MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Toàn cầu hóa cùng với quá trình giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trên
thế giới đã làm cho văn hóa nhân loại càng phong phú, sinh động. Do vậy, vấn đề
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu văn hóa
trong văn học trở thành một hướng đi mới trong việc khám phá cái hay, cái đẹp
của văn chương.
1.2 Nhà thơ dân tộc Tày Hứa Vĩnh Sước - Y Phương nổi lên như một gương
mặt thơ tiêu biểu, xuất sắc với một phong cách độc đáo của văn học dân tộc miền
núi vừa đậm đà bản sắc “người đồng mình”, vừa rộng mở giao hòa với vùng văn
hóa rộng lớn để hợp lưu thành con sông văn chương Việt Nam. Đọc tác phẩm
nào của anh, độc giả cũng sẽ cảm nhận được chất “miền núi” thấm sâu và lan tỏa
trên từng con chữ, câu văn.
1.3 Tản văn trong những năm gần đây bắt đầu được sự công nhận từ góc độ
giới chuyên môn. Dường như “Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại bị lãng
quên” (Trần Đình Sử) đang có sự hồi sinh và ngày càng hấp dẫn độc giả với
nhiều cây bút như: Đỗ Chu, Thảo Thảo, Nguyễn Ngọc Tư… Đọc tản văn Tháng
giêng, tháng giêng một vòng dao quắm và Kung fu người Co Xàu của Y Phương
người đọc thấy chất miền núi, chất Tày vẫn không bị mất đi mà kết hợp hài hòa
lối tư duy hiện đại tạo nên những trang viết bình dị mà sâu lắng, thiết tha nghĩa
tình, thấm đượm bản sắc văn hóa dân tộc.
Việc đánh giá, thẩm định của giới nghiên cứu về văn nghiệp của Y Phương
chủ yếu tập trung ở thể loại thơ, còn tản văn thì hầu như ít được nhắc đến. Vì vậy,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Bản sắc văn hóa dân tộc trong tản văn Y Phương”
với mong muốn sẽ đưa tới một cái nhìn toàn diện hơn khi đánh giá những giá trị
nổi bật của tập tản văn và bước đầu thấy được một số đóng góp của tản văn trong
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
1
2. Lịch sử vấn đề
chắc, vạm vỡ” [29,226]...
Trong các bài viết trên, các nhà nghiên cứu, phê bình mới chỉ nhìn nhận hay
đánh giá tác phẩm của ông trên một vài phương diện.
Những năm gần đây, thơ Y Phương đã thu hút giới nghiên cứu, trong đó
phải kể đến một số luận văn cao học đặt thơ Y Phương trong mối liên hệ với văn
hóa, với bản sắc văn hóa dân tộc, đó là: “Bản sắc dân tộc trong thơ Y Phương –
Dương Thuấn” (Hà Thị Thu Trang, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007); “Ngôn ngữ
thơ Y Phương” (Lê Thị Huệ, Đại học Vinh, 2009); “Ngôn từ nghệ thuật trong
thơ Y Phương” (Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); “Bản sắc
Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn” (Nguyễn Thị Thu Huyền, Đại học
Thái Nguyên, 2009)... Luận án tiến sĩ “Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay” (Đỗ
Thị Thu Huyền, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2013) nghiên cứu các nhà
thơ Tày, trong đó có thơ Y Phương.
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tản văn Y Phương
Là nhà thơ Tày thành danh, liên tiếp trong hai năm 2009-2010, Y Phương ra
mắt bạn đọc hai tập tản văn “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm”
(Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành) và tản văn “Kung fu người Co Xàu”(Nhà xuất
bản Hội nhà văn ấn hành năm 2010).
Nhận xét về tập tản văn Y Phương, Lâm Tiến viết “Mỗi tản văn của Y
Phương như một lát cắt, một tầng vỉa làm lộ dần chiều sâu văn hóa của quê
hương, của dân tộc. Y Phương không phải chỉ kể lại, tả lại những sự vật, những
hiện tượng mà đi sâu phân tích ý nghĩa cội nguồn của nó, đẩy những sự kiện,
tình huống đi đến tận cùng để từ đó khám phá, phát hiện tâm hồn, tính cách dân
tộc, nói rộng ra là ngọn nguồn, chiều sâu văn hóa của dân tộc” [66].
Tuy Hòa cho rằng “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm không
khác gì những bài thơ mà Y Phương từng tin cậy “Câu hát thiêng liêng lắm chứ/
3
Hát bây giờ còn để lại mai sau”… Tản văn Y Phương không chinh phục người
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
-Phương pháp thống kê- phân loại
- Phương pháp liên ngành (văn hóa học, dân tộc học...).
- Phương pháp đối chiếu so sánh.
-Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần xác định vị trí, những đóng góp của Y
Phương đối với thể tản văn.
- Về mặt thực tiễn: Qua khảo sát, phân tích tác phẩm của Y Phương (đặt
trong so sánh liên ngành), chúng tôi mong muốn được góp thêm một tiếng nói
khẳng định việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm… trang, chia thành ba chương:
Chương 1: Quan niệm về thể loại, một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa
dân tộc và vị trí của tản văn trong văn nghiệp Y Phương.
Chương 2: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nội dung tư tưởng
trong tản văn Y Phương.
Chương 3: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nghệ thuật.
NỘI DUNG
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ THỂ LOẠI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ VỊ TRÍ CỦA TẢN VĂN TRONG VĂN NGHIỆP
Y PHƯƠNG
5
1.1 Quan niệm về thể loại
Tản văn là một thể loại văn xuôi hiện đại, ra đời từ những thập niên đầu thế
Việt Bắc, Đông Bắc… Vùng người Tày cư trú thường xen kẽ các dân tộc Mông,
Dao, Nùng, Sán Chay, Giáy” [14,284]
Văn hóa dân tộc Tày rất độc đáo thể hiện trên phương diện: Văn hóa sản
xuất, văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Trong xu
hướng phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại những trang phục cổ truyền, sinh
hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội là điều không phải dễ dàng; Do đó
việc phát hiện, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của từng dân tộc theo
hướng ngày càng hiện đại nhưng vẫn giữ được dấu ấn riêng là vấn đề ý nghĩa
mang tính thời sự, cập nhật.
1.3 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương
1.3.1 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương
Tên khai sinh của Y Phương là Hứa Vĩnh Sước (các bút danh: Y Phương,
Chu Văn Păn, Hứa Hiếu Lễ) sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 trong một gia đình
nông dân dân tộc Tày ở xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Thân
phụ là cụ Hứa Văn Cường biết chữ nho, làm thầy tào và chữa bệnh điên cứu
người. Thân mẫu ông là bà Nông Thị Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang, tháo
vát, hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm, ý chí
phấn đấu vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ. Muộn hơn so với bạn bè cùng
trang lứa, lên 9 tuổi, ông mới tập nói tiếng Kinh. Học hết cấp I, cấp II, đang học
dở cấp III ở Trùng Khánh, lại là con một trong gia đình chỉ có hai chị em, nhưng
anh đã "lựa chọn thông minh" với ý thức "vượt lên số phận". Chàng trai làng
Hiếu Lễ nhập ngũ năm 1968 ở Binh chủng Đặc công, chiến đấu ở mặt trận miền
Đông Nam Bộ. Năm 1976, anh vào học ngay Trường Điện ảnh Việt Nam. Năm
1982 là học viên của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1985). Năm
7
1985 khi đang dự trại sáng tác Đại Lải thì bị viêm dây thần kinh mạng nhện, với
tinh thần cố gắng vượt lên số phận, vịn câu thơ như vịn tin yêu ông đã khỏi bệnh.
văn có những khởi sắc, mở rộng phương diện đề tài (tiếp cận vấn đề từ góc độ
văn hóa), và cách thức biểu hiện.
Tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm và Kungfu người
Co Xàu của Y Phương luôn bám sát những vấn đề thiết yếu của đời sống. Tản
văn góp phần hoản chỉnh sự nghiệp văn chương của Y Phương, cho thấy đây là
một tài năng đa dạng, có sức sáng tạo bền bỉ, không bao giờ lạc hậu với thời
cuộc. Mỗi thiên phát hiện một hiện tượng, nêu một vấn đề, khắc ghi một hình
ảnh, khêu gợi một suy nghĩ… khiến tâm hồn độc giả rung động, phong phú, thích
thú, biết chú ý đến những vấn đề tinh tế có ý nghĩa ở xung quanh ta. Tản văn của
Y Phương tìm về khai thác bề sâu tâm hồn và tầm cao tư tưởng lịch sử, văn hóa,
truyền thống dân tộc, thể hiện nỗi xót xa trước sự mai một của bản sắc văn hóa
dân tộc.
Chương 2
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG
Y Phương sinh ra và lớn lên, sống gắn bó với núi rừng, tâm hồn ông được
dung dưỡng trong không khí văn hóa của dân tộc. Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc
sống con người vùng cao với những phong tục tập quán đã được nhà văn dựng
lên như một tấm gương phản chiếu chân thực sinh động, phong phú mang đậm
bản sắc văn hóa dân tộc.
2.1 Bức tranh thiên nhiên núi rừng
Quê hương đối với Y Phương là những kỉ niệm xưa – nay, những hình
bóng quen thuộc gần gũi sống động đáng yêu trong một con người. Vì thế quê
hương đối với anh bao giờ cũng có thần, có hồn của nó. Khi viết tản văn, mặc dù
Y Phương không sống trên mảnh đất quê hương nhưng sự hồi tưởng, nhìn về quê
9
hương, bản làng với bao tình cảm sâu lắng khiến cho người đọc yêu mến và thân
thuộc hơn với mảnh đất Cao Bằng quê anh.
kính ngưỡng vọng, trong lòng luôn trĩu nặng ơn Đất, ơn Người.
2.2 Đặc trưng phong tục tập quán
Phong tục “là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được
đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” [73,143]. Nhiều nhà văn đã rất
thành công với những trang viết về phong tục tập quán đồng bào Tày, Mông,
Thái ở Tây Bắc như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều
Ân… Theo dòng chảy văn chương đó, tản văn Y Phương cũng đã ghi dấu bản sắc
văn hóa Tày với những nét phong tục tập quán độc đáo, đặc sắc.
2.2.1 Dấu ấn văn hóa trong ngày Tết
Văn hóa Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo
cho dân tộc Tày một kho tàng văn hóa phi vật thể giàu có về phong tục tập quán,
tín ngưỡng, văn học – nghệ thuật với những lễ, tết cổ truyền đậm đà bản sắc dân
tộc. Theo phong tục của người Tày hầu như tháng nào cũng có tết, nhưng Tết
tháng Giêng là Tết to nhất (Tết anh cả) với sự chuẩn bị công phu và sự đón chờ
từ nửa năm trước.
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”
Tết Tảo mộ (ngày mồng ba tháng ba hàng năm) còn gọi là Tết “Bươn slam, so
slam”, là một phong tục truyền thống không chỉ có riêng dân tộc Tày mà của cả
dân tộc Việt: “Đó là ngày mở cửa hồ. Người dương được gặp lại người âm,
trong niềm nhớ thương vô hạn”; “diễn ra giữa tiết trời ấm áp, khí núi thanh
sạch, lòng người thanh thản”. Tết Hạ chí nhằm đúng vào ngày nóng nhất, trong
tháng nóng nhất của năm: “Đây là cái Tết biện ra để đánh chén. Trong nhà chỉ
có thắp hương, bày bánh gio, đĩa hoa quả cúng tổ tiên”. Trong ngày này, người
dân lại tổ chức ăn đụng thịt chó. Tết Vía trâu diễn ra ngày 6 tháng 6 âm lịch. Có
11
nơi còn gọi là Tết Rửa cày bừa. Đây là cái tết trả công cho trâu, bò và trẻ em mục
đồng chăn thả coi sóc trâu, bò sau vụ mùa cày cấy vất vả mọi bề đã hoàn thành.
tập quán sinh động, phong phú và đặc sắc. Trong đó tục cưới xin, tang ma thể
hiện bản sắc văn hóa rất riêng khác hẳn với các dân tộc khác.
Tục cưới xin
Tục lệ cưới xin được hiểu là việc tổ chức lễ cưới theo phong tục, lễ nghi
đã được người dân quy định từ lâu đời và đã trở thành thói quen, tập tục trong đời
sống xã hội. Tục cưới xin của dân tộc Tày là một nét văn hóa độc đáo, mang đậm
bản sắc dân tộc: “Có đầy đủ các đồ ăn thức uống mặn ngọt, có vui hát lượn tràn
đêm đến sáng bạch”. Lễ cưới là một ngày trọng đại nhất của cuộc đời vì thế trang
phục của cô dâu cũng phải chuẩn bị rất đẹp. Hôm đấy, cô dâu mặc lên người “Tà
áo chàm thắt lưng the” cùng “chiếc khăn vải láng công tùn, hay khăn nhung
ướt, tự lấy tay mình gấp thắt hình mỏ quạ, rồi thả một lọn tóc như đuôi con gà
trống… Đôi giầy vải uốn cong mũi trăng”. Y Phương qua những trang viết của
mình đã phản ánh một cách sinh động bản sắc riêng của dân tộc và làm phong
phú thêm bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung.
Tục ma chay
Tang ma là một việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần
gian. Mỗi một dân tộc đều có các cách thức tổ chức nghi lễ khác nhau. Người
xưa, để làm nhẹ bớt nỗi đau thường quan niệm “sống gửi, thác về”, sống chỉ là
một thời gian ngắn ngủi so với cái chết. Do đó, mỗi người cầm bút đều có cách
cảm, cách thể hiện khác nhau. Qua tản văn Ông dzang tang hương đèn, Y
Phương đã khái quát đám ma người Tày “Tiếng trống thì thùng. Tiếng não bạt
chập cheng. Tiếng phèn la. Tiếng kèn ò í a vang lên rền chín ngày chín đêm…”
Đọc tản văn Bí mật về chai nước trong, Y Phương đã làm sống dạy bản sắc văn
hóa dân tộc Tày qua màn các thày tào, bà bụt diễn tả lại toàn bộ cảnh sinh hoạt
thường ngày, khi cha anh còn sống.
13
2.2.3 Tập quán sinh nở và lễ đầy tháng tuổi
Tập quán sinh nở và lễ đầy tháng tuổi như sợi chỉ đỏ xuyên suốt
người quê hương hiện lên từ phụ nữ, trẻ em đến các nhà văn ... đều chân thực,
giàu nghĩa tình mang đậm dấu ấn miền núi.
Bằng ngòi bút chân thực, Y Phương không ngần ngại viết về những con
người miền núi còn u mê lú lẫn trong nhận thức trong tản văn Cha mẹ cho ta anh
em, trời cho ta bạn. Qua đây ta thấy trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, trình
độ nhận thức của con người nơi đây vẫn còn hạn chế.
Hình ảnh những con người miền núi đã làm nên vẻ đẹp trong tản văn Y
Phương. Qua những trang viết của nhà văn mỗi con người hiện lên với một dáng
vẻ khác nhau nhưng tựu chung lại họ đều mộc mạc giản dị, chân thực hồn nhiên,
nghĩa tình và mang đậm chất của người vùng cao.
2.4 Phương diện nghề thủ công và trang phục
2.4.1 Nghề thủ công
Nghề thủ công của người Tày phong phú, đa dạng. Vì thế đọc tản văn
của Y Phương, chúng ta bắt gặp nhiều sản phẩm thủ công có mặt trong đời sống
hàng ngày của người dân như các vật dụng làm từ trúc: chiếu trúc, bộ khay đựng
cốc chén… Ngoài các công việc liên quan đến kinh doanh, làm hàng kỹ nghệ tinh
xảo như khâu giày vải đến làm mũ miện, áo thêu rồng phượng, đính kim sa…,
người Tày cũng khá nổi tiếng trong nghề rèn. Đọc tản văn Y Phương ta bắt gặp
người thợ đóng móng ngựa rất công phu, tài hoa, nghề vá chảo hàn nồi... Ghế
rơm từ lâu đã gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây
-“Đó là chiếc ghế được bện bằng những sợi rơm vàng óng đã phơi đủ ba
sương”. Những chiếc hài xảo được làm từ những chiếc mo tre rất đặc trưng trong
đời sống của dân tộc…
15
Tóm lại, các nghề thủ công của dân tộc Tày đã tạo ra nhiều loại sản
phẩm nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày của cư dân, đồng thời
thể hiện tư duy thẩm mỹ và trí thông minh sáng tạo của dân tộc trong quá trình
con người cuộc sống định cư, đặc biệt có “an cư thì mới lạc nghiệp” cho nên ngôi
nhà có vị trí quan trọng trong đời sống. Do những điệu kiến đặc thù, kiến trúc nhà
của người dân tộc Tày thường thể hiện mối giao hòa với thiên nhiên.
Kiến trúc đình làng, giếng nước, nhà ở là nét đặc trưng cho dân tộc
Tày qua bao đời nay, nó không chỉ là phong tục tập quán mà còn thể hiện nét đẹp
thẩm mĩ và trí tuệ của con người nơi đây.
2.5.2 Ngôn ngữ
Trên đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi
dân tộc có một thứ ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ dân tộc Tày rất giàu và đẹp, điều
đó đã khiến cho lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Tày trở nên hết sức phong
phú, uyển chuyển và tinh tế. Làng Hiếu Lễ, quê hương Y Phương xưa kia là đất
của quan Châu quan Phủ. Một vùng quê có mỏ nước ăn quanh năm đầy ăm ắp,
nước vừa trong vừa ngọt bởi nó được chắt ra từ các kẽ chân núi đá. Y Phương tự
hào viết Trùng Khánh – “Một vùng đất giàu tính nhạc, trong ngôn ngữ giao tiếp,
trong các làn điệu hát dân ca”.
Y Phương đưa người đọc tìm hiểu về nguồn gốc nhóm ngôn ngữ Tày
Thái qua tản văn Giọng nói người Cao Bình. Bằng việc miêu tả giọng nói người
Cao Bình, nhà văn đã phần nào nói lên sự khác biệt trong hệ thống ngôn ngữ dân
tộc Tày. Đến với tản văn Đi chợ nhìn người, bạn đọc thấy được nét đặc trưng của
người Cao Bình khi nói chuyện thường thêm chữ “lỏ” .
Ngôn ngữ dân tộc Tày mang màu sắc văn hóa riêng, qua những trang
viết tản văn, Y Phương đã giúp người đọc nhận ra một thứ ngôn ngữ rất tự nhiên,
mộc mạc như chính bản chất núi; đồng thời làm phong phú giàu có hơn ngôn ngữ
dân tộc.
17
2.6 Nỗi xót xa trước sự mai một của bản sắc văn hóa dân tộc
Văn hóa là toàn bộ ứng xử của cộng đồng người với tự nhiên và xã
hội và tạo ra bản sắc riêng của từng dân tộc, làm nên bề dày truyền thống. Mỗi
Chương III
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
3.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Trong tác phẩm văn học, sự sáng tạo
về ngôn từ của nhà văn đóng vai trò quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo và tài
năng của nhà văn, vừa phản ánh được bản sắc văn hóa dân tộc. Y Phương là nhà
văn dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cao Bằng, anh có sự thuộc hiểu
về đời sống và con người nơi đây nên nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tản văn
mang đậm dấu ấn miền núi và tràn ngập chất thơ.
19
3.1.1 Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn miền núi
Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở, là hình thức biểu hiện và thể hiện độc
đáo của từng dân tộc. Nó là một “kênh” quan trọng để truyền tải giá trị văn hóa
qua các thế hệ. Trong dòng chảy của văn học thiểu số, cùng với các cây bút như
Nông Viết Toại, Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn… ngôn ngữ trong tản văn Y
Phương mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đọc tản văn Y Phương, ta thấy xuất
hiện hệ thống từ ngữ chỉ địa danh với những tên núi, tên làng, xã, huyện, chợ.
Những địa danh không chỉ mang đậm dấu ấn văn hóa miền núi mà đã tạo nên
một không gian nghệ thuật rộng lớn; đồng thời thể hiện tính chân thực cho nội
dung được phản ánh trong những trang viết. Y Phương là người thông thạo cả hai
thứ tiếng Tày và Việt, ông đã chọn lọc những tinh chất cần có để tạo nên ngôn
ngữ riêng. Y Phương không chỉ sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu mà
ông còn sử dụng tiếng Tày nhiều và nhuần nhụy nhất trong các trang viết. Bản
sắc dân tộc trong tản văn Y Phương còn được tạo bởi việc sử dụng từ ngữ sóng
đôi nửa Tày, nửa Kinh, không những làm cho ý nghĩa của tiếng việt được mở
rộng hơn, khái quát hơn. Tản văn Y Phương không chỉ mang theo những con
người, những sự kiện, những hiện tượng thân quen gần gũi mà còn mang cả hình
văn gửi gắm vào những trang viết khiến nhiều khi ta phải lắng lòng ngẫm ngợi.
Bằng khả năng quan sát tinh tế cùng tình yêu quê hương, Y Phương đã nắm
bắt được chất thơ của cuộc sống và con người từ những chi tiết rất đỗi bình dị và
quen thuộc. Có thể nói sự đan xen, kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ đậm màu sắc
dân tộc với ngôn ngữ đậm chất thơ đã tạo nên phong cách nghệ thuật riêng, làm
sống dạy bản sắc văn hóa dân tộc và hấp dẫn người đọc.
3.1.3 Ngôn từ độc đáo, mới mẻ đầy sáng tạo trong tản văn Y Phương
Nét đặc sắc nhất trong ngôn từ nghệ thuật tản văn của Y Phương là cách sử
dụng từ ngữ rất độc đáo. Những từ ngữ, đặc biệt là những từ láy chưa từng xuất
21
hiện trong Từ điển Tiếng Việt, vừa biểu cảm vừa tạo hình, vừa có khả năng gợi
liên tưởng mạnh mẽ cho người đọc. Sau đây là một vài dẫn chứng tiêu biểu:
Tên tản văn
Tết anh cả
Từ ngữ độc đáo
“Thóc lúa kìn kịt vào cửa trước. Trâu, bò, ngựa, dê nung núc
Ăn cái tình
vào cửa sau”; “Những chum rượu phình phành ngất ngưởng”.
“Tiếng bột gạo kêu thóp thép”, “Bánh hổn hển run rẩy”, “Cả
lũ bánh bì bõm sướng”
Về Trùng Khánh “Cả một cánh rừng dẻ râm ran đang vào vụ. Ban ngày thì dẻ
mà nghe hạt dẻ
lao xao, rì rào, tí tách rơi. Rơi như mưa màu nâu”
bay bay”; “Những chuột cụ, chuột ông, chuột cha, chuột con
béo núc nịch núc ních”; “Lưng đặt lên tiếng nhệu nhạo kít
Dọa ma
két”; “rơm càng dẻo dai nhanh nhách”.
“Mọi người đang lim nhim vào giấc”; “Ma quỷ nghe tiếng dao
kêu lắc cắc leng keng là lập tức ba chân bốn cẳng chuồn
ngay”; “Tuy là vua con nhưng oai oách ngang bằng một ông
22
vua lớn”; “Im lin lít”.
Áo tân thời bước “Lúa má từ ngoài đồng xồ xồ nhảy vào bồ bịch. Bồ bịch và
vào cửa vóng
thạp đựng thóc cứ ngồng ngàng nằm ngồi chật nhà”; “Áo tân
thời ôm khít khịt vào dáng người. Nên nó càng làm nổi cái
túng tính tùng tình cả đôi quả vả”; “đôi chân pằm pặp”; “ti hí
lờn lợt như mắt quan tham”.
Chắp hai tay con “Tiếng chóp chép nhoong nheeng râm ran trong lòng mẹ”;
gọi mẹ
Cây gạo làng tôi
“Mẹ mỉm cười và quẩy đôi thùng thung thăng ra suối …”.
“Đánh rồ roạt một cái là được một lượt”; “lốc nhốc đi qua
Tiếng ve cay
làng”; “ai ai cũng sướng ròa ròa trong bụng”.
thức về mình và dân tộc mình. Trong những trang viết của mình, nhân vật trữ
tình luôn trở về sống với những kỷ niệm sinh hoạt thường ngày ở ngôi làng người
23
Tày của mình với những phong tục tập quán từ đời này truyền sang đời khác.
Nhà văn đắm chìm trong văn hóa lễ tết, văn hóa ẩm thực, văn hóa tâm linh…
Nhà văn có cái nhìn từ chiều sâu văn hóa dân tộc nên anh luôn có khát
vọng bảo tồn những giá trị tốt đẹp của văn hóa Tày trong thời kỳ hội nhập và
giao lưu quốc tế. Trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật trữ tình luôn tiếc nuối những
ngày đã xa, sắp rời xa, hoặc sẽ vĩnh viễn mất trong xã hội người Tày. Từ lời ăn
tiếng nói đến trang phục, kiến trúc… đã có xu hướng “Kinh hóa”. Ta bắt gặp
trong tản văn là bức chân dung tự họa, là chân dung tâm hồn người trai Tày và
những con người xung quanh.
Qua cái nhìn của nhà văn, bạn đọc được trải nghiệm một góc nhìn mới về
văn hóa Tày rực rỡ, độc đáo. Ẩn giấu trong tầng sâu tản văn là cái tình chân chất,
hồn nhiên, kín đáo, qua đó người đọc càng càng trân trọng và yêu quý hơn tình
người, tình yêu quê hương, dân tộc nồng đượm, da diết của kẻ tha hương tự nhận
mình là một “que thử”, dù “bứng ra khỏi đất Tày, nhúng xuống thành phố vẫn cứ
xanh một màu rừng”.
Bằng cái nhìn của người miền núi viết về miền núi, những trang tản văn
của Y Phương không "đóng đinh" bó hẹp trong cuộc sống sinh hoạt của người
Tày mà vượt lên, vươn xa như một dấu nối với văn học các dân tộc khác trong
thời kỳ hội nhập. Tác phẩm vì thế mà mở rộng biên độ, phong phú đề tài về cuộc
sống, con người miền núi – thành thị, tình yêu đất nước – quê hương, tình cảm
gia đình – bạn bè - tình yêu lứa đôi…và điều quan trọng là thẫm đẫm bản sắc văn
hóa “người đồng mình”.
24