ĐỀ CƯƠNG MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN - Pdf 38

ĐỀ CƯƠNG MÔN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Câu 1. Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận. Liên hệ việc vận dụng quan điểm thực
tiễn trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cơ sở hoặc cơ
quan, đơn vị? (đ/c Huệ Phòng GD&ĐT).
* Khái niệm thực tiễn: Là hoạt động vật chất - cảm tính mang tính lịch sử, có mục
đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn có 3 đặc trưng cơ bản sau:
- Thực tiễn không phải là tất cả các hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt
động vật chất - cảm tính. Các hoạt động mà con người phải dùng công cụ vật chất, lực
lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng.
- Thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội. Là hoạt động của con người
diễn ra trong thời gian, không gian cụ thể với sự tham gia của đông đảo người và trải qua
những giai đoạn lịch sử cụ thể.
- Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản sau:
- Sản xuất vật chất: Là các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của
con người.
- Hoạt động chính trị - xã hội: Mittinh, biểu tình, đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Hoạt động thực nghiệm khoa học.
* Khái niệm lý luận: Là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực
tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện
tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật và phạm trù.
03 đặc trưng của lý luận:
- Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ.
- Cơ sở của lý luận là tri thức kinh nghiệm thực tiễn.
- Lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật hiện tượng.
* Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
- Thực tiễn là cơ sở động lực của nhận thức lý luận. Bằng hoạt động thực tiễn, con
người tác động vào sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đo con người
có hiểu biết về chúng.

nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cơ sở hoặc cơ quan, đơn vị?
- Nêu tầm quan trọng của việc vận dụng quan điểm thực tiễn để dẫn dắt vào bài:
- Giới thiệu về bản thân và đơn vị công tác: Là một chuyên viên của một Phòng
Giáo dục và Đào tạo của huyện, bản thân tôi nhận thấy việc vận dụng quan điểm thực
tiễn trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại cơ quan Phòng GD&ĐT là vô cùng
quan trọng ………………………………………………………………………………..
Phòng GD&ĐT nơi tôi công tác có 14 cán bộ, công chức, viên chức chịu trách
nhiệm……………………………………………………………………………………….,
Ban chi ủy, Lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT đã vận dụng tốt 3 yêu cầu của quan
điểm này trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, cụ thể:
- Liên hệ yêu cầu 1: Xây dựng chương trình, kế hoạch ngoài căn cứ lý luận cần
phải căn cứ điều kiện thực tế của đơn vị..............................…………………………….
- Liên hệ yêu cầu 2: ...................................................................................................
- Liên hệ yêu cầu 3: Tổ chức sơ kết, tổng kết………………………………………..
Chính vì vận dụng thực hiện 03 yêu cầu của quan điểm thực tiễn trong chỉ đạo,
phong trào giáo dục của huyện tôi đã có những thành tích đáng kể: ………………………
………………………………………………………………………………………
2


Bên cạnh những điểm đã thực hiện tốt như đã nêu ở trên, giáo dục huyện tôi còn
một số tồn tại trong việc vận dụng quan điểm này, cụ thể như sau:
……………………………………………………………………………………….
Là 1 chuyên viên của Phòng GD&ĐT, đứng trước những hạn chế giáo dục huyện
nhà đang mắc phải, bản thân tôi nhận thức rõ mình cần ………....................................
……………………………………………………………………………………….
Kết Luận: Khẳng định lại tầm quan trọng của việc vận dụng tốt quan điểm thực tiễn.
Câu 2: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý
THỨC XÃ HỘI
Nền kinh tế nước ta đi từ một điểm xuất phát thấp,chúng ta phái làm gì để tránh

sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai
đoạn phát triển nhất định.
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và
phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất xã hội
thay đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm chính trị pháp quyền, đạo
đức... sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo. Vì thế, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau có
những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau. Sự thay đổi của ý thức xã hội có
thể là sự phản ánh đúng, hoặc không đúng đối với tồn tại xã hội; nhưng xét cho cùng về
lâu dài, ý thức xã hội có khả năng phản ánh đúng, dầy đủ và chính xác đối với quá trình
thay đổi của tồn tại xã hội. Theo triết học Mác – Lênin, ý thức xã hội là sự phản ánh xã
hội, do tồn tai xã hội quyết định. C. Mác đã chỉ rõ: “ Phương thức sản xuất đời sống
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung.
Không phải ý thức của của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội
của hội quyết định ý thức của họ.”
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, không chỉ dừng lại ở việc xác định nguồn
gốc, sự phụ thuộc của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội mà còn chỉ ra rằng không phải
bất cứ tư tưởng, quan điểm, lý luận, hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và
trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà xét cho cùng những quan hệ kinh tế được
phản ánh bằng cách này hay cách khác trong những tư tưởng, quan niệm ấy. Bởi vì,
không chỉ có ý thức chính trị phản ánh trực tiếp quan hệ kinh tế của quan hệ giai cấp, mà
nó còn được phản ánh ở các hình thái ý thức khác; mặt khác trong các hình thái ý thức xã
hội còn bao hàm sự tác động qua lại và bao hàm cả sự kế thừa với quá khứ.
Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là do tính độc
lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn tại xã hội một cách thụ động. Thông
qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức xã hội có thể tác động trở lại tồn tại xã
hội. Hơn nữa, trong quá trình phát triển của mình, mặc dù chịu sự quy định của các
quy luật của tồn tại xã hội, nhưng ý thức xã hội có những quy luật riêng của mình.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội còn thể hiện ở chức năng đặc thù của ý thức

b) Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
- Ý thức xã hội nếu phản ánh đúng quy luật vận động của tồn tại xã hội thì nó
có thể phản ánh vượt trước tồn tại xã hội.
Trong những điều kiện nhất định, hoàn cảnh nhất định, ý thức của con người nếu
phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của tồn tại xã hội, thì nó có thể tư tưởng của
con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể dự báo tương lai, góp phần
chỉ đạo tổ chức hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất. Khi nói ý thức xã hội có thể “
vượt trước” tồn tại xã hội không có nghĩa là trong trường hợp này, ý thức xã hội không bị
5


quy định bởi tồn tại xã hội. Tính vượt trước ở đây là vượt trước sự phản ánh chứ không
phải vượt trước của bản thân ý thức xã hội. Nghĩa là, sự phản ánh của ý thức xã hội đối
với tồn tại xã hội là sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn vì nó chỉ ra được khuynh
hướng vận động khách quan của tồn tại xã hội.
- Phản ánh vượt trước có cơ sở và phản ánh vượt trước không có cơ sở của ý thức
xã hội.
- Sự phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội được coi là sự sáng tạo khi
nó phản ánh đúng được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của tồn
tại xa hội. Nghĩa là ý thức xã hội phản ánh đúng được quy luật khách quan của sự vận
động, phát triển của tồn tại xã hội. Khi ấy, sự phản ánh vượt trước của ý thức xã hội đối
với tồn tại xã hội sẽ có cơ sở.
- Nếu ý thức xã hội phản ánh không đúng quy luật khách quan của sự vận động,
phát triển của tồn tại xã hội, hơn nữa, nói lại bị chi phối bởi mong muốn chủ quan, duy ý
chí thì khi ấy sự phản ánh vượt trước của ý thức xã hội sẽ là sự vượt trước không có cơ
sở, dễ rơi vào vượt trước ảo tưởng.
c) Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình:
- Do có sự kế thừa trong sự phát triển củ nó mà không thể giải thích ý thức xã hội
đơn thuần từ tồn tại xã hội. Lịch sử phát triểnđời sống tinh thần của xã hội loài người cho
thấy ý thứ xã hội của mỗi thời đại không chỉ phản ánh tồn tại xã hội của thời đại đó mà

thức xã hội không chỉ tác động lẫn nhau mà còn tác động trở lại tồn tại xã hội. Sự tác
động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội theo hai khuynh hướng cơ bản là tích cực và
tiêu cực.
- Tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Nếu ý thức xã hội phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của tồn tai xã hội
thông qua hoạt động thực tiễn của con người nó có thể tác động tích cực tới tồn tại xã hội.
Biểu hiện của sự tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là nó thúc đẩy
phương thức sản xuất phát triển; góp phần cải biến điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý
theo hướng có lợi cho con người và sản xuất vật chất; điều chỉnh dân số và mật độ dân cư
phù hợp với điều kiện kinh tế- địa lý,… trên cơ sở đó thúc đẩy xã hội phát triển theo
hướng tiến bộ.
- Tác động tiêu cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
Nếu ý thức xã hội lạc hậu, phản ánh không đúng quy luật vận động, phát triển của
tồn tại xã hội; hoặc ý thức xã hội phản tiến bộ, nhất là ý thức chính trị; hoặc ý thức xã hội
phản ánh vượt trước tồn tại xã hội nhưng vượt trước ảo tưởng, duy ý chí,…thì sẽ tác động
tiêu cực tới tồn tại xã hội. Biểu hiện của sự tác động tiêu cực của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội là nó cản trở không cho tồn tại xã hội phát triển. Cụ thể là ý thức xã hội
thông qua hoạt động thực tiễn của con người cản trở sản xuất vật chất phát triển; hủy hoại
môi trường sống tự nhiên; làm mất cân bằng về dân số và mật độ dân cư,…Như vậy là
kìm hãm sự phát triển của xã hội theo hướng tiến bộ.

7


- Mức độ, tính chất và hiệu quả tác động của ý thức xã hội đối với tốn tại xã hội
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tính tiến bộ, cách mạng hay lạc hậu, phản động của chủ
thể mang ý thức xã hội tức địa vị lịch sử giai cấp- chủ thể mang ý nghĩa xã hội, tính khoa
học hay không của ý thức xã hội; mức độ thâm nhập của ý thức xã hội vào quảng đại
quần chúng nhân dân; năng lực triển khai, thực hiện hóa ý thức xã hội vào hoạt động thực
tiễn của chủ thể lãnh đạo, quản lý.

những tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu; chống lại mọi biểu hiện của chủ
nghĩa cá nhân, tư tưởng phản động; làm thất bại cuộc tiến công về tư tưởng của lực lượng
8


phản cách mạng. Đồng thời, đây cũng là cuộc đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách,pháp luật của Nhà nước. Đây là quá trình đầy khó khăn, gian khổ, lâu dài, đòi hỏi sự
nỗ lực, cố gắng của mỗi cán bộ, đảng viên, của toàn Đẩng và toàn dân.
- Ba là, hình thành ý thức xã hội mới phải gắn liền với phát triển kinh tế, củng cố
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Quan niệm duy vật lịch sử về ý thức xã hội chỉ rõ rằng, muốn hình thành được ý
thức xã hội mới,về lâu dài, cơ bản phải hình thành được tồn tại xã hội chủ nghĩa. Muốn
vậy, phải phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải không ngừng củng cố
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đất nước ta đang phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, giao lưu,hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta
càng cần phải chú ý giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế. Bởi
lẽ,kinh tế thị trường không chỉ có tác động tích cực mà còn là môi trường thuận lợi cho
những hiện tương tiêu cực về tinh thần, tư tưởng, đạo đức nảy sinh. Đây là những nhân tố
phá hoại, cản trở việc hình thành, củng cố ý thức xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải phát huy được
quyền làm chủ của nhân dân lao động. Có phát huy được quyền làm chủ của nhân dân lao
động, chúng ta mới lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia cải tạo những
tư tưởng lạc hậu, đấu tranh có hiệu quả với những tư tưởng sai trái, phản tiến bộ; tự giác
hình thành trong bản thân ý thức xã hội mới. Có phát huy được quyền làm chủ của nhân
dân lao động thì mới thu hút được đông dảo họ tham gia quản lý, xây dựng, phát triển
kinh tế- xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học. Đây là điều kiện cơ bản, quan trọng cho việc
hình thành và phát triển ý thức xã hội mới.
Liên hệ: Vấn đề xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng ý thức xã hội mới là vấn đề bức

trong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới. Vấn đề này có thể khái quát lại trên một số
điều cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ sở đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng
và phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá thực sự trở
thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành nền tảng tinh thần của xã hội
Thứ ba, xây dựng ý thức xã hội mới gắn với việc tăng cường học tập lý luận,
tuyên truyền, giáo dục, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành nền
tảng và kim chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân.
Thứ tư, xây dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc sự kết hợp chặt chẽ
giữa “xây dựng ” và “chống”.
Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội mới; nó không hình
thành một cách tự phát trong lòng xã hội cũ; nó cần được chủ động nhận thức, xây
dựng, truyền bá thành ý thức chung của con người trong xã hội mới, thành động lực
tinh thần của con người trong quá trình xây dựng xã hội mới. Vì vậy, cần xây dựng ý
thức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội
nhập. Trước hết, đó là tri thức, tình cảm, quyết tâm kiên định con đường xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bên
cạnh đó, cần trang bị cho con người những tri thức mới của thời đại, tri thức về kinh
tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là những tri thức về khoa học và công
nghệ... Đó là yêu cầu tiên quyết trong quá trình xây dựng xã hội ta hiện nay. Đi cùng
với nó là việc bồi dưỡng lý tưởng sống, hoài bão, ước mơ, khát vọng cống hiến, đặc
biệt là đối với thế hệ trẻ. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc xây dựng và phát huy ý thức
làm chủ trong nhân dân, bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, ý thức về dân tộc và tinh
10


thần đoàn kết dân tộc; nâng cao ý thức phòng chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là

quyết tâm vượt khó để cải tạo cuộc sống, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo
nàn, lạc hậu. Tinh thần đoàn kết dân tộc phải được thể hiện thành tinh thần đồng
thuận trên cơ sở giải quyết hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, xoá bỏ mặc
cảm về thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo vì một nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ ba, tăng cường công tác tư tưởng phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục,
phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình tuyên truyền,
giáo dục ý thức xã hội mới.
11


Trong công tác tư tưởng, chúng ta cần bám sát thực tiễn, lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng và tìm ra những vướng mắc trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân
dân để kịp thời giải đáp. Tăng cường vai trò của báo chí, của các phương tiện thông tin
đại chúng khác trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
định hướng dư luận theo chiều hướng tích cực, đồng thời phê phán những quan điểm sai
trái, luận điệu phản động. Trong công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin,
cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức để việc tuyên truyền, giáo dục
chủ nghĩa Mác-Lênin hiệu quả hơn.
Thứ tư, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, mở rộng dân chủ, khơi dậy tính
chủ động, tự giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Xây dựng ý thức xã hội mới là quá trình đấu tranh gay go, phức tạp nhằm khắc
phục những tư tưởng, tập quán lạc hậu, làm thất bại cuộc tấn công về tư tưởng của
các thế lực phản động, kế thừa những giá trị tích cực trong truyền thống và hình thành
ý thức xã hội mới. Đây là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi tính tự giác cao. Vì vậy,
thông qua chủ trương, chính sách, Đảng cần phải khắc phục những biểu hiện của
khuynh hướng coi nhẹ vai trò của nhân tố tư tưởng, chính trị, đạo đức. Tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí, khắc
phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ,
nhất là những biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém... Cùng

2. Những nội dung cơ bản của liên minh công - nông - trí thức trong thời kỳ
quá độ lên CNXH
Để thực hiện tốt các nội dung của liên minh, trong quá trình thực hiện liên minh
cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Phải “ kết hợp đúng đắn các lợi ích” của các chủ thể trong
khối liên minh.
Thực chất của quá trình “ kết hợp lợi ích” là quá trình liên tục phát hiện và giải
quyết những mâu thuẫn giữa các nhu cầu, lợi ích. Kết hợp đúng các lợi ích sẽ tạo ra được
động lực căn bản nhất cho khối liên minh phát triển trên cơ sở đó thúc đẩy xã hội phát
triển. Ngược lại, kết hợp sai các lợi ích sẽ tạo ra những lực cản làm suy giảm động lực và
ảnh hưởng xấu đến quan hệ liên minh công - nông - trí thức.
Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo sự lãnh đạo của đảng cộng sản trong khối liên minh,
vì Đảng không chỉ có vai trò là tập hợp lực lượng để tiến hành cách mạng mà còn đống
vai trò điều hòa các lợi ích của các chủ thể trong khối liên minh hướng tới đảm bảo dân
chủ, công bằng, tiến bộ xã hội và giải phóng con người.
Từ những nguyên tắc đó, khối liên minh công - nông – trí thức sẽ thực hiện những
nội dung cơ bản sau:

Nội dung chính trị
* Khái niệm: Nội dung chính trị của liên minh thực chất là sự đoàn kết hợp lực
công nhân, nông dân, trí thức để thực hiện các nhiệm vụ chính trị nhằm bảo vệ độc lập
dân tộc, bảo vệ chế độ chính trị để giữ vững định hướng lên chủ nghĩa xã hội.
* Nội dung chính trị được thể hiện ở việc
- Giữ vững lập trường chính trị - tư tưởng của giai cấp công nhân.
- Giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, của giai cấp công nhân đối với khối
liên minh trong quá trình xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, độc lập dân tộc
và định hướng lên chủ nghĩa xã hội.
a)

13

công nghiệp, khu đô thị phải gắn với phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững.
3. Liên hệ: việc vận dụng thực hiện nội dung văn hóa, xã hội của liên minh công nông- trí thức ở địa phương, cơ sở:
Dưới sự sáng suốt của mình, Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn vai trò của nội dung văn hóa xã hội trong giai đoạn hiện nay của liên minh công
nhân - nông dân - trí thức, do đó đã kịp thời đưa ra chủ trương xây dựng nông thôn mới
theo 19 tiêu chí để các địa phương trong cả nước phấn đấu thi đua thực hiện, trong đó có
địa phương tôi đang sinh sống là: xã Văn Môn- huyện Yên Phong- tỉnh Bắc Ninh.
14


Văn Môn từ xa xưa đã được sử sách ghi nhận là xã có làng khoa bảng, là địa
phương có nền kinh tế phát triển mạnh; chính quyền nhiều năm vững mạnh; người dân
năng động, nhạy bén. Đặc biệt từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Văn Môn
thực sự bùng nổ phát triển mạnh mẽ cả về thương mại, dịch vụ, làng nghề. Từ đó văn hóa
xã hội phát triển, dân trí được nâng cao, có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng nông
thôn mới theo tiêu chí của đảng, nhà nước. Cụ thể:
* Thành tựu
- Đã quy hoạch và xây dựng các trường học của các cấp học trong xã khang trang;
các nhà trường hàng năm đều đạt danh hiệu trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc của huyện
và đều đạt chuẩn quốc gia.
- Trạm y tế xã cũng được xây dựng khang trang cùng các trang thiết bị hiện đại và
cũng đã đạt chuẩn quốc gia.
- Đã xây dựng được hệ thống giao thông kiên cố, đường điện hiện đại đủ công suất
để đáp ứng cho sản xuất và nhu cầu sử dụng điện của người dân và doanh nghiệp.
- Làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo.
- Tự do, tín ngưỡng của người dân được tôn trọng. Đặc biệt, Văn Môn là địa
phương có hội làng truyền thống hàng năm được tổ chức rất thành công : có nhiều trò
chơi dân gian, có các đội bóng truyền quốc gia nam và nữ tham dự, có tổ chức thi sáng tác
thơ của các tỉnh miền bắc, có đón các ca sỹ nổi tiếng trong nước và hải ngoại về biểu diễn,
…và lễ hội diễn ra an toàn, hiệu quả.

+ Công khai diện tích xây dựng khu trụ sở hành chính xã và diện tích quy hoạch
khu dân cư và đền bù theo giá của UBND tỉnh quy định.
+ Công khai giá đền bù thuộc diện tích XD khu trụ sở hành chính xã. Còn diện tích
thuộc khu dân cư thì đền bù theo giá thỏa thuận, sau đó lấy phần chênh lệch giữa hai
khu để cân đối cho người dân được đền bù ở hai khu cho bằng nhau.
+ Xã hội hóa khu sản xuất làng nghề tái chế kim loại màu, để cho doanh nghiệp
xây dựng hạ tầng và quản lý vận hành; còn chính quyền tuyên truyền để người dân hiểu
mà tự nguyện chuyển vào sản xuất trong đó.
+ Xây dựng bộ quy chế về việc để máy móc thanh lý, hóa chất độc hại, đổ rác thải
sinh hoạt, tổ chức cưới xin và tuyên truyền rộng rãi đến người dân và cử bộ phận theo
dõi xử lý các trường hợp vi phạm. Đặc biệt cán bộ đảng viên phải gương mẫu thực hiện
trước.
+ Với chi bộ yếu kém, Đảng ủy phải cử đảng viên có uy tín lãnh đạo để khôi phục
lại uy tín cho đảng, tăng cường kết nạp quần chúng ưu tú có nguyện vọng vào đảng và
phải sắp xếp họ vào những vị trí thích hợp, tránh tình trạng chỉ sắp xếp con cháu các
lãnh đạo vào các vị trí chủ chốt còn đảng viên ưu tú khác coi nhẹ từ đó gây chán nản,
mất niềm tin dẫn đến tiêu cực.
+ Kết bài: …..

Câu 4: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con đường đi lên CNXH ở
Việt Nam (đ/c Đức THCS Đông Phong).
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ đi lên CNXH đã được thông
qua tại Đại hôi VII của Đảng năm 1991. Sau 15 năm thực hiện Cương lĩnh, tại Đại hôị X
(2006), Đảng ta đã bổ sung vào văn kiện 8 đặc trưng của xã hội XHCN và đến Đại hội XI
(2011) Cương lĩnh đã được bổ sung, phát triển. Trong Cương lĩnh bổ sung, điều chỉnh
năm 2011, Đảng ta đã xác định có 8 phương hướng cơ bản “nhằm thực hiện thành
công các mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kì quá độ ở nước ta” và cùng với đó
Đảng ta còn chỉ ra 8 mối quan hệ lớn “cần nắm vững và giải quyết” trong quá trình
thực hiện các phương hướng. Việc vận dụng Cương lĩnh của Đảng vào thực tiễn, Đảng

- Diện tích tự nhiên: 111,92 km2; số dân 136.734 người (1998)
- Người dân có truyền thống đoàn kết, tình làng nghĩa xóm bền chặt, sống thuỷ
chung tình nghĩa, nhân ái, chịu thương chịu khó..
- Thu nhập BQ đầu người năm 2015 đạt 42,4 triệu đồng
* Đặc điểm văn hoá.
- Di sản văn hoá: hơn 20 di tích lịch sử, hơn 20 di tích van hoá nghệ thuật
-Truyền thống khoa cử: 47 tiến sĩ, nhiều dòng họ, nhiều làng có người đỗ đại khoa.
- Phong tục, tập quán: về việc cưới, việc tang, lễ hội
- Tín ngưỡng, tôn giáo: thờ thành hoàng làng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, có 2 tôn
giáo là Phật giáo và Công giáo, 81 ngôi chùa thờ phật, có 1 xứ đạo (Quả Cảm) 2 họ đạo
(Đồng Nhân, Ngô Khê)
17


- Các loại hình văn nghệ truyền thống: Dân ca Quan họ, Hát ả đào, Hát đúm, Hát
ghẹo, Hát Trống quân, Hát ví; có kho tàng văn hcọ dân gian phong phú
2. Kết quả thực hiện về việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, trọng tâm là xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội trên địa bàn Huyện Yên Phong giai đoạn 2011- 2015.
a. Công tác tuyên truyền.
- Hình thức tuyên truyền: Phát sóng qua các đài phát thanh của các xã, huyện; kẻ
khẩu hiệu, căng băng rôn, xe phát thanh di động…
- Nội dung tuyên truyền: Tuyên truyền các Văn bản chỉ đạo, Kế hoạch của Tỉnh:
KH số 914 của tỉnh Bắc Ninh về phong “TD ĐKXĐSVH”, NQ số 22/2011/NQ-HĐND
tỉnh Bắc ninh về thực hiện nếp sống văn minh, QĐ số 56 của UBND tỉnh Bắc Ninh về
“xây dựng gia đình văn hoá”, “Làng, khu phố văn hoá”. Tuyên truyền các Văn bản chỉ
đạo của Huyện: Đề án “Nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hoá; làng, khu phố
văn hoá, cơ quan văn hoá” của UBND huyện Yên Phong; Cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…
b. Kết quả đạt được:

phát triển KT-HX.
- Công tác ghiám sat, kiểm tra chưa thường xuyên, khen chê chưa kịp thời
- Khu CN Yên Phong phát triển du nhập lực lượng ngoài địa phương khó quản lí
chặt chẽ dẫn đén việc mất an ninh, trật tự..
- Nhận thức của nhân dân chuyển biến chậm, nhiều hủ tục, lề thói cũ vẫn tồn tại
chưa xoá bỏ được…
5. Đề xuất giải pháp
- Tiếp tục quán triệt sâu rông các Van bản, Nghị quyết của các cấp, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền..
- Các cơ quan chức năng như Phòng văn hoá, Nghành giáo dục, Công an, Các tổ
chức đoàn thể cùng phối hợp chặt chẽ trong công tác.
- Xử lí nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về Xây
dựng đời sống văn hoá ..vv
- Chú trọng bố trí nguồn nhân lực, cán bộ chuyên trách, các Ban chỉ đạo, đầu tư
kinh phí..
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Cương lĩnh bổ sung, sửa đổi năm 2011 cho thấy sự sáng suốt của Đảng ta. Những
phương hướng được Đảng ta chỉ ra trong văn kiện là đường lối vô cùng đúng đắn. Cương
lĩnh của Đảng đã đi vào cuộc sống góp phần nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân
dân, đưa đất nước ta ngày một phát triển. Kết quả thực hiện phương hướng 3 trong
Cương lĩnh trên địa bàn cả nước nói chung, ở huyện Yên Phong – Bắc ninh nói riêng đã
thu được những kết quả đáng mừng, nâng cao rõ rệt đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân địa phương. Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, trước những kết
quả đã đạt, toàn thể Đảng bộ và nhân dân huyện Yên Phong sẽ đoàn kết thực hiện thắng
lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp, đặc biệt là các chỉ tiêu về xây dựng đời sống
văn hoá, văn minh..
CÂU 5: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CỦA TBCN
(đ/c Hằng Yên Phụ).
Sau khi nghiên cứu nội dung những vấn đề cơ bản của phương thức sản xuất của
CNTB của môn kinh tế chính trị. Tôi nhân thấy các nội dung về hàng hóa và sản xuất

- Tính thống nhất biểu hiện như sau:
+ 2 thuộc tính này cùng tồn tại trong 1 hàng hóa
+ Thống nhất vì cùng 1 lao động sx ra hàng hóa.
- Tính mâu thuẫn thể hiện như sau:
+ Nó thể hiện sự tách rời trong 1 hàng hóa ở mục đích người sx, và người trao đổi
+ Nó tồn tại trong 1 hàng hóa nhưng quá trình thực hiện nó tách rời cả không gian
và thời gian
+ với tư cách giá trị sử dụng các hàng hóa không đồng nhất với nhau, với tư cách là
giá trị hàng hóa đồng nhất với nhau.
Tính chất hai mặt của lao động sx hàng hóa:
- Lao động cụ thể ( tạo ra giá trị sử dung hàng hóa):
+ Là lao động có ích dưới 1 hình thức cụ thể dưới 1 chuyên môn nhất định. Mỗi lao
động cụ thể có mục đích, phương pháp, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng.
+ Lao động cụ thể chỉ tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
20


+ Trong 1 hình thái kinh tế XH nhất định cá hình thức lao động cụ thể phụ thuộc
vào sự phát triển của KH kỹ thuật, của LLSX và phân công lao động XH.
+ Lao động cụ thể biểu hiện mqh giữa con người với tự nhiên biểu hiện sự lưu
thong vật chất và trình độ chinh phục
+ Lao động cụ thể phụ thuộc vào hình thái kinh tế XH loài người.
- Lao động trìu tượng ( tạo ra giá trị hàng hóa):
+ Là lao động của nguwowig sx hàng hóa khi đx gạt bỏ những hình thức cụ thể của
nó , đó chính là sự hao phí sức lao động.
+ Lao động trìu tượng tạo ra giá trị hàng hóa đó chính là mặt chất của hàng hóa.
+ Lao động trìu tượng là 1 phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong lao động sx hàng hóa.
- Mối liên hệ giữa lao động trìu tượng và lao đông cụ thể vừa có tính thống nhất
vừa có tính mâu thuẫn:
+ Tính thống nhất: chúng là 2 mặt của cùng 1 lao động sx hàng hóa là tiền đề là

+ Lượng giá trị của 1 hàng hóa là thời gian lao động XH cần thiết của người sx
hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sx mà trong đó sản phẩm làm ra không để đáp
ứng nhu cầu tiêu dung của chính người trực tiếp sx mà là vấn đề đáp ứng nhu cầu tiêu
dung cho người khác thông qua việc trao đổi, mua bán.Trong nội dung sx hàng hóa
chúng ta sẽ nghiên cứu: Điều kiện ra đời của sx hàng hoa, những ưu thế của sx hàng hóa.
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa:
- Có sự phân công lao động XH ( ĐK cần) :
+ Phân công lao động là sự phân chia lực lượng lao động XH vào trong các ngành,
các lĩnh vực sx khác nhau tạo ra sự chuyên môn hóa sx theo đó mỗi người sx chỉ sx 1
hoặc 1 vài thứ sx mình cần, nhưng trong thực tế cuộc sống họ cần rất nhiều những sản
phẩm khác nhau, do vậy họ phải trao đổi, mua bán sản phẩm với nhau.
+ Sự phân công lao động:
. Tăng năng suất lao động, làm ra nhiều sản phẩm
. Chất lượng sản phẩm sẽ cao hơn , giá thành giảm
. Có sự chuyên môn hóa
Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những chủ thể sx độc lập nhất định
(ĐK đủ): Trong lịch sử sự tách biệt này là do quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX quy định,
XH đầu tiên là quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX. Về sau, do sự đa dạng về quan hệ sở
hữu hoặc sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng TLSX quy định. Do
đó, sản phẩm làm ra muốn thuộc quyền sở hữu hoặc chi hpoois của họ, người này muốn
tiêu dung sản phẩm của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa
Kết luận: Sự ra đời của sx hàng hóa là điều tất yếu khách quan tránh lối nghĩ độc
lập kinh tế thị trường với CNXH
Những ưu thế của sx hàng hóa:
- SX hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn so với sx tự cung tự cấp là:
+ SX hàng hóa cho phép khai thác được những lợi thế về tự nhiên, XH, kỹ thuật
của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Khi SX và trao đổi
hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia thì nó còn khai thác được lợi thế của mỗi quốc gia
đối với nhau.

Phát triển sx hàng hóa phải:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………. ……………………………………………………………………
Bên cạnh đó trong quá trình triển khai có những hạn chế:
+ Triển khai Văn bản còn:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………….
+ Quy trình triển khai còn:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
23


………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
Bản thân tôi là đảng viên, GV tôi nhận thấy để phất triển SX hàng hóa ở địa
phương thì cần:
+ Về Đảng, nhà nước cần có thêm chính sách hoặc cần kiểm tra ntn:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………..
+Về chính quyền địa phương cần:
………………………………………………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status