
Sở dĩ chọn hai địa bàn này là vì đây là hai khu vực chịu sự ảnh hưởng khác
nhau của quá trình hội nhập. Hai Bà Trưng là quận có tốc độ phát triển về kinh tế,
văn hóa, xã hội khá nhanh của thủ đô và có quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế diễn
ra mạnh mẽ thời gian qua. Trong khi đó, Phú Xuyên trước đây là một huyện thuộc
tỉnh Hà Tây cũ, được sát nhập vào Hà Nội từ ngày 1/8/2008. Đây là huyện ngoại


7

thành thuần nông, vốn chịu ảnh hưởng của các giá trị gia đình, giá trị xã hội truyền
thống. Những năm gần đây, huyện Phú Xuyên đang có sự chuyển dịch cơ cấu ngành
nghề từ nông nghiệp là chủ yếu sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, bởi vậy đây là
khu vực đang dần chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, quá trình hội nhập.
Chính vì thế, việc nghiên cứu sự tham gia của trẻ em trong gia đình ở hai khu vực
này là rất có ý nghĩa.
4. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận Mác xít làm cơ sở phương pháp luận cho việc

đổi kinh tế- xã hội của đất nước; luật pháp, chính sách trong nước và quốc tế liên
quan đến quyền tham gia của trẻ em; đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán truyền
thống của đất nước; và các yếu tố vi mô như: đặc điểm của bản thân trẻ; đặc điểm
của gia đình trẻ; nhận thức, thái độ của cha mẹ và trẻ em về quyền và khả năng
tham gia của trẻ em; môi trường cộng đồng xã hội nơi trẻ em sinh sống; công tác
giáo dục, truyền thông về quyền tham gia của trẻ em tại địa phương.
4.4. Khung phân tích
Luận án phân tích mối quan hệ tác động qua lại của nhóm yếu tố vĩ mô và
nhóm yếu tố vi mô (biến số độc lập) đến nội dung, hình thức, mức độ tham gia của
trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình (biến phụ thuộc). Các
mối quan hệ này sẽ được thể hiện trên sơ đồ khung phân tích.
4.4.1. Các biến số phụ thuộc
 Nội dung các vấn đề trẻ được tham gia
 Hình thức trẻ được tham gia
 Mức độ trẻ được tham gia
4.4.2. Các biến số độc lập
 Sự biến đổi kinh tế - xã hội của đất nước
 Hệ thống Luật pháp quốc tế và trong nước liên quan đến quyền tham gia của trẻ em
 Đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán của đất nước
 Đặc điểm của bản thân trẻ em (giới, tuổi, tâm lý, tính cách).
 Đặc điểm, hoàn cảnh, môi trường gia đình của trẻ em
 Nhận thức, thái độ của trẻ em và gia đình về quyền và khả năng tham gia của trẻ em.
 Đặc điểm môi trường cộng đồng xã hội nơi trẻ em sinh sống.
 Công tác giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức về quyền tham gia của
trẻ em tại địa phương
4.4.3. Các biến số can thiệp
 Bối cảnh kinh tế- xã hội
 Hệ thống pháp luật trong nước (Luật pháp, chính sách kinh tế, xã hội; Luật
pháp, chính sách BVCSGDTE) và luật quốc tế (Công ước quốc tế về quyền trẻ em).


 Nhận thức, thái độ của trẻ em và gia
đình về quyền và khả năng tham gia
của trẻ

 Công tác giáo dục, truyền thông nâng
cao nhận thức về quyền tham gia của trẻ
em

SỰ THAM
GIA CỦA
TRẺ EM
VÀO CÁC
QUYẾT
ĐỊNH LIÊN
QUAN ĐẾN
TRẺ TRONG
GIA ĐÌNH

 Nội dung
các vấn đề trẻ
được tham gia
 Mức độ
tham gia
 Hình thức
tham gia


10

Việc phân tích sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ

11

- Mỗi trường THCS đã được chọn, lựa chọn ngẫu nhiên 4 lớp đại diện cho 4
khối: khối lớp 6, khối lớp 7, khối lớp 8, khối lớp 9.
Mỗi trường THPT đã được chọn, lựa chọn ngẫu nhiên 3 lớp đại diện cho 3
khối: khối lớp 10, khối lớp 11, khối lớp 12. Như vậy có:
2 trường THCS x 4 lớp/trường = 8 lớp.
2 trường THPT x 3 lớp/trường = 6 lớp.
Tổng số lớp là: 8 lớp THCS + 6 lớp THPT = 14 lớp.
- Mỗi lớp đã được chọn, lựa chọn 20 em một cách ngẫu nhiên theo số thứ tự
chẵn hoặc lẻ của danh sách lớp. Cụ thể, mỗi lớp THCS lựa chọn 20 em một cách
ngẫu nhiên theo số thứ tự chẵn của lớp. Mỗi lớp THPT lựa chọn 20 em một cách
ngẫu nhiên theo số thứ tự lẻ của lớp. Như vậy, tổng số trẻ em tham gia khảo sát có:
14 lớp x 20 em/lớp = 280 em.
 Nhóm cha mẹ trẻ em:
Mỗi lớp được lựa chọn sẽ chọn 10 cha hoặc mẹ của trẻ em (trẻ em là những
người đã tham gia mẫu nghiên cứu).
Như vậy, tổng số cha mẹ trẻ em tham gia khảo sát có:
14 lớp x 10 người cha hoặc mẹ/lớp = 140 người.
4.5.2.2. Phương pháp điều tra định lượng:
Luận án tiến hành thu thập thông tin định lượng thông qua việc khảo sát
bằng phiếu hỏi đối với 420 người, trong đó 280 người là trẻ em 11-17 tuổi; 140
người là cha hoặc mẹ của trẻ em 11-17 tuổi nhằm thu thập thông tin định lượng
theo yêu cầu và mục đích của đề tài. Cơ cấu mẫu cụ thể như sau:
Nhóm trẻ em:
 Địa bàn:
- Quận Hai Bà Trưng: 140 người (50,0%)
- Huyện Phú Xuyên: 140 người (50,0%)
 Giới tính:
- Nam: 102 người (36,4%)

 Địa bàn:
- Quận Hai Bà Trưng: 70 người (50,0%)
- Huyện Phú Xuyên: 70 người (50,0%)
 Giới tính:
- Nam: 61 người (43,6%)
- Nữ: 79 người (56,4%)
 Tuổi:
- 20- 30 tuổi: 24 người (17,1%)

- 41-50 tuổi: 38 người (27,1%)

- 31-40 tuổi: 65 người (46,4%)

- Trên 50 tuổi: 13 người (9,3%)

 Nghề nghiệp:
- Nông nghiệp: 46 người (32,8%)

- Buôn bán, dịch vụ: 23 người (16,5%)

- Cán bộ nhà nước: 40 người (28,6%)

- Nghề khác: 24 người (17,2%)

 Thu nhập:
- Dưới 5 triệu đồng: 69 người (49,3%)
- Từ 5-10 triệu đồng: 48 người (34,3%)
- Trên 10 triệu đồng: 23 người (16,4%)
 Số thế hệ trong gia đình:
- Gia đình 2 thế hệ: 54 người (38,6%)

hội nhập hiện nay.
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài góp phần hoàn thiện hiểu biết về quyền tham gia của trẻ em và khái
niệm về sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình.


14

- Đề tài cũng góp phần kiểm chứng và bổ sung cho lý thuyết hiện đại hóa và
lý thuyết xã hội hóa trong việc vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, cụ thể hơn là xem
xét tính phổ biến, tính đúng đắn và phù hợp của các lý thuyết này trong bối cảnh
Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn, đề tài góp phần:
- Khẳng định vai trò và ý nghĩa sự tham gia của trẻ em trong gia đình nói
riêng và trong cộng đồng xã hội nói chung.
- Nâng cao nhận thức luận về biến đổi xã hội, xã hội hóa và lý luận về nhu
cầu, góp phần vào sự phát triển chuyên ngành xã hội học gia đình.
- Cung cấp thêm tư liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu về sự tham gia của trẻ em
trong gia đình, bổ sung vào khoảng trống của các nghiên cứu trước đây về vấn đề này.
- Cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định và
thực thi chính sách về việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại địa phương, làm
căn cứ đưa ra những biện pháp có hiệu quả góp phần hạn chế những rào cản và tăng
cường những yếu tố thúc đẩy sự tham gia của trẻ em nói chung và sự tham gia của
trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình nói riêng.
7. CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận và gợi ý chính sách, tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự

“những đối tượng của sự quan tâm hơn là những cá nhân có tiếng nói” (Prout and
Hallett, 2003: 1). Trái với quan điểm này, ngày nay trẻ em đang ngày càng được coi
như là những tác nhân xã hội có quyền riêng của họ, và dần dần, trẻ em được coi
như là những cá nhân cần được lắng nghe và quan tâm, những cá nhân có đóng góp
đáng kể cho đời sống chính trị, xã hội và có khả năng tạo dựng cuộc sống hàng
ngày của chính mình (Richter. R. Zartler U., 2011, trích dẫn từ Alderson and
Morrow, 2004; James and Prout, 1997; James, Jenks and Prout, 1998; Qvortrup,
Bardy, Sgritta and Wintersberger, 1999; Smart, Neale and Wade, 2001).


16

Christensen và Prout (2005: 42) mô tả bản chất và ý nghĩa sự tham gia của
trẻ em là nhằm thúc đẩy sự thay đổi cơ bản trong suy nghĩ về thực tế và năng lực
tham gia của trẻ em vào đời sống chính trị, xã hội. Sự tham gia của trẻ em ngày
càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, bao gồm cả việc trẻ ra
quyết định có ảnh hưởng đến các em (Fitzgerald, RM., 2009 trích dẫn từ Davis &
Hill, 2006; Moss, Clark & Kjørholt, 2004). Như Kjørholt (2001) đã nhận định:
Trong 15 năm trở lại đây, việc nhấn mạnh trẻ em là những tác nhân chính
trị, xã hội nắm giữ quyền đặc biệt trong quá trình ra quyết định ở các mức
độ khác nhau là khá mạnh mẽ. Khái niệm trẻ em là những cá nhân độc lập
có quyền dân chủ thể hiện một cách nhìn mới về chất về thời thơ ấu (tr 68).

Phần lớn các nghiên cứu quốc tế thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và luật học
đều khẳng định: sự tham gia của trẻ em là một khái niệm gây tranh cãi (Fitzgerald,
RM., 2009, trích dẫn từ Lister, 1997: 14) và nó được xem xét, cân nhắc ở mọi cấp
độ: từ ý nghĩa, tầm quan trọng, lợi ích và việc ứng dụng nó vào đời sống chính trị,
xã hội cho tới những nội hàm sâu xa của thuật ngữ này dành cho trẻ em (Fitzgerald,
RM., 2009, trích dẫn từ Crimmens & West, 2004; Davis, 2007; Hill và các cộng sự,
2004; Lister, 1997; Lister, Smith, Middleton & Cox, 2003). Thêm vào đó, một

này bao gồm cả các quyết định mang tính tập thể (ví dụ như tham gia bầu cử, quốc
hội, trường học, hội đồng nhân dân,…) và các quyết định mang tính cá nhân (ví dụ
như có tiếng nói trong Luật Gia đình, các vấn đề về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, các
mối quan hệ gia đình,…) (Davis & Hill, 2006).
Ở khía cạnh khác, sự tham gia được hiểu là việc tạo ảnh hưởng đến những
người có quyền ra quyết định và đạt được sự thay đổi (Theis. J, 2006; Jaun, 2001;
Richter. R, Zartler U., 2011). Từ đó các tác giả theo quan điểm này cho rằng sự
tham gia của trẻ em là việc mọi trẻ em tự nguyện tham gia trên cơ sở những thông
tin có được vào tất cả các vấn đề liên quan đến các em, cho dù một cách trực tiếp
hay gián tiếp. Nghĩa là để có được sự tham gia có ý nghĩa thì trẻ em phải được cung
cấp thông tin đầy đủ, được tham gia cùng những người có quyền quyết định để thay
đổi những vấn đề có liên quan đến bản thân. Sự tham gia của trẻ em là một giá trị
xuyên suốt mọi chương trình và diễn ra ở mọi nơi - từ gia đình đến chính quyền, từ
cấp địa phương đến cấp quốc gia.
Gần đây khái niệm này được phát triển hơn nữa theo hướng sự tham gia được
coi là điều kiện tiên quyết của nền dân chủ toàn diện. Theo Cairns (2006), sự tham
gia của trẻ em là “quyền cơ bản của công dân, là phương tiện mà nhờ đó dân chủ
được xây dựng và là nguyên tắc “nền tảng” của các xã hội dân chủ tự do tiền công



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status