LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT: Biện pháp phát triển và rèn luyện kỹ năngĐịnh hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

PHẠM THỊ LOAN

Biện pháp phát triển và rèn luyện kỹ năngĐịnh hướng di chuyển cho trẻ
khiếm thị

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
THÁNG 11/ 2013
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

PHẠM THỊ LOAN

Biện pháp phát triển và rèn luyện kỹ năngĐịnh hướng di chuyển cho trẻ
khiếm thị

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH GIÁO DỤC ĐẶC
MÃ SỐ: 60.14.0101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Ts. Phạm Minh Mục

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
THÁNG 11/ 2013

1. Bảng 2.1. Thông tin chung về giáo viên được khảo sát
2. Bảng 2.2 Thông tin chung về trẻ khiếm thị được khảo sát
3. Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên chuyên biệt dạy trẻ khiếm thị về
giáo dục kỹ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị mầm non 3- 5 tuổi.
4. Bảng 2.4: Thực trạng mức độ xác định các hướng không gian của trẻ
khiếm thị
5. Bảng 2.5: Thực trạng về kỹ năng xác định các điểm quan trọng trong
ĐHDC của trẻ
6. Bảng 2.6: Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục trong quá trình
giáo dục ĐHDC của giáo viên
7. Bảng 2.7: Thực trạng việc giáo viên sử dụng các biện pháp rèn luyện và
phát triển kỹ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị mầm non 3 – 5 tuổi
8. Bảng 2.8: Thực trạng nhận thức của giáo viên CBQL về hình thức rèn
luyện và phát triển kỹ năng ĐHDC của trẻ khiếm thị mầm non 3 – 5 tuổi
9. Bảng 2.9. Thực trạng việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ ĐHDC của trẻ
khiếm thị mầm non 3 – 5 tuổi

4


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.
2.
3.
4.
5.

ĐHDC: Định hướng di chuyển
CBQL: Cán bộ quản lí

Từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Giáo dục định hướng – di
chuyển cho trẻ khiếm thị mầm non 3-5 tuổi” nhằm giúp trẻ khiếm thị phát triển
khả năng nhận thức, phát triển thể chất và hoà nhập xã hội.

8


2.Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục ĐHDC đề xuất
các biện pháp phát triển và rèn luyện kĩ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị 3 - 5 tuổi
nhằm giúp trẻ khiếm thị mầm non có thể di chuyển đúng mục tiêu, an toàn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu: quá trình giáo dục trẻ khếm thị mầm non 3 đến 5
tuổi tại các cơ sở giáo dục.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động giáo dục thể chất, phát triển giác
quan và giáo dục kỹ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị 3 đến 5 tuổi tại các cơ sở giáo
dục.
4. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi cho rằng bằng việc vận dụng các biện pháp phát triển các giác quan
và các biện pháp phát triển và rèn luyện kỹ năng ĐHDC phù hợp với đặc điểm cá
nhân trẻ, phù hợp điều kiện thực tế tại cơ sở giáo dục sẽ giúp trẻ có khả năng di
chuyển độc lập, đúng mục đích, an toàn làm cơ sở cho trẻ học tập có hiệu quả và
hòa nhập xã hội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của Giáo dục ĐHDC cho trẻ khiếm thị 3-5 tuổi.
5.2 Nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu nhận thức của giáo viên, phụ huynh, cán bộ quản lý giáo dục về
nhu cầu, khả năng cần được giáo dục của trẻ khiếm thị mầm non.
- Nghiên cứu thực trạng những biện pháp mà giáo viên đang sử dụng để giáo
dục kĩ năng định hướng di chuyển của trẻ khiếm thị mầm non.

trẻ, điều kiện vật chất, môi trường giáo dục mà cơ sở giáo dục đang sử dụng.

10


- Phương pháp toạ đàm: trên cơ sở bảng hỏi tổ chức phỏng vấn giáo viên, phụ
huynh, cán bộ quản lý giáo dục nhằm chính xác hoá các thông tin thu được từ
bảng hỏi và làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa các thông tin thu được.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: nghiên cứu hồ sơ giáo dục cá nhân của trẻ,
nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của cơ quan thị giác và các đặc điểm phát triển các
giác quan của trẻ khiếm thị 3 đến 5 tuổi.
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động dạy – học của thầy và trò
trong các cơ sở giáo dục về phát triển kỹ năng ĐHDC.
- Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến các chuyên gia về độ tin cậy các
thông tin thu được.
- Phương pháp khảo nghiệm: trưng cầu ý kiến của chuyên gia, giáo viên, phụ
huynh về tính khả thi của các biện pháp giáo dục ĐHDC đề xuất..
7.2.3 Nhóm phương pháp xử lý: các phương pháp thống kê toán học để xử lý
các thông tin thu được qua phiếu điều tra, toạ đàm, quan sát.
8. Cấu trúc luận văn:

11


Chương 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp giáo dục ĐHDC
cho trẻ khiếm thị 3 đến 5 tuổi
1.1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra rằng vai trò của ĐHDC đối với sự phát
triển của mọi trẻ em nói chung, trẻ khiếm thị nói riêng là vô cùng quan trọng.

nghiên cứu về đặc điểm phát triển kỹ năng ĐHDC của trẻ khiếm thị mầm non.
Các tác gải đã chỉ ra trong những nghiên cứu của mình về những đặc điểm phát
triển biểu tượng về các phương hướng trong không gian và sự định hướng không
gian, thời gian của trẻ khiếm thị ở các độ tuổi khác nhau. Các tác giả đã đưa ra
nhiều dạng kết luận khác nhau về khả năng định hướng không gian của trẻ giai
đoạn đầu tuổi mẫu giáo (3 – 4 tuổi); nhưng nhìn chung các tác giả đều có cái nhìn
chung và thống nhất về khả năng ĐHDC của trẻ khiếm thị 3 – 4 tuổi rằng: ở giai
đoạn đầu của tuổi mẫu giáo trẻ định hướng được trong không gian trên cơ sở hệ
thống cảm giác quy chiếu – tức là chọn chính cơ thể trẻ làm hệ trục chuẩn. Định
hướng lấy cơ thể mình làm chuẩn là nguồn gốc để trẻ nhỏ định hướng vị trí các
vật khác trong môi trường so với cơ thể trẻ. Dần dần trẻ biết chuyển vị trí của cơ
thể trẻ sang các vật khác để so sánh và nhận biết vị trí của các vật khác với nhau
trong không gian – hệ toạ độ tự do. Để có được kỹ năng này, trước hết trẻ phải
biết phân chia các hướng khác nhau (phía trên, phía dưới, phía bên trái, phía bên
phải, phía trước, phía sau) của một vật, sau đó mới sử dụng vật đó làm vật quy
chiếu để xác định vị trí các vật khác trong không gian so với vị trí của vật quy
chiếu đó.[14, 40, 41]
D. Connop, Bhushan Punani và Nandini Rawal, Amand Hall Lueck đã có
những nghiên cứu về biểu tượng và đặc điểm phát triển không gian và sự ĐHDC
13


trong không gian của trẻ khiếm thị. Các tác giả đã chỉ ra rằng, các biểu tượng về
không gian xuất hiện ở trẻ khiếm thị muộn hơn so với trẻ bình thường, nhưng sự
hình thành và phát triển của các biểu tượng này luôn có sự tham gia của tất cá các
cơ quan phân tích khác nhau: xúc giác, thị giác, khứu giác, thính giác, cảm giác cơ
khớp vận động. Các tác giả cũng đã có những nghiên cứu đặc điểm phát triển
nhận thức của trẻ khiến thị về không gian, mối quan hệ của các vật trong không
gian so với cơ thể trẻ, mối quan hệ không gian của các vật so với nhau. Sau khi
nghiên cứu các tác giả đưa ra quan niệm rằng: để xác định được vị trí của các vật

ĐHDC cho trẻ khiếm thị mầm non, thì phải: thứ nhất là nắm rõ được đặc điểm
phát triển các vận động cơ bản và các tố chất vận động của trẻ; đồng thời hiểu rõ
đặc điểm phát triển các giác quan và những khó khăn trong tri giác do tật khiếm
thị mang lại để xây dựng các hoạt động rèn luyện phù hợp cho trẻ. Thứ hai là phải
sắp xếp được môi trường trong gia đình, trong lớp học, khuôn viên của trường sao
cho phù hợp và an toàn cho trẻ tạo cho trẻ cảm giác tự tin, an toàn khi tham gia
rèn luyện. Thứ ba là giáo viên cũng như các nhà tham gia vào quá trình chăm sóc,
giáo dục trẻ cần hướng dẫn cũng như cung cấp một số kỹ năng cụ thể cho trẻ
trước khi trẻ tham gia rèn luyện và phát triển kỹ năng ĐHDC [35,37].
Những đặc điểm phát triển sự định hướng và di chuyển của trẻ khiếm thị nói
trên là cơ sở để các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học lựa chọn nội dung,
phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức để rèn luyện và phát triển kỹ năng
ĐHDC cho trẻ.
Trong nghiên cứu về các nội dung giáo dục ĐHDC cho trẻ mầm non, các tác
giả A.M. Lêusina đã chỉ ra rằng cần dạy trẻ định hướng trên chính bản thân mình
trước, trẻ phải nắm được sơ đồ định hướng trên cơ thể mình trước rồi mới định
hướng trên các đối tượng bên ngoài.[16]

15


Theo nghiên cứu của Giemxova, tác giả cũng khẳng định rằng, trước khi dạy
trẻ khiếm thị ĐHDC thì các nhà giáo dục phải dạy thế nào để trẻ nhận thức được
về cơ thể mình trước đã. Phải dạy trẻ biết lấy cơ thể mình làm chuẩn để phân biệt
và nhận thức về các vùng, các hướng không gian khác nhau. [6, 7]
Để hình thành và phát triển kỹ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị 3 – 5 tuổi, các
tác giả đều đánh giá cao vai trò của các giáo viên chuyên biệt mầm non, các nhà
chăm sóc trẻ. Theo M. Cay, Everett W. Hill, Rona L. Pogrund & Diane L. Fazzi
(2002), thì cô giáo cần quan sát và nhận thức đầy đủ về cuộc sống của trẻ, từ đó
giáo viên phải dạy trẻ ĐHDC dựa trên kinh nghiệm, cuộc sống của chính trẻ (mỗi

giống nhau, mới có thể đọc, viết đúng các từ, khi chưa định hướng được không
gian thì trẻ chưa học đọc, học viết được. [23]
Các tài liệu về chương trình giáo dục mầm non cũng đã xác định rõ ràng
nhiệm vụ phát triển kỹ năng Định hướng không gian cho trẻ mầm non ở nhiều lĩnh
vực giáo dục khác nhau. Trong các tài liệu này đưa ra những nghiên cứu về đặc
điểm phát triển Định hướng không gian của trẻ mẫu giáo, từ đó đưa ra các nội
dung, phương pháp, phương tiện, biện pháp, hình thức giáo dục Định hướng
không gian cho trẻ. [2, 3]
Tài liệu Giáo dục học mầm non “Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thức tổ
chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi” đưa ra rằng trẻ mầm non 3 – 5
tuổi cần tiếp tục củng cố các kiến thức đã thu được từ lớp nhà trẻ về kỹ năng định
hướng không gian, đồng thời cũng đề cập rằng “các hình thức đi dạo, thăm quan,
các trò chơi học tập, các bài tập phát triển vận động cơ bản và phát triển các tố
chất vận động cũng như các bài tập kích thích phát triển các giác quan có vai trò
quan trọng trong việc phát triển kỹ năng ĐHDC cho trẻ”. [1, 2]
Trong cuốn tài liệu Giáo dục học mầm non “Chương trình chăm sóc và giáo
dục trẻ 3-5 tuổi, Đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy ở bậc mầm non” thì
17


cho rằng giáo viên cần dựa vào đặc điểm nhận thức, nội dung chương trình và quá
trình phát triển kỹ năng định hướng không gian của trẻ để lựa chọn phương pháp
hướng dẫn phù hợp với từng lứa tuổi. Đối với trẻ nhỏ, việc rèn luyện các kỹ năng
Định hướng không gian chủ yếu tập trung vào các hoạt động học tập và các hoạt
động sống gần gũi, quen thuộc; việc rèn luyện và phát triển kỹ năng định hướng
trong không gian cho những trẻ lớn hơn (4 – 5 tuổi) nên mở rộng không gian định
hướng cho trẻ, ngoài các giờ học trong khuôn viên trường học, lớp học, giáo viên
cần tổ chức nhiều hoạt động ngoài trời cho trẻ rèn luyện và phát triển kỹ năng
định hướng trong không gian. Với trẻ 4 – 6 tuổi, giáo viên cần tổ chức các hoạt
động rèn luyện phát triển kỹ năng định hướng không gian dưới dạng các giờ học

mầm non bình thường. Điểm khác biệt thứ hai, đó là thời gian để rèn luyện và
phát triển một kỹ năng định hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị mầm non thì luôn
luôn nhiều hơn so với trẻ mầm non bình thường. Cũng theo các tác giả này thì sự
phát triển các giác quan ảnh hưởng trực tiếp và hỗ trợ trực tiếp cho sự hình thành
và phát triển kỹ năng ĐHDC cho trẻ khiếm thị. [18, 19, 20]
Theo hai tài liệu: tài liệu Con đường bù trừ chức năng của người mù và tài
liệu Giáo trình cơ quan thị giác và các bệnh tật của mắt gây tổn hại thị giác
Những điều phụ huynh trẻ khiếm thị cần biết đã đưa ra quan điểm nếu trẻ khiếm
thị không được rèn luyện và phát triển kỹ năng ĐHDC một cách bài bản và có hệ
thống thì trẻ cũng sẽ mất hết các cơ hội để tự phát triển nhận thúc của bản thân.
Tài liệu này đã đưa ra các dẫn chứng cụ thể như: trẻ khiếm thị không thể tự di
chuyển độc lập như mọi trẻ bình thường khác, trẻ khiếm thị khó khăn trong phát
triển các vận động cơ bản theo quy luật phát triển như trẻ bình thường; nguyên
nhân là do trẻ khiếm thị bị thiếu hụt hoặc mất hoàn toàn các kích thích vận động
từ môi trường xung quanh. Điều này làm trẻ mất hứng thú với việc khám phá và
19


tìm hiểu thế giới xung quanh, dẫn đến hiện tượng trẻ thiếu tương tác với các đồ
vật trong môi trường xung quanh và không có các biểu tượng cũng như tên gọi
của các đối tượng này, quá trình tri giác cảm tính, cửa ngõ của quá trình tư duy
kiểu người bị suy giảm. Cũng theo tài liệu này, ở trẻ khiếm thị xuất hiện và phát
triển các vận động cơ bản cũng như các biểu tượng không gian muộn hơn nhiều so
với trẻ bình thường nếu không nhận được các tác động giáo dục phù hợp. [7, 8]
Tác giả Phạm Minh Mục, cũng đã khẳng định vai trò quan trọng mang tính
quyết định của kỹ năng định hướng không gian đối với việc học đọc, học viết chữ
Braille của trẻ khiếm thị. Trẻ phải có kỹ năng định hướng trong không gian thì
mới có thể phân biệt được phía trên, phía dưới, phía trái, phía phải của một con
chữ Braille; trẻ phải có kỹ năng Định hướng trong không gian thì mới viết đúng
các con chữ vào các ô Braille và đọc đúng các chữ Braille. Trẻ chưa hình thành và

nhu cầu cá nhân của trẻ).
1.2. Trẻ khiếm thị và đặc điểm trẻ khiếm thị lứa tuổi mầm non
1.2.1. Trẻ khiếm thị
Theo Tổ chức Y tế thế giới, trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật
thị giác, tuy đã có những phương tiện trợ giúp đặc thù nhưng vẫn gặp nhiều khó
khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt.
Trẻ khiếm thị có những mức độ suy giảm khác nhau về thị lực và thị trường.
Căn cứ vào mức độ khiếm khuyết của thị giác, người ta chia khiếm thị thành hai
loại mù và nhìn kém (việc phân loại khiếm thị còn phụ thuộc vào mục tiêu của
từng ngành chức năng: Y tế, Giáo dục, Lao động, thương binh và xã hội...) [
Ngành giáo dục Việt Nam đã thống nhất cách phân loại trẻ khiếm thị như
sau:
- Mù, được chia làm 2 loại:
21


+ Mù hoàn toàn: Thị lực bằng 0 đến 0,005 Vis; thị trường bằng 0 tới 10%
với cả hai mắt.
+ Mù thực tế: thị lực còn từ 0,005 Vis đến 0,04 Vis, thị trường nhỏ hơn 10%
khi đã được các phương tiện trợ giúp tối đa. Mắt còn khả năng phân biệt sáng tối
nhưng không rõ.
Trong học tập, đối tượng trẻ mù chủ yếu sử dụng xúc giác và thính giác để
tham gia các hoạt động học.
- Nhìn kém, được chia thành 2 mức độ:
+ Nhìn quá kém: Thị lực còn từ 0,04 Vis đến 0,09 Vis khi đã có các phương
tiện trợ giúp tối đa. Trẻ gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng mắt trong học tập và
sinh hoạt, vì vậy, trẻ cần được giúp đỡ thường xuyên.
+ Nhìn kém: Thị lực còn từ 0,09 Vis đến 0,3 Vis khi đã có các phương tiện
trợ giúp tối đa trẻ vẫn gặp khó khăn trong nhiều hoạt động, tuy nhiên có khả năng
tự phục vụ mà ít cần đến sự giúp đỡ thường xuyên của mọi người, chủ động được

của vật phát ra âm thanh đối với người nghe và với các vật xung
quanh; trạng thái của vật phát ra âm thanh là tĩnh hay chuyển động
(chuyển động theo hướng nào, an toàn hay không an toàn…)



Đặc điểm cảm giác xúc giác
+ Cảm giác xúc giác là tổng hợp của nhiều loại cảm giác gồm: cảm giác
áp lực, cảm giác đau, cảm giác nhiệt, cảm giác sờ...
+ Có hai loại cảm giác xúc giác: cảm giác xúc giác tuyệt đối và cảm giác
xúc giác phân biệt:
+ Ngưỡng cảm giác tuyệt đối là khả năng nhận rõ một điểm của vật tác
động vào bề mặt của da. Đo cảm giác tuyệt đối bằng giác kế (bộ lông
nhỏ), xác định được diện tích của một điểm tác động lên từng bộ phận
của cơ thể người (khả năng cảm nhận được một điểm) tính theo
23


miligam/ milimét vuông: đầu lưỡi 2, đầu ngón tay trỏ 2.2, môi 5, bụng 26,
thắt lưng 48, gan bàn chân 250...
+ Ngưỡng cảm giác phân biệt là khả năng nhận biết hai điểm gần nhau
đang kích thích trên da. Nếu tính khoảng cách giữa hai điểm theo đơn
vị milimét thì ngưỡng cảm giác phân biệt các vùng trên cơ thể như
sau: môi 4,5, cổ 54,2, đùi và lưng 67,4...


Cảm giác cơ khớp vận động: Cảm giác cơ khớp vận động là một cảm giác giúp
trẻ nhận biết những tác động, thay đổi của môi trường bên ngoài lên trạng thái
cơ thể của con người trong quá trình tham gia vận động. Ở người bình thường,
cảm giác này không mấy quan trong, tuy nhiên với trẻ khiếm thị nói riêng,

phát triển đầy đủ. Tuy nhiên chất lượng của các quá trình tâm lý lý lý tính thì có
khác nhau về số lượng và chất lượng. Cụ thể là:


Đặc điểm tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhưng

mối liên hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà trước đó ta chưa biết.
Tư duy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động nhận thức, trong
phục hồi và điều chỉnh những chức năng bị thiếu hụt hoặc rối loạn. Tư duy là hình
thức bậc cao của hoạt động phản ánh khái quát. Tư duy của con người có vỏ bọc là
ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của tư duy. [12]
Nhiều tác giả Xô Viết và Phương Tây khi nghiên cứu về trẻ khiếm thị đã
chứng minh rằng sự phát triển của tư duy không phụ thuộc vào mức độ rối loạn thị
giác.
Tư duy luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn của trẻ, nghĩa là tri giác các sự vật và hiện tượng thực tế một cách
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status