NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHÚNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
------  ------

THÁI NGỌC TRÍ

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
CHÚNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 62.42.01.20

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học và Công nghệ
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Đức Đạt
GS. TS. Richard Lee Mayden

Phản biện 1:

của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), góp phần xây dựng
cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn nguồn gen của các loài cá ở
ĐBSCL, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu Đa dạng sinh học
khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do
tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) và các yếu tố ảnh hưởng đến
khu hệ cá ĐBSCL, lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo
tồn ĐDSH.
3. Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL: thành phần loài,
đặc điểm sinh thái học của khu hệ cá ở ĐBSCL. Nghiên cứu sinh học
phân tử của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes);


2
(2) Nghiên cứu sự ảnh hưởng và tác động của Biến đổi khí hậu,
Nước biển dâng và các hoạt động phát triển Kinh tế - Xã hội đến sự
đa dạng sinh học khu hệ cá và hoạt động nghề cá ở ĐBSCL;
(3) Nghiên cứu Lồng ghép xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá
gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nước Búng Bình
Thiên, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả đạt được của luận án trong nghiên cứu cơ bản về đa dạng
khu hệ cá và thực tiễn về quản lý nghề cá bền vững, có sự tham gia
của cộng đồng ngư dân - Đồng quản lý nghề cá, đóng góp cơ sở
khoa học và thực tiễn trong công tác bảo tồn nguồn lợi cá, quản lý
nghề cá thích ứng và cơ sở dữ liệu về gen (DNA), trong nghiên cứu
bảo tồn đa dạng nguồn gen các loài cá bản địa ĐBSCL.
5. Điểm mới của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận - Kiến nghị, Luận án có 3 Chương:
-

Chương 1. Tổng quan;

-

Chương 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu;

-

Chương 3. Kết quả nghiên cứu.

Không tính các trang thuộc: Danh mục công trình tác giả, Tài liệu
tham khảo và các trang phụ lục, Luận án được trình bày trong 150
trang, với 53 biểu bảng và 49 hình ảnh, bản đồ, đồ thị minh họa.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đặc điểm địa lý tự nhiên
ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương, với ổng
diện tích tự nhiên 39.734 km 2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả
nước. Dân số vùng ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.478.900 người,
mật độ dân số 431 người/km 2 [Tổng cục Thống kê, 2013].


4
ĐBSCL là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công, một miền trũng
Kainozoi Mê Công, được lấp đầy chủ yếu bằng các trầm tích hỗn
hợp sông - biển. Ngoài ra, còn có các trầm tích nguồn gốc khác nhau
như bồi tích, trầm tích trên các giếng cát có nguồn gốc biển, trầm

sông và đổ ra biển qua sáu cửa. Sông Mỹ Tho đổ ra biển qua cửa Đại
và sông cửa Tiểu (nhánh nhỏ của sông Mỹ Tho) đổ ra cửa Tiểu. Sông
Hàm Luông đổ ra cửa Hàm Luông, sông Ba Lai đổ ra cửa Ba Lai.
Sông Cổ chiên đổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.
Khí hậu
ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền khí hậu quanh năm
nắng và sự phân mùa khô - ẩm rất sâu sắc, tùy theo hoạt động của
hoàn lưu gió mùa. Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng
là thời kỳ khống chế của gió mùa Đông Bắc (GMĐB) kéo dài
khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, có khí hậu đặc trưng là
khô, nóng và ít mưa. Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống
chế của gió mùa Tây Nam (GMTN) kéo dài từ tháng V đến tháng X.
Khí hậu ở ĐBSCL là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo,
nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm. Bức xạ tổng cộng trung bình
năm khoảng từ 150 - 160 kcal/cm2. Số giờ nắng trung bình năm
khoảng từ 2.200 - 2.800 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình năm biến
đổi trong phạm vi 26 - 29oC.
HỆ SINH THÁI THỦY VỰC NỘI ĐỊA ĐBSCL
Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt
ĐBSCL có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt. Hệ sinh thái vùng
nước ngọt ở ĐBSCL, ngoài hệ thống đầu nguồn của sông Cửu Long,
còn có hệ thống các sông: Vàm Cỏ Tây, với chiều dài trong lãnh thổ
Việt Nam khoảng 110 km. Sông Sở Thượng, Sở Hạ, Cái Cỏ -

Long


6
Khốt chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các tỉnh
Đồng Tháp, Long An, v.v. Cùng với hệ thống hồ tự nhiên, vùng đất

chuyên môn), như: phân vùng sinh thái theo địa lý, môi trường, nuôi
trồng thủy sản, v.v. Theo Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Văn Trọng
(2001), phân chia vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản ven biển
ĐBSCL thành các vùng, gồm: Vùng I, từ cửa sông Soài Rạp đến cửa
sông Bồ Đề; Vùng II, từ cửa sông Bồ Đề đến sông Đồng Cùng; Vùng
III, từ cửa sông Đồng Cùng đến Hà Tiên. Theo Lương Quang Xô,
phân chia vùng ĐBSCL thành 5 vùng chính gồm: Bán đảo Cà Mau
(BĐCM); Tứ giác Long Xuyên (TGLX); vùng giữa sông Tiền và
sông Hậu; vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) và tiểu vùng Vàm Cỏ.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ
HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ ĐBSCL
Công trình nghiên cứu đầu tiên liên quan đến phân loại về cá nước
ngọt ở Việt Nam của H.E. Sauvage (1881) “Nghiên cứu về khu hệ cá
Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”. Công trình đã
thống kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài
mới ở miền Bắc Việt Nam. Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của
G. Tirant (1883), H.E. Sauvage (1884), L. Vallant (1891), J.
Pellegrin (1906, 1907, 1928, 1932); P. Chabanaud (1924), v.v. Kế
tiếp là các công trình nghiên cứu của một số các nhà khoa học trong
nước và nước ngoài như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958,
1959); Đào Văn Tiến và cs (1961); Mai Đình Yên (1962); Hoàng
đức Đạt (1964); Nguyễn Văn Hảo (1964); P. Bănărescu (1967, 1970,
1971); Mai Đình Yên (1978); Nguyễn Hữu Dực (1982); Mai Đình
Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực
(1994), v.v. Ở miền Nam, trước năm 1975 có một số công trình
nghiên cứu của các tác giả: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964);
Fourmanir (1965); M. Yamarmura (1966); Kawamoto và cs (1972);


8

gia đình, các cơ quan quản lý tại địa phương, hội thảo cộng đồng.
- Thiết bị và hóa chất sử dụng: thiết bị giải phẫu ngư loại,
Ethanol (EtOH) 70% và EtOH 90%, Formaldehyt 10%, lọ đựng mẫu
mô thể tích 1,5 ml có gắn mã vạch (Barcoding), Máy ảnh, GPS, v.v.
Dữ liệu thứ cấp ở thực địa; Các hình ảnh, cùng với sinh cảnh được
mô tả, thời gian, địa điểm (tọa độ địa lý), người thu thập, v.v. được
ghi chép vào nhật ký thực địa và lưu giữ trong máy tính xách tay.
XỬ LÝ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
- Nghiên cứu về hình thái học (Định loại, xác định tên khoa học
dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài), xử lý dữ liệu, hoàn thành
luận án tại phòng Thí nghiệm Viện Sinh học Nhiệt đới, Việt Nam.
- Nghiên cứu sinh học phân tử được thực hiện tại phòng Thí
nghiệm tích hợp Đa dạng sinh học, Bảo tồn và Gen, Khoa Sinh học,
Đại học Saint Louis, Missouri, Hoa Kỳ.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐBSCL
Đa dạng về thành phần loài
Đa dạng về thành phần loài: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long, đã phân tích và xác định được 216 loài cá,
thuộc 60 họ, 19 bộ. Trong đó, lớp cá sụn có hai bộ: Bộ cá mập
(Carcharhiniformes) và bộ cá đuối ó (Myliobatiformes); Lớp cá


10
xương có 17 bộ. Trong 19 bộ cá đã được xác định, bộ cá vược
(Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất, với 66 loài thuộc 27 họ,
chiếm tỷ lệ 30,6%; Xếp thứ hai là bộ cá chép (Cypriniformes), có 55
loài thuộc 3 họ, chiếm tỷ lệ 25,5%; Xếp thứ ba là bộ cá nheo
(Siluriformes), có 40 loài thuộc 7 họ, chiếm tỷ lệ 18,5%. Các bộ còn
lại có số lượng loài dao động từ 1 loài - 12 loài, chiếm tỷ lệ từ 0,5% 5,6% trong cấu trúc thành phần loài của khu hệ. (Hình 2).


Bộ cá cóc
0,5%

Bộ cá đèn sông
0,9%

Bộ cá hồng nhung
0,5%

Hình 2. Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL

Các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá vùng ĐBSCL: Kết quả nghiên
cứu, đã ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ 2 bộ, cho khu hệ cá vùng
ĐBSCL, gồm: cá Lòng tong đuôi vàng Rasbora tornieri Ahl, 1922;
cá Cóc nhiều râu Cyclocheilichthys heteronema (Bleeker, 1854); cá
Khoai (Acantopsis sp.1); cá Khoai (Acantopsis sp.2); cá Khoai
(Acantopsis sp.3) và cá Mang rổ Toxotes microlepis Günther, 1860.
Các loài cá quý hiếm và loài nhập nội ở ĐBSCL: Trong 216 loài cá
thuộc 60 họ, 19 bộ ở vùng ĐBSCL, có 19 loài nằm trong sách Đỏ
Việt Nam (2007) và danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2014), với tình
trạng bị đe dọa ở các mức độ khác nhau (Bảng 1).


11
Bảng 1. Danh sách các loài bị đe dọa
Stt
I
1
1


OSTEOGLOSSIFORMES

Họ cá Thát lát

Notopteridae

Cá còm

Chitala ornata (Gray, 1831)

BỘ CÁ MĂNG BIỂN

ELOPIFORMES

Họ cá Măng biển

Elopidae

Cá cháo biển

Elops saurus Linnaeus, 1766

Họ cá Cháo

Megalopidae

Cá Cháo lớn

Megalops cyprinoides (Broussonet, 1782)


VU DD

VU NT

Họ cá Trích

Clupeidae

6

Cá mòi không răng

Anodontostoma chacunda (Hamilton, 1822)

VU

7

Cá cháy nam

Tenualosa thibaudeaui (Durand, 1940)

VU VU

8

Cá cháy bẹ

Tenualosa toli (Valenciennes, 1847)


Cá trà sóc

Probarbus jullieni Sauvage, 1880

VU EN

BỘ CÁ NHEO

SILURIFORMES

8

Họ cá Lăng

Bagridae

13

Cá chốt cờ

Mystus bocourti (Bleeker, 1864)

9

Họ cá Tra

Pangasiidae

14


VU

18

Cá hường (Thái hổ)

Datnioides microlepis Bleeker, 1854

VU

6

VI
7
9

VII

VIII

10

VU
VU VU
CR

VU

VU


(2) IUCN Red list Status, (2014)

Trong 19 loài cá bị đe dọa có mặt ở ĐBSCL, hiện nay một số loài đã
được sinh sản nhân tạo, gồm: cá Còm, cá Chép, cá Duồng, cá Hô, cá
Trà sóc, cá Tra, cá Hường vện, một số loài trong chúng là đối tượng
nuôi có giá trị kinh tế như cá Chép, cá Tra, cá Còm.
Ở Việt Nam, các loài cá nhập nội được di nhập vào từ những năm
1958, phục vụ cho nghề nuôi cá thịt và nghề nuôi cá cảnh. Các loài
cá và các dòng cá nhập có nguồn gốc từ nhiều nước và châu lục,
gồm: châu Phi, châu Mỹ (Brazil), châu Âu (Hungari), châu Á (Ấn Độ,
Trung Quốc,) và Đông Nam Á (Thái Lan, Philippine, v.v.). Cùng với
nghề khai thác cá, nghề nuôi cá ở ĐBSCL có truyền thống và phát
triển mạnh trong những thập niên gần đây. Các đối tượng nuôi khá
phong phú, có hai nguồn gốc: (1) Tuyển chọn sử dụng giống từ các
loài cá có nguồn gốc bản địa ở ĐBSCL; (2) Sử dụng nguồn giống là
các loài nhập nội hoặc từ vùng khác trong nước đến phục vụ cho
nghề nuôi, nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt thực phẩm, hoặc di nhập
phục vụ nghề cá cảnh. Kết quả điều tra, thu thập thông tin từ ngư dân
và tham khảo các tài liệu, đã xác định ở ĐBSCL hiện nay có 14 loài
cá thuộc 7 họ, 5 bộ, là những loài nhập nội chủ yếu phục vụ nghề
nuôi cá thịt phổ biến ở ĐBSCL. Một số loài nhập nội đã hình thành
quần thể tác động đến các loài bản địa, đến hệ sinh thái, môi trường.
Chúng thích nghi với môi trường sống tự nhiên ở ĐBSCL, phát triển
nhanh về quần thể, cạnh tranh nguồn thức ăn, nơi sống của các loài
cá bản địa như: cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus), cá Trê

phi

(Clarias gariepinus), cá Rô phi đen (Oreochromis mossambicus), v.v.

đó, có thể phân chia ĐBSCL thành 5 tiểu vùng sinh thái gồm: (1) tiểu
vùng sinh thái thuộc vùng TGLX, (2) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng
ĐTM, (3) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng trung tâm ĐBSCL, (4) tiểu
vùng sinh thái thuộc vùng BĐCM và (5) tiểu vùng sinh thái thuộc
vùng CSVB (từ cửa Tiểu Tiền Giang đến Kiên Giang).
Tiểu vùng TGLX và tiểu vùng ĐTM, đặc trưng cho vùng thượng
nguồn ĐBSCL chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ bởi lưu vực
sông Mê Công, các loài cá chiếm ưu chế chủ yếu có nguồn gốc ngọt,
đồng thời cũng là tiểu vùng chịu ảnh hưởng bởi phèn có nhiều loài
“cá đen” sinh sống trong mùa khô.
Tiểu vùng trung tâm ĐBSCL được xem là vùng giao thoa và chuyển
tiếp giữa nước ngọt và nước mặn. Tùy vào chế độ tương tác giữa
nguồn nước ngọt của sông Mê Công và chế độ triều của biển theo
mùa (mưa hoặc khô), tạo nên vùng lợ hoặc xâm nhập mặn (XNM)
sâu trong tiểu vùng. Đây là vùng có thành phần loài đa dạng gồm
nhóm cá có nguồn gốc ngọt, mặn, lợ.
Tiểu vùng CSVB chịu sự chi phối và tác động chính của chế độ thủy
triều (bán nhật triều và nhật triều) biển Đông, biển Tây cùng với các
yếu tố về TĐL của biển - sông và chế độ GMĐB hoặc GMTN. Ngoài
yếu tố chi phối bởi tác động sông - biển, còn chịu sự chi phối và tác
động bởi các hệ thống công trình thủy lợi và đê biển. Các nhóm cá
đại diện có nguồn gốc mặn, lợ chiếm ưu thế.
Tiểu vùng BĐCM, chịu sự chi phối và tác động chính của chế độ
thủy triều biển Đông và biển Tây và sự tương tác giữa biển Đông và


15
biển Tây theo chế độ GMĐB hoặc GMTN; Sự chi phối của các hệ
thống công trình thủy lợi, đê biển; Sự tương tác giữa sông Mê Công
và biển Đông, biển Tây. Các nhóm cá đại diện và đặc trưng cho tiểu

Số họ, 37

200

Mùa khô Mùa lũ
47%
53%

0
Mùa lũ

Mùa khô

Hình 4. Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL theo mùa

Khu hệ cá ĐBSCL một phần của khu hệ cá sông Mê Công có mối
quan hệ chặt chẽ trong chu kỳ sống và phát triển gắn liền với chế độ
thủy văn của sông Mê Công; Hàng năm về mùa lũ cá bột, cá con của
nhiều loài từ sông Mê công di cư theo dòng nước lũ về ĐBSCL vào


16
sinh sống trong vùng ngập, lớn lên bổ sung vào trữ lượng cho khu hệ
cá ĐBSCL. Các loài cá có nguồn gốc biển sống rộng muối ở vùng
biển gần bờ, cửa sông, vào sâu trong vùng hạ lưu theo sự xâm nhập
mặn trong mùa khô, một số loài di cư vượt sông Cửu Long lên trung
lưu sông Mê Công sinh sản.
Đặc điểm sinh học, sinh thái khu hệ cá ĐBSCL: Đặc điểm về sinh
học, sinh thái của khu hệ cá ĐBSCL gắn liền với điều kiện tự nhiên
vùng ĐBSCL (Thời tiết, khí hậu, mùa khô và mùa mưa lũ), chế độ

phần của khu hệ cá sông Mê Công, nhiều loài cá có giá trị cao là
nguồn gen quí hiếm cá nước ngọt của thế giới, (cá Hô, cá Tra dầu,
v.v.) trong chu kỳ sống của chúng gắn liền với cả dòng sông Mê
công từ trung, thượng lưu đến hạ lưu - ĐBSCL.
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐA DẠNG KHU
HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Trong những thập niên gần đây, sự xuất hiện các hiện tượng cực
đoan của thời tiết (sự BĐKH), đã tác động không nhỏ đến hệ sinh
thái thủy vực nội địa vùng ĐBSCL. Theo Bộ TN&MT (2012), nếu
mực nước biển dâng 1 m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập, gần 35% dân số thuộc các tỉnh
vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng trực tiếp.
Kết quả nghiên cứu đã xây dựng kịch bản BĐKH và NBD (B2,
A1F1) chi tiết đến cấp xã, vùng ven biển của 5 cửa sông từ cửa Tiểu,
Tiền Giang đến cửa Cổ Chiên, Bến Tre (Bảng 2), (Hình 5 và Hình 6).
Bảng 2. Kịch bản trị số nước biển dâng ở vùng nghiên cứu
MỐC THỜI GIAN

Trị số NBD (cm) theo Bộ Tài
nguyên và Môi trường (2011)
Trị số mức tăng độ sâu ngập lụt

2050
2020 (kịch
(kịch bản
bản B2)
B2)

2100

cường)
Bản đồ phân bố độ
ngập lụt cực đại vào
năm
2050 (lũ+triều
cường)
Bản đồ phân bố độ
ngập lụt cực đại vào
năm 2100 (lũ+triều
cường+bão cấp 12)

Bản đồ phân bố độ ngập
lụt cực đại vào năm 2020
(lũ+triều cường), có
GPTU
Bản đồ phân bố độ ngập
lụt cực đại vào năm 2050
(lũ+triều
cường),

GPTU
Bản đồ phân bố độ ngập
lụt cực đại vào năm 2100
(lũ+triều cường+bão cấp
12), có GPTU

Bản đồ phân bố độ
ngập lụt cực đại vào
năm 2020 (lũ+triều
cường+bão cấp 12)

2050 do kiệt, triều
cường và gió chướng

Bản đồ phân bố độ
mặn cực đại vào năm
2050 do kiệt, triều
cường và gió chướng;
có GPUP

Biên độ mặn cực
đại 4g/l vào năm
2050 do kiệt, triều
cường và gió
chướng

Bản đồ phân bố độ
mặn cực đại vào năm
2100, B2 do kiệt và
triều cường

Bản đồ phân bố độ
mặn cực đại vào năm
2100, B2 do kiệt và
triều cường; có GPUP

Biên độ mặn cực đại
4g/l vào năm 2100,
B2 do kiệt và triều
cường


thống cống thoát lũ đã đưa một lượng lớn cá bột và cá con ra biển,
chúng sẽ bị chết trong môi trường nước lợ, mặn ở vùng CSVB.
Những ảnh hưởng của hoạt động Kinh tế - Xã hội trên toàn lưu vực
sông Mê Công đối với ĐDSH khu hệ cá ĐBSCL: Những hoạt động
ngăn dòng sông chính, các phụ lưu để xây dựng thủy điện, thủy lợi,
khai phá rừng trong lưu vực để làm nông nghiệp, v.v., ở trung,
thượng lưu sông Mê Công đã và sẽ ảnh hưởng đến vùng hạ lưu,
trong đó có ĐBSCL. Việc trữ nước cho các hồ chứa thủy điện, thủy
lợi từ đầu đến giữa mùa mưa, làm thay đổi thời gian và cường độ lũ
trên sông, các loài cá có tập tính sinh sản trên sông vào đầu mùa lũ sẽ
không có đủ điều kiện sinh thái để sinh sản. Nguồn cá bột, cá con di
cư theo nước lũ về ĐBSCL sẽ giảm sút, v.v.
Phương thức khai thác, sử dụng nguồn lợi cá: Trong những thập niên
gần đây, hoạt động nghề cá ở ĐBSCL luôn là áp lực đối với nguồn
lợi cá, lực lượng khai thác lớn, cường độ khai thác cao, thời gian khai
thác liên tục (quanh năm), khai thác ở khắp các loại hình thuỷ vực,
ngư cụ khai thác đa dạng về chủng loại, phong phú về số lượng, sử


20
dụng nhiều loại ngư cụ lạc hậu, lạm sát, kích điện; Cùng với sở thích
sử dụng các loài cá con, chưa trưởng thành (cá lóc con, cá rô hạt bí),
các loài cá đang mang trứng, v.v., đã góp phần không nhỏ làm suy
giảm nguồn lợi cá trong tự nhiên.
Hiện trạng bảo vệ ĐDSH khu hệ cá ĐBSCL: Cùng với hệ thống văn
bản pháp lý (Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật
Thủy sản, sách Đỏ Việt Nam, v.v.), Cơ quan quản lý Trung ương và
các địa phương ở ĐBSCL, đã thực hiện các giải pháp quản lý và bảo
vệ nguồn lợi cá, như: chương trình thả cá phục hồi nguồn lợi hàng
năm, xây dựng các khu Bảo tồn Thủy sản nội địa; Kiểm tra xử phạt

Bảng 3. Kết quả các hoạt động xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá
Stt
Nội dung nghiên cứu Thời gian
Kết quả
I
1
2
3

4
II
1
2

3

Hoạt động nghiên cứu đánh giá
Đánh giá nhu cầu, năng
12 tháng
lực cộng đồng
Nghiên cứu hiện trạng
12 tháng
Kinh tế-Xã hội
Đánh giá vai trò của hệ
sinh thái đất ngập nước 24 tháng
Búng Bình Thiên

Có nhu cầu, đạt sự đồng
thuận 100%
Kinh tế-Xã hội của 3 xã ở


Các hoạt động lồng ghép
ĐQL gắn với bảo tồn

60 tháng

Sinh kế, quy họach ngư cụ,
quy ước cộng đồng, v.v.

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Kết quả đã thu thập và xác định được 216 loài cá thuộc 60 họ,
19 bộ ở ĐBSCL. Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng
loài nhiều nhất với 66 loài chiếm tỷ lệ 30,6%; kế đến là bộ cá Chép
(Cypriniformes) có 55 loài chiếm tỷ lệ 25,5%; Xếp thứ ba là bộ cá
nheo (Siluriformes), có 40 loài chiếm tỷ lệ 18,5%. Giải mã trình tự
DNA của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), góp phần
trong nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen các loài cá nước ngọt bản địa.
2. Ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ, 2 bộ cho khu hệ cá
ĐBSCL (4 loài thuộc bộ cá Chép và 1 loài thuộc bộ cá Vược). Có 19
loài cá thuộc 11 họ, 8 bộ bị đe dọa ở các mức độ khác nhau, gồm:
VU, EN, CR chiếm tỷ lệ 8,8%. Trong đó 14 loài nằm trong sách Đỏ
Việt Nam (2007), 10 loài nằm trong danh lục Đỏ IUCN (2014).
3. Nguồn lợi cá ĐBSCL có vai trò quan trọng trong khu vực và
trong đời sống của cộng đồng ngư dân. Kết quả khảo sát thực địa kết
hợp với phỏng vấn ngư dân, đã xác định được 79 loài cá thuộc 30 họ,
9 bộ được xem là những đối tượng có giá trị kinh tế và 24 loài thuộc
15 họ, 5 bộ là đối tượng nuôi có nguồn gốc bản địa.
4. Di cư là đặc điểm sinh thái học quan trọng của khu hệ cá
ĐBSCL: di cư sinh sản, di cư bắt mồi (dinh dưỡng, sinh trưởng), di

8. Kết quả xây dựng thành công Đồng quản lý nghề cá ở vùng
đất ngập nước Búng Bình Thiên, làm cơ sở khoa học và thực tiễn
trong lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn Đa dạng
sinh học nói chung và nguồn lợi cá nói riêng ở ĐBSCL.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status