VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM
GIA CỦA TRẺ EM VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN
QUAN ĐẾN TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62.31.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2016
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Cảnh Khanh
Phản biện 1: GS.TS Trịnh Duy Luân
Phản biện 2: PGS.TS Trần Thị Minh Ngọc
Phản biện 3: TS Phạm Tất Thắng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi …… giờ….. phút, ngày ….. tháng ….. năm ……
Hà Nội cũng là địa bàn từng được mở rộng địa giới do vậy, Hà Nội có sự
đa dạng về vùng và đối tượng dân cư sinh sống. Việc nghiên cứu sự tham
gia của trẻ em trong gia đình ở khu vực này là rất có ý nghĩa, nó phản ánh
phần nào mức độ thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam hiện
nay.
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Những yếu tố ảnh
hưởng tới sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ em
trong gia đình” (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội) là cần thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Luận án tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em
vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình, trên cơ sở đó đưa ra
một số gợi về ý chính sách nhằm góp phần thúc đẩy thực hiện quyền tham
gia của trẻ em trong gia đình thời gian tới.
2
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài.
- Điều tra những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết
định liên quan đến trẻ trong gia đình.
- Mô tả thực trạng sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ
trong gia đình tại địa bàn nghiên cứu.
- Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết
định liên quan đến trẻ trong gia đình.
- Nhận định một số vấn đề đặt ra và đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm
góp phần thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong gia đình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia
đình bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô và các yếu tố vi mô nào?
4.3. Giả thuyết nghiên cứu
- Trẻ em ở Hà Nội hiện nay đã được tham gia vào các quyết định liên
quan đến trẻ trong gia đình, tuy nhiên sự tham gia chỉ chủ yếu ở khía cạnh
tham gia ý kiến và tiếp cận thông tin về những vấn đề có liên quan, sự tham
gia ở mức cao là quyết định những vấn đề có liên quan thấp.
- Sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia
đình bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô như: sự biến đổi kinh tế- xã hội
của đất nước; luật pháp, chính sách trong nước và quốc tế liên quan đến
quyền tham gia của trẻ em; đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán truyền
thống; và các yếu tố vi mô như: đặc điểm của bản thân trẻ; đặc điểm của
gia đình trẻ; nhận thức, thái độ của cha mẹ và trẻ em về quyền và khả năng
tham gia của trẻ em; môi trường cộng đồng xã hội nơi trẻ em sinh sống;
công tác giáo dục, truyền thông về quyền tham gia của trẻ em tại địa
phương.
4.4. Khung phân tích
BỐI CẢNH KINH TẾ- XÃ HỘI
(Sự biến đổi kinh tế- xã hội)
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA
Hệ thống luật pháp
- Công ước quốc tế về QTE
- Luật pháp, CS KT XH
- Luật pháp, chính sách
BVCSGDTE
Đặc điểm văn
LIÊN
QUAN
ĐẾN TRẺ
TRONG
GIA
ĐÌNH
Nội
dung các
vấn đề trẻ
được
tham gia
Mức độ
tham gia
Hình
thức tham
gia
4
4.5. Phương pháp nghiên cứu
4.5.1. Phương pháp phân tích thông tin, tư liệu
4.5.2. Phương pháp điều tra xã hội học:
Phương pháp chọn mẫu thu thập thông tin:
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
- Chọn mẫu kép: mẫu trẻ em và mẫu cha mẹ trẻ em
Phương pháp điều tra định lượng:
Thu thập thông tin định lượng thông qua việc khảo sát bằng phiếu hỏi
đối với 420 người, trong đó 280 người là trẻ em 11-17 tuổi; 140 người là
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa sự tham gia của trẻ em trong gia đình nói
riêng, trong cộng đồng xã hội nói chung
- Nâng cao nhận thức luận về biến đổi xã hội, xã hội hóa,lý luận về nhu
cầu, góp phần vào sự phát triển chuyên ngành xã hội học gia đình.
- Cung cấp thêm tư liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu về sự tham gia của
trẻ em trong gia đình, bổ sung vào khoảng trống của các nghiên cứu trước
đây về vấn đề này.
- Cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà hoạch
định và thực thi chính sách về việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại
địa phương.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận và gợi ý chính sách, tài liệu
tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được chia thành 4
chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ em trong
gia đình
Chương 2. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 3. Thực trạng sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên
quan đến trẻ trong gia đình
Chương 4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào
các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM VÀO
CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TRẺ TRONG GIA ĐÌNH
1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu quốc tế đã quan tâm tìm hiểu về khái niệm sự tham gia
của trẻ em với nội hàm như: sự tham gia là quá trình trẻ em được thể hiện ý
kiến, quan điểm và tham gia tích cực vào việc ra quyết định ở các cấp độ
khác nhau về các vấn đề trẻ quan tâm. Sự tham gia luôn phải gắn liền với
nghiên cứu chuyên biệt về sự tham gia của trẻ em trong gia đình là rất hiếm
và thường được lồng ghép trong các nghiên cứu về gia đình và về thực hiện
quyền trẻ em nói chung.
Các nghiên cứu đã có về sự tham gia của trẻ em trong gia đình chủ yếu
là mang tính phát hiện các vấn đề trẻ em được tham gia, trong khi việc tìm
hiểu mức độ tham gia, hình thức tham gia của trẻ chưa được đề cập đến.
Các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố rào cản trong việc thực hiện quyền
tham gia của trẻ em trong gia đình như: (i) đặc điểm văn hóa, phong tục,
tập quán truyền thống; (ii) sự hạn chế trong nhận thức về quyền tham gia
của trẻ; (iii) điều kiện kinh tế; (iv) chính sách, pháp luật và việc tổ chức
thực hiện pháp luật liên quan đến quyền tham gia của trẻ em; (v) phương
pháp chăm sóc, giáo dục con cái của cha mẹ. Các yếu tố thúc đẩy việc thực
hiện quyền tham gia của trẻ em như: (i) thời gian cha mẹ dành để nói
7
chuyện với con; (ii) thái độ và lòng tin của cha mẹ; (iii) nhận thức và trình
độ của cha mẹ, tuy đã được đưa ra nhưng chưa sâu và chủ yếu thông qua
kết quả nghiên cứu định tính.
Tiểu kết
Chương 1 đã khái quát một số vấn đề về tình hình nghiên cứu quốc tế
và trong nước về sự tham gia của trẻ em. Trên cơ sở khái quát đó, chương
này đã chỉ ra những đóng góp, những kết quả của các công trình đi trước
mà luận án có thể tham khảo, kế thừa, đồng thời cũng chỉ ra những hạn
chế, những khoảng trống của các nghiên cứu đã có để từ đó làm căn cứ
xây dựng định hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1. Một số quan điểm về quyền, quyền trẻ em và cách tiếp cận phát
triển dựa trên quyền
hội hóa đối với mỗi cá nhân là: gia đình, trường học và xã hội. Sự tham gia
của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình cũng bị ảnh
hưởng bởi ba môi trường xã hội hóa quan trọng này, trong đó gia đình là
môi trường quan trọng nhất.
Có 4 mô hình giáo dục gia đình có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của
trẻ em, đó là: Mô hình độc đoán; Mô hình dân chủ - nghiêm minh; Mô hình
dễ dãi, nuông chiều; Mô hình thờ ơ, không quan tâm. Nhìn chung, môi
trường văn hóa, giáo dục của gia đình như thế nào thì mức độ và sự tham gia
của trẻ sẽ được bộc lộ như thế ấy.
Lý thuyết xã hội hóa vận dụng trong nghiên cứu này cho phép giải
thích cách thức các tiến trình xã hội như tiến trình học hỏi theo kiểu “cha
truyền con nối”; tiến trình tương tác giữa trẻ em với môi trường sống xung
quanh (nhóm bạn, cộng đồng xã hội,…); tiến trình truyền thông, giáo dục
nhằm nâng cao nhận thức về quyền tham gia của trẻ em tác động tới cách
thức và mức độ cha mẹ trao quyền cho trẻ em để trẻ được tham gia vào
quá trình ra quyết định ở các mức độ khác nhau.
2.2.3. Lý thuyết nhu cầu
Maslow, nhà tâm lý học người Mỹ, đã phân chia nhu cầu của con người
thành hai nhóm: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu cơ bản liên
quan đến các yếu tố thể lý thiết yếu của con người như mong muốn có đủ
thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Nhu cầu bậc cao liên quan đến sự
đáp ứng về mặt tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị
xã hội, sự tôn trọng,…Nhu cầu tham gia của trẻ vào các quyết định liên
quan đến trẻ trong gia đình là nhu cầu bậc cao trong thứ tự thang nhu cầu
của Maslow.
2.3. Một số khái niệm công cụ
2.3.1. Khái niệm “Trẻ em”
Đề tài sử dụng khái niệm trẻ em theo định nghĩa của Công ước quốc tế
về quyền trẻ em, tức là: Trẻ em là những công dân dưới 18 tuổi.
em.
- Việc tham gia bày tỏ ý kiến về các vấn đề liên quan đến bản thân của
trẻ em.
- Việc đưa ra quyết định về các vấn đề liên quan đến bản thân của trẻ
em.
* Mức độ tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ
trong gia đình
10
Các mức độ đánh giá sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan
đến trẻ trong gia đình được luận án đưa ra bao gồm: Không tham gia và tham
gia có mức độ.
- Không tham gia: trước một vấn đề nào đó liên quan đến trẻ em, trẻ em
không được cung cấp thông tin, không được hỏi ý kiến và không được
quyết định.
- Tham gia có mức độ:
+ Mức độ thấp: trẻ em được cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan
đến bản thân của trẻ em.
+ Mức độ trung bình: trẻ em được trao đổi, bày tỏ ý kiến.
+ Mức độ cao: trẻ em được quyết định các vấn đề liên quan đến bản
thân.
2.3.4. Khái niệm “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em
vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình”
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em vào các quyết định
liên quan đến trẻ trong gia đình là các yếu tố tạo nên sự biến đổi về mức
độ tham gia, hình thức tham gia và các vấn đề trẻ em tham gia vào các
quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình.
Luận án sử dụng cách phân chia theo hướng nhóm các yếu tố vĩ mô và
nông thôn là 4057 nghìn người. Hà Nội hiện tại là địa bàn có sự đa dạng về
khu vực và dân cư sinh sống.
Nhìn chung, với cấu trúc và đặc trưng của một đô thị phát triển hàng đầu
cả nước, Hà Nội được coi là địa bàn trọng yếu trong công tác chăm sóc, bảo
vệ trẻ em. Sự phát triển kinh tế nhanh và mạnh mẽ trong thời gian qua ở Hà
Nội kéo theo sự biến đổi các thiết chế văn hóa, xã hội, trong đó có thiết chế
gia đình. Điều này tạo tiền đề quan trọng cho những biến chuyển trong thực
hiện quyền tham gia của trẻ em. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình hội nhập
cũng đặt ra những thách thức cho việc đảm bảo thực hiện quyền tham gia của
trẻ em ở Hà Nội hiện nay.
3.1.2. Sơ lược về các địa bàn khảo sát
Quận Hai Bà Trưng:
Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội. Tính đến
10/11/2012, diện tích của quận là 13,53km, dân số: 327.731 người. Với vị
trí đặc biệt là một quận lõi của Thủ đô, trong thời gian 5 năm qua (20112015), kinh tế trên địa bàn quận liên tục phát triển; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch đúng hướng dịch vụ - công nghiệp; tỷ trọng dịch vụ, thương mại
chiếm ưu thế trong cơ cấu kinh tế. Nhìn chung, với vị trí đặc biệt là quận
lõi của Thủ đô, quận Hai Bà Trưng có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho
việc đảm bảo thực hiện quyền tham gia của trẻ em.
Huyện Phú Xuyên:
Huyện Phú Xuyên nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm
Thủ đô 40km. Phú Xuyên có diện tích đất tự nhiên 17.104,6 ha (172 km2).
Dân số của Phú Xuyên năm 2012 là gần 20 vạn người, tỷ lệ người lao
động trong khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm 60% tổng số lao động.
12
Kinh tế Phú Xuyên hiện tại chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Bên cạnh đó, Phú
Xuyên cũng là cái nôi của rất nhiều làng nghề nổi tiếng. Đến nay, Phú
Ở khía cạnh tiếp nhận thông tin liên quan đến bản thân, đại đa số trẻ em
(97,1%) và cha mẹ (97,1%) cho rằng các em được tiếp nhận thông tin ở
các mức độ khác nhau về những vấn đề liên quan đến bản thân. Chỉ một số
13
ít trẻ (2,9%) và cha mẹ (2,9%) cho rằng các em chưa bao giờ được cung
cấp thông tin về những vấn đề liên quan đến bản thân.
Ở khía cạnh đưa ra quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, tỷ lệ
trẻ em và cha mẹ cho rằng các em được quyết định những vấn đề liên quan
đến bản thân ở các mức độ khác nhau thấp hơn hẳn (tỷ lệ tương ứng 47,1%
và 20,8%).
Có thể thấy, sự tham gia của trẻ em chủ yếu ở khía cạnh tham gia ý kiến
và tiếp nhận thông tin về những vấn đề có liên quan đến bản thân. Sự tham
gia ở khía cạnh quyết định những vấn đề có liên quan là rất thấp. Đây có thể
được xem là kết quả của sự giao thoa khi Hà Nội đang trong quá trình một
mặt tiếp nhận những giá trị dân chủ, tiến bộ mới của hội nhập, song mặt khác
vẫn phải song hành với sự tồn tại các giá trị xưa cũ. Sự tham gia của trẻ em
tuy là giá trị đã được xác lập trong các gia đình ở Hà Nội nhưng hiện vẫn còn
ở giai đoạn đầu và cần có thời gian cũng như cần các yếu tố hỗ trợ khác để
tiến tới mức độ cao hơn là sự tham gia thực sự, toàn diện.
3.2.2.1. Hình thức trẻ được tham gia trao đổi, bày tỏ ý kiến
Đại đa số trẻ (94,7%) và cha mẹ (73,6%) trả lời trẻ em thường nói chuyện
trực tiếp, thẳng thắn với cha mẹ về những điều mà các em muốn. Rất ít trẻ (
Nếu như nhóm trẻ em cho rằng các em được tham gia trao đổi, bày tỏ ý
kiến ở mức độ thỉnh thoảng nhiều hơn (42,5% trẻ em; 20,0% cha mẹ) thì
nhóm cha mẹ lại cho rằng các em được tham gia ý kiến ở mức thường xuyên
nhiều hơn (33,6% trẻ em; 68,6% cha mẹ). Không ít trẻ em (17,5%) cho rằng
mình chỉ được hỏi ý kiến khi có việc nghiêm trọng liên quan đến bản thân,
trong khi tỷ lệ trả lời ý kiến này ở cha mẹ thấp hơn rất nhiều (0,7%).
Cha mẹ luôn có xu hướng nhận định theo hướng tích cực về việc tạo
điều kiện cho trẻ tham gia trong gia đình. Nhưng với trẻ thì việc tạo điều
kiện đó chưa hoàn toàn đầy đủ và chưa đáp ứng được nhu cầu, mong muốn
của trẻ.
3.2.3.2. Mức độ tiếp nhận thông tin về các vấn đề liên quan đến bản
thân
Cả trẻ em (50,4%) và cha mẹ (65,7%) đều cho rằng các em thường
xuyên được tạo điều kiện để tiếp nhận thông tin về các vấn đề có liên quan
đến bản thân hơn. Rất ít người (2,9%) cho rằng các em chưa bao giờ được
tiếp cận với các thông tin này.
Tiểu kết
Chương 3 mô tả khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hà
Nội, quận Hai Bà Trưng và huyện Phú Xuyên, từ đó chỉ ra một số thuận
lợi, khó khăn của các địa bàn trong việc thực hiện quyền tham gia của trẻ
em. Trên cơ sở các dữ liệu định tính và định lượng thu thập từ kết quả
15
khảo sát thực địa, chương 3 đi vào đánh giá thực trạng sự tham gia của trẻ
em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình tập trung vào các
nội dung: những vấn đề trẻ được tham gia quyết định; hình thức trẻ tham
gia và mức độ trẻ tham gia.
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA
16
4.1.2. Luật pháp quốc tế và trong nước về quyền tham gia của trẻ
em
Công ước quốc tế về quyền trẻ em là văn kiện quan trọng và là cơ sở
thúc đẩy các nước trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ và thực hiện quyền
trẻ em trên toàn thế giới. Quá trình thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại
Việt Nam kể từ khi ký cam kết thực hiện Công ước đến nay đã mang lại
nhiều thành tựu quan trọng, trong đó đáng lưu ý là tỷ lệ trẻ em tham gia
một cách tích cực, chủ động trong gia đình có sự biến đổi rõ rệt.
Từ sau khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam đã
thể chế hoá quyền của trẻ em trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó quan
trọng nhất phải kể đến Luật BVCS&GD TE. Bên cạnh đó, quan điểm của
Đảng, Nhà nước ta về quyền tham gia của trẻ em còn được thể hiện trong
hàng loạt các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Hiến pháp Nước
CHXHCN Việt Nam; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Giáo dục; Luật Báo
chí; Luật Hình sự; Luật Dân sự; Luật Phòng chống bạo lực gia đình;... Các
văn bản này là một hành lang pháp lý rất tốt, làm cơ sở cho quá trình thúc
đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em Việt Nam.
Thực tế, tuy quá trình triển khai luật đã mang lại nhiều thành tựu đáng
kể, song một số văn bản pháp luật liên quan đến quyền tham gia của trẻ em
ở nước ta vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Như một số kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng, một số văn bản luật pháp, chính sách liên quan đến quyền
tham gia của trẻ em còn thiếu tính nhạy cảm, thân thiện với trẻ em, chưa
cân nhắc đầy đủ các đặc thù tâm, sinh lý của đối tượng này. Luật pháp,
chính sách về BVCS&GD TE quy định chưa đồng bộ và đầy đủ, một số
quy định còn chung chung, thiếu cụ thể. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực
hiện các quy định pháp luật về quyền tham gia của trẻ em chưa thật sự
nghiêm minh và đầy đủ do còn thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra.
quyết định các vấn đề của bản thân nhiều hơn (tự quyết định và quyết định
dựa trên ý kiến của cha mẹ).
Yếu tố độ tuổi cũng có mối liên hệ với tính tích cực, chủ động tham gia
trao đổi ý kiến của trẻ. Càng ít tuổi trẻ em càng có xu hướng chấp nhận và
nghe theo lời cha mẹ nhiều hơn khi ý kiến trao đổi của các em bị cha mẹ
và người lớn trong gia đình bỏ qua. Trẻ lớn thường tìm cách bộc lộ, bày tỏ
ý kiến vào dịp khác hoặc nhờ người khác trao đổi lại ý kiến của mình với
cha mẹ.
4.2.1.2. Giới tính của trẻ em
Yếu tố “giới” có liên hệ với việc trẻ được quyết định các vấn đề liên
quan đến bản thân. Trẻ em nam được quyết định các vấn đề có liên quan
đến bản thân nhiều hơn, trong đó có những vấn đề quan trọng đối với sự
phát triển của các em (như việc định hướng học lên cao, việc lựa chọn chế
độ ăn uống, chế độ nghỉ ngơi). Còn trẻ em nữ bị phụ thuộc vào quyết định
của cha mẹ và người lớn trong gia đình nhiều hơn.
Tính tích cực, chủ động tham gia trao đổi ý kiến của trẻ em nam cũng cao
18
hơn so với trẻ em nữ. Khi ý kiến đưa ra trao đổi bị cha mẹ và người lớn trong
gia đình bỏ qua, các em nam thường tìm cách bộc lộ, bày tỏ ý kiến vào dịp
khác hoặc nhờ người khác trao đổi lại ý kiến của mình với cha mẹ nhiều hơn
so với các em nữ. Ngược lại, các em nữ thường không biết làm gì hoặc chấp
nhận, nghe theo lời cha mẹ nhiều hơn so với các em nam.
4.2.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ em
Đặc điểm tính cách bạo dạn, sôi nổi, cá tính, dám bộc lộ bản thân, đề
cao sở thích, tự do cá nhân là yếu tố tâm lý thúc đẩy sự tham gia của trẻ
em vào các quyết định liên quan đến trẻ. Ngược lại, đặc điểm tính cách rụt
rè, nhút nhát, ngại thể hiện mình là yếu tố tâm lý cản trở sự tham gia của
19
đặt con cái hoặc khi cha mẹ bận bịu, mệt mỏi thì trẻ em sẽ khó có thể bày
tỏ, tham gia ý kiến về các vấn đề liên quan đến bản thân.
4.2.3. Nhóm yếu tố liên quan đến nhận thức, thái độ của trẻ em và gia
đình đối với sự tham gia của trẻ
4.2.3.1. Hiểu biết về quyền tham gia của trẻ em
Nhìn chung trẻ em và cha mẹ đã biết đến quyền tham gia của trẻ em
nhưng sự hiểu biết về quyền này còn chưa đầy đủ và sâu sắc (chủ yếu mới
chỉ nghe nói đến quyền tham gia).
Những trẻ đã được đọc và được học về quyền tham gia của trẻ em thì
tham gia ý kiến và tiếp nhận thông tin về các vấn đề liên quan đến bản
thân ở mức thường xuyên nhiều hơn so với những trẻ chỉ nghe nói đến
quyền này. Đồng thời, các em cũng được quyết định các vấn đề của bản
thân nhiều hơn.
Tính tích cực tham gia trao đổi, bày tỏ ý kiến của những trẻ em đã được
học về quyền tham gia cao hơn so với những em mới chỉ nghe nói đến
quyền này. Khi ý kiến bày tỏ của trẻ bị cha mẹ và người lớn trong gia đình
bỏ qua thì những em đã được học về quyền tham gia luôn tìm cách bộc lộ,
bày tỏ ý kiến với cha mẹ vào dịp khác (76,6%) nhiều hơn so với những em
mới chỉ nghe nói đến quyền tham gia (60,6%). Ngược lại, những em chỉ
mới nghe nói đến quyền tham gia thường có xu hướng chấp nhận và nghe
theo lời cha mẹ nhiều hơn (16,8%) so với những em đã được học về quyền
tham gia (7,8%).
4.2.3.2. Nhận thức về năng lực và vai trò tham gia của trẻ em vào các
vấn đề có liên quan
Mặc dù nhận thức được rằng sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề liên
quan là cần thiết, mang lại lợi ích tốt đẹp cho sự phát triển của trẻ và là
quyền mà trẻ em được hưởng nhưng cả cha mẹ và trẻ em (đặc biệt là cha
việc tiếp cận với các điều kiện phát triển, hội nhập KT, VH diễn ra chậm
chạp hơn. Tính đổi mới ở những khu vực này ít diễn ra trong khi tính bảo
thủ, trì trệ còn tồn tại nặng nề. Đây là rào cản lớn cho quá trình thực hiện
quyền tham gia của trẻ em.
4.2.5. Nhóm yếu tố liên quan đến công tác giáo dục, truyền thông về
quyền tham gia của trẻ em
Sự tham gia của trẻ em trong gia đình bị ảnh hưởng bởi các kênh giáo
dục, truyền thông, trong đó phương tiện truyền thông đại chúng được đánh
giá là kênh truyền thông có tác động nhiều nhất tới nhận thức và sự tham
gia của trẻ em, tuy nhiên, hiệu quả nâng cao nhận thức một cách sâu rộng
về quyền tham gia của kênh thông tin này còn chưa cao.
Công tác giáo dục trong nhà trường có tác động đến nhận thức của trẻ em
và quyền trẻ em, tuy nhiên do sự hạn chế về thời lượng và nội dung giảng
dạy nên hiệu quả của kênh giáo dục này vẫn chưa đem đến nhận thức toàn
diện và sâu rộng cho trẻ em về quyền tham gia của trẻ em.
Công tác giáo dục, truyền thông tại cộng đồng địa phương về quyền
tham gia của trẻ em hiện nay chưa mang lại hiệu quả do nguyên nhân cả từ
phía những người làm công tác truyền thông và cả từ phía đối tượng được
truyền thông là cha mẹ, trẻ em và người dân trong cộng đồng.
Tiểu kết
Chương 4 đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em
vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình bao gồm các yếu tố vĩ
mô: biến đổi kinh tế - xã hội; luật pháp về quyền tham gia của trẻ em; đặc
điểm văn hóa, phong tục tập quán truyền thống, cùng những yếu tố vi mô
liên quan đến trẻ em; gia đình; môi trường cộng đồng xã hội nơi trẻ em
21
sinh sống; nhận thức, thái độ đối với sự tham gia của trẻ; công tác giáo
của trẻ em; (3) Xu hướng gia đình hạt nhân hóa, ít con, gia tăng trình độ
học vấn; (4) Môi trường gia đình dân chủ, bình đẳng, cởi mở. (5) Thái độ
và niềm tin của cha mẹ đối với khả năng tham gia của trẻ. (6) Sự chủ động,
tích cực của bản thân trẻ trong việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em.
2. Một số gợi ý về chính sách nhằm đảm bảo thực hiện quyền tham
gia của trẻ em trong gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội
22
3. Kết luận
3.1. Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con
người làm nền tảng xuyên suốt, trong đó đề cao quan điểm tiếp cận kết
hợp về quyền con người (thừa nhận quyền con người có tính phổ biến
nhưng cũng tính đến các đặc trưng về truyền thống văn hóa, trình độ phát
triển kinh tế, xã hội của khu vực khi thực thi quyền), lấy các nguyên tắc,
đặc tính về quyền con người làm cơ sở để xem xét, phân tích thực trạng và
các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi quyền trẻ em trong thực tiễn. Đồng
thời luận án cũng vận dụng lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết xã hội hóa và lý
thuyết nhu cầu để đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham
gia của trẻ em vào các quyết định liên quan đến trẻ trong gia đình. Việc vận
dụng các quan điểm, lý thuyết trên là phù hợp với đặc điểm hiện nay ở xã
hội Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
hội nhập quốc tế.
Cụ thể, cách tiếp cận lý thuyết hiện đại đã giải thích được sự chuyển
biến từ xã hội Việt Nam truyền thống sang xã hội Việt Nam hiện đại khiến
đời sống của người dân được nâng cao rõ rệt, họ không còn quá bận tâm
về vấn đề mưu sinh như trước đây. Sự chuyển biến này dẫn đến sự biến
đổi quy mô, cấu trúc gia đình, từ đó kéo theo sự biến đổi khuôn mẫu giá
trị, chuẩn mực gia đình. Các giá trị truyền thống tuân theo quy tắc thứ bậc,
trong gia đình, đưa ra các chỉ báo về mức độ tham gia của trẻ em trong gia
đình để từ đó có thể đo đạc, đánh giá được mức độ tham gia của trẻ em
trong gia đình hiện nay.
3.3. Trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của trẻ em
trong gia đình, luận án rút ra một số luận điểm chính sau:
Sự tham gia của trẻ em phản ánh kết quả của việc hiện thực hóa quyền
tham gia của trẻ em trong thực tiễn. Mặc dù đã được luật hóa và được triển
khai trong đời sống xã hội nước ta một thời gian, nhưng trên thực tế các
qui định về quyền tham gia của trẻ em trong Công ước quốc tế về quyền
trẻ em và Luật BVCS&GD TE nước ta vẫn chưa được thực hiện một cách
đầy đủ, đặc biệt trong môi trường gia đình. Lý luận tiếp cận về quyền con
người, trong đó có quyền trẻ em, chỉ rõ một số các nguyên tắc, đặc tính cơ
bản của quyền là tính bình đẳng, không phân biệt đối xử và tính phổ quát,
bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các nguyên tắc cơ bản này
chưa được đảm bảo, vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử về mặt giới, độ
tuổi trong thực hiện quyền tham gia của trẻ em.
Mặt khác, về mặt lý luận, việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em
được đảm bảo bởi hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia và các văn bản
pháp lý quốc tế, trong đó cơ chế quan trọng bảo đảm thực hiện quyền là:
giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chuẩn mực quốc tế và các quy định
quốc gia về quyền tham gia của trẻ em cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp,
mọi khu vực vùng, miền,… nhằm bảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền. Tuy
vậy, thực tiễn khảo sát cho thấy, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của
cha mẹ và trẻ em về hệ thống pháp luật có liên quan đến quyền tham gia
của trẻ còn hạn chế, đặc biệt là ở các địa phương.
Về thực tiễn thực thi pháp luật về quyền tham gia của trẻ em ở nước ta,
một trong những hạn chế, bất cập cần phải đề cập đến là các chế tài, biện
pháp xử lý các trường hợp vi phạm việc thực hiện quyền tham gia của trẻ
em trong gia đình còn yếu kém. Hầu hết các trường hợp vi phạm quyền
này chưa được xử lý nghiêm minh bởi một mặt không có điều khoản nào