Giải pháp xây dựng thương hiệu hàng nông sản ở việt nam hiện nay - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

PHẠM THỊ HUYỀN TRANG

GIẢI PHÁP XÂY DựNG THƯƠNG HIỆU
HÀNG NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỉnh tế chính trị

Người hướng dẫn khoa học:

ThS. NGUYỄN THỊ NHUNG

HÀ NỘI -


Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Nhung - Người đã
hướng dẫn em tận tình trong suốt quá ữình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận. Em
xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong ban lãnh đạo Khoa Giáo dục chính trị Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng như các thầy các cô trong tổ Kinh tế - Chính
trị đã trang bị đầy đủ kiến thức quý báu để em có thể vững bước hoàn thành tốt khóa
LỜI CẢM
luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh quan tâm, ủng
hộ em ữong suốt quá ữình học tập, nghiên cứu khóa luận.

Xuân Hòa, tháng 5 năm 2016
Sinh viên

Phạm Thị Huyền Trang

vị thế của mình trên trường quốc tế. Nhìn lại chặng đường ấy, chúng ta không khỏi tự
hào về những thành tựu rực rỡ mà cả nước đã cùng chung tay góp sức xây dựng nên.
Đặc biệt trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam luôn là một trong các quốc gia hàng
đầu thế giới về xuất hàng nông sản. Chính vì vậy, nhiệm vụ phát triển lĩnh vực nông
sản được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu trong phát triển kinh
tế đất nước.
Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, song
hành với nó là xu thé khu vực hóa cũng đang trở nên sâu sắc đã mở ra nhiều cơ hội lý
tưởng cho hàng nông sản Việt Nam để quảng bá, đưa sản phẩm của mình ra thị trường
thế giới. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng nông sản đang đứng trước sự cạnh
tranh khốc liệt của các thương hiệu nông sản đén từ các nước khác. Câu hỏi đặt ra là
làm thé nào để hàng nông sản Việt Nam phát huy được thé mạnh và xây dựng được
thành công thương hiệu của mình trước tình hình tự do thương mại hóa hiện nay, nhất
là sau khi chúng ta đã gia nhập TTP ? Đây là vấn đề hét sức cấp thiết.
Trên thực tế, hầu hết các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đều ở
dạng thô hoặc sơ chế, khi xuất khẩu phải thông qua các thương hiệu trung gian của
nước ngoài. Điều đó khiến cho mặt hàng nông sản nước ta không phát huy được lợi
thế so sánh của mình trước các thương hiệu nông sản của nước khác. Là một nước có
lợi thế xuất khẩu hàng nông sản thì việc xây dựng và phát triển các thương hiệu nông
sản trở nên vô cùng cần thiết, bởi muốn cho ngành nông nghiệp phát triển thì sản
phẩm nông nghiệp phải có tính cạnh tranh cao, phải có thương hiệu lớn. Đứng trước
những thuận lợi và thách thức to lớn trong quá trình hội nhập kinh té quốc té, ngành
nông sản Việt Nam cần tạo lập được thương hiệu vững chắc để nâng cao năng lực
cạnh tranh với các nước trên thế giới. Đây chính là lí do để em chọn đề tài: “Giải
pháp xây đựng thương hiệu hàng nông sản ở Việt Nam hiện nay ” làm khóa luận tốt
nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề


Cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài trên nhung

sản của Việt Nam

-

Khóa luận đi sâu nghiên cứu thực trạng xây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian (2007 đến nay)

-

Khóa luận đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng thành công thương hiệu
hàng nông sản của Việt Nam trong thời gian tới.

3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận tập trung vào 3 nhiệm vụ:

-

Làm rõ khái niệm liên quan đén thương hiệu và vai trò của việc xây dựng thương hiệu
đối với hàng nông sản ở Việt Nam. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu hàng nông sản
tại Pháp.

-

Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động xây dựng thương hiệu hàng nông sản của
Việt Nam trong thời gian (2007 đến nay)

-


Đây là cơ hội để Việt Nam khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế,
nhất là các mặt hàng nông sản chiếm đa số trong kim ngạch xuất khẩu cả nước.

5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận nghiên cứu truyền thống của kinh tế
chính trị là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương
pháp luận chung, ngoài ra còn sử dụng phương pháp tiếp cận trực tiếp sau: Phương
pháp phân tích hệ thống và tư duy logic học; thống kê, so sánh, điều ưa chuyên sâu;
phương pháp phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, khái quát vấn đề, đồng thời
luận văn cũng sử dụng các tri thức của các môn khoa học kinh tế liên quan, kế thừa và
sử dụng có chọn lọc những kết quả của một số công trình khoa học liên quan đến đề
tài.
6. Dự kiến đóng góp mới của đề tài


Thông qua cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng, đề tài góp phần làm rõ thêm
một số lý luận về xây dựng, phát triển thương hiệu. Đồng thời, đề tài đi sâu nghiên
cứu thực trạng xây dựng thương hiệu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm
gần đây, chỉ ra thành công và hạn chế trong quá trình xây dựng, đăng ký thương hiệu
hàng nông sản Việt Nam. Đe tài đã đưa ra những giải pháp để xây dựng thương hiệu
nông sản Việt Nam đứng vững ưên thị trường trong nước nói riêng và thị trường thế
giới nói chung trong những năm tới, góp phần thúc đẩy phát triển kinh té đất nước.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa
luận gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Một số lí luận chung
Chương 2: Thực trạng xây dựng thương hiệu hàng nông sản ở Việt Nam thời
gian qua
Chương 3: Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và những giải pháp xây dựng
thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trong thời gian tới

Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thương hiệu : “là một cái tên, từ ngữ ký
hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế... hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm
xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của người bán hoặc nhóm người bán với
hàng hóa dịch vụ của đối thủ cạnh tranh [12].
Đe hiểu rõ hơn về thương hiệu ta cần hiểu rõ về những thành tố của thương
hiệu - tức là các yếu tố cấu thành cho việc định vị hình ảnh thương hiệu trong tâm trí


người tiêu dùng cũng như để nhận sự bảo hộ của luật pháp. Một thương hiệu càng đầy
đủ các yếu tố trên bao nhiêu thì càng chặt chẽ và sâu sắc bấy nhiêu.
* Các yếu tổ cấu thành của thương hiệu bao gồm:
Một là, Tên thương hiệu (Brand name) là phần đọc lên được của thương hiệu,
như Disneyland, cà phê Trung Nguyên, ...
Hai là, Dấu hiệu, biểu tượng (Brand mark) là một phần của thương hiệu
nhưng không đọc được, chẳng hạn như một biểu tượng, mẫu vẽ, hoặc một kiểu chữ và
màu sắc riêng biệt, như hình con sư tử của xe hơi Peugeot Pháp, hay logo hình con thỏ
của tạp chí Playboy...
Ba là, Câu khẩu hiệu (Slogan) là một đoạn văn ngắn, chứa đựng truyền đạt các
thông tin mang tính mô tả và thuyết phục thương hiệu. Câu khẩu hiệu thường xuất
hiện trên truyền hình, đài phát thanh, các trang báo mạng điện tử, áp-phích, pa-nô.
Câu khẩu hiệu được xem là công cụ ngắn gọn, xúc tích và rất hữu hiệu trong tạo dựng
giá trị thương hiệu.
Bốn là, Logo là một biểu tượng của doanh nghiệp, là sự kết hợp hài hòa độc
đáo và sáng tạo của nhiều yếu tố như: tên doanh nghiệp, đối tượng khách hàng, đường
lối phát triển, phạm vi hoạt động. Thông thường Logo được sử dụng như một biểu
tượng nhằm tăng cường nhận thức của công chúng đối với tên thương hiệu. Chính
Logo là hình ảnh tạo điều kiện để khách hàng nhớ đến sản phẩm của công ty nhanh
hơn, bền lâu hơn.
Năm là, Nhạc hiệu là một yếu tố cấu thảnh của thương hiệu, được thể hiện
bằng âm nhạc. Đây là một hình thức mở rộng câu khẩu hiệu. Chỉ cần nghe đoạn nhạc,

hiệu đã tiến hành đăng kí.
* Quá trình phát triển thương hiệu bao gom:

-

Quảng bá thương hiệu: Hiện nay có rất nhiều công cụ để quảng bá thương hiệu, điển
hình trong việc xây dựng và quảng bá hàng hóa, trong đó nổi trội một số công cụ sau:
xây dựng website, quảng cáo, quan hệ công chúng.

-

Bảo vệ và phát triển thương hiệu: Thương hiệu luôn gắn liền với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì thế khi thương hiệu đã được đăng kí bảo hộ, doanh
nghiệp vẫn phải nỗ lực triển khai sử dụng thương hiệu của mình. Doanh nghiệp cần
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và quảng bá thương hiệu. Với sự phát
triển mạnh mẽ của thị trường, doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến, tìm ra đặc
điểm mới, khác biệt cho sản phẩm để có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người
tiêu dùng nếu không doanh nghiệp rất dễ bị tụt hậu. Bên cạnh đó, cũng cần tăng
cường quảng bá cho thương hiệu bằng việc phối hợp tất cả các kênh, nhân lực, tài
chính một cách hợp lý.

1.1.2.

Khái niệm về hàng nông sản
* Khái niệm và phân loại:
Theo phân loại của FAO, hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng khác

nhau như nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm hàng thịt sữa,
nhóm hàng nguyên liệu, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm khác. Trong mỗi nhóm


hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp


nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Mặt khác do sự biến thiên về điều
kiện thời tiết, khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích ứng nhất định với điều kiện
đó, dẫn đen những mùa vụ khác nhau. Vì vậy mà hàng nông sản mang tính thời vụ
cao.
-

Tính khu vực: Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất đai và
lao động là ở đó tiến hành sản xuất nông nghiệp. Nhưng mỗi vùng, mỗi quốc gia có
điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết rất khác nhau nên hoạt động sản xuất nông nghiệp
cũng khác nhau, sản phẩm nông nghiệp cũng khác nhau. Vì vậy, sản phẩm nông
nghiệp mang tính khu vực rõ rệt.

-

Tính phân tán: Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực cao, nên hàng
nông sản phân tán ở vùng nông thôn và toong tay hàng triệu nông dân đã trở thành
một trở ngại toong việc thu mua hàng nông sản của các doanh nghiệp.

-

Tính tươi sống: Hàng nông sản phần lớn là cơ thể sống cây trồng và vật nuôi. Các loại
cây trồng và vật nuôi phát sinh, phát triển theo quy luật sinh học. Do là cơ thể sống
nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu
đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch
sản phẩm cuối cùng. Vì vậy hàng nông sản dễ bị hư hỏng, kém phẩm chất.


của họ không có thương hiệu, sản phẩm không có uy tín, không đảm bảo chất lượng
thì khi muốn thâm nhập vào một thị trường mới sẽ khó có thể vượt qua được các rào
cản kỹ thuật trên. Hầu hét những sản phẩm nước ngoài xâm nhập được vào thị trường
quốc té đều là sản phẩm của những công ty, tập đoàn lớn và có tên tuổi. Vì vậy, đối
với các doanh nghiệp trong nước, sẽ là vô cùng bất lợi nếu sản phẩm của họ không có
thương hiệu.
-

Đối với người tiêu dùng: Hiện nay, các mặt hàng nông sản như rau quả hay lương thực
tràn ngập thị trường khiến người tiêu dùng rất khó nhận biết, phân biệt và đánh giá
đúng chất lượng sản phẩm. Nhất là khi các mặt hàng nông sản không có nguồn gốc
xuất xứ rõ ràng, người tiêu dùng lại càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của mình
và dành sự ưu ái đặc biệt cho những sản phẩm có tên tuổi và thương hiệu. Việc lựa
chọn những sản phẩm nông sản có tên tuổi và thương hiệu không những tốt cho sức
khỏe mà còn giúp họ tiết kiệm được thời gian và công sức trong việc tìm kiếm và lựa
chọn sản phẩm mong muốn nhất.
- Đổi với quốc gia: cùng với nhiều loại mặt hàng khác, các mặt hàng nông sản
có thương hiệu cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
ngành nông nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, một thương hiệu nông sản mạnh cũng giúp
quảng bá sự giàu có, trình độ phát triển; và góp phần tạo dựng lên hình ảnh - niềm tự
hào của mỗi quốc gia, dân tộc ữên thị trường quốc té.

1.2.2.

Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu hàng nông sản ở Pháp


Mặc dù những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý hơn đen
công tác xây dựng và phát triển thương hiệu nhưng việc xây dựng thương hiệu của
doanh nghiệp Việt Nam chưa bài bản và tương xứng với giá trị đích thực mà nhiều

Năm 1935 theo điều 115 bộ luật tiêu thụ của Pháp thì: đây là một công sở tự quản nhà
nước chịu trách nhiệm công nhận các sản phẩm, quy định chống lại mọi gian lận, giả
danh và lợi dụng tên gọi của chúng. Đe có một sản phẩm có tên gọi xuất xứ phải có
danh tiếng, phải được viện tên gọi xuất xứ quốc gia (INAO) công nhận. Tên gọi xuất
xứ đã được kiểm ưa không phụ thuộc quyền sở hữu của ai mà thuộc quyền sở hữu tập
thể . Với sáng kiến về tên gọi xuất xứ đã đạt được mục tiêu mang lại sau: “năm 1998
thu nhập của 130.000 nông hộ có được nhờ mặt hàng nông sản có tên gọi xuất xứ đã
được kiểm tra. Gần 90.000 nông hộ khai thác 460.000 hecta bằng 52% tổng diện tích
đất ưồng nho của Pháp để sản xuất ra khoảng 400 loại rượu vang, rượu mạnh” [9].
Đen nay “18 mặt hàng nông sản và thực phẩm do 7000 doanh nghiệp làm ra đã được
xếp hạng, được mang tên gọi xuất xứ đã được kiểm tra” [9]. Cũng trong năm 1998
toàn bộ hệ thống này đã mang về một doanh số là 82.8 tỷ Frames gần 13.8 tỷ USD ,
trong đó có 10.3 tỷ USD thu được từ rượu vang, 1.75 tỷ USD thu được từ các sản
phẩm sữa, cùng 130 ưiệu USD từ sản phẩm khác. Ngành rượu mạnh thu được 1.6 tỷ
USD xuất khẩu ra nước ngoài [9]. Ngoài ra tên gọi xuất xứ đã được kiểm ưa phát huy
tiềm năng của vùng đất ở nông thôn, phát huy, giữ gìn quy hoạch đất, cũng như giá trị
phong phú về nông nghiệp. Tên gọi xuất xứ được kiểm tra còn có nhiều giá trị gia
tăng như mọi người tôn trọng hơn vai trò của nông nghiệp và người nông dân trong
sản xuất, người nông dân được trả công một cách xứng đáng.
Ở Pháp, luật về tên gọi xuất xứ được triển khai để bảo vệ những người sản
xuất lương thiện chống lại hàng nhái, hàng giả,... Hiệp định Trips ký kết 1994 trong
khuôn khổ vòng đàm phán Urugoay, đã thừa nhận việc bảo hộ quốc tế đối với các tên
gọi xuất xứ thông qua khái niệm xuất xứ địa lý.
Có thể nói ở Pháp, luật tên gọi xuất xứ cũng như nhãn hiệu hoặc bằng sáng chế
thực sự trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống kinh tế...


Chương 2.
THựC TRẠNG XÂY DựNG THƯƠNG HIỆU HÀNG NÔNG SẢN Ở VIỆT
NAM THỜI GIAN QUA

cảnh sát kinh té. Biện pháp thứ 2 là nhóm dân sự gồm có: Tòa án dân sự, Tòa án nhân
dân các cấp. Biện pháp thứ 3 là nhóm hình sự gồm có: Cảnh sát kinh tế. Các cơ quan có


sự phối hợp tương đối tốt trong vấn đề xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp đưa ra nhiều lựa chọn khi áp dụng các biện pháp để chống
lại các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Đặc biệt các cơ quan địa phương cũng đã quan tâm đến quản lý các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất hàng nông sản nói riêng. Nhiều địa phương
có những sản phẩm xuất xứ địa phương nổi tiếng có thương hiệu như vải thiều Thanh
Hà, bưởi Đoan Hùng,...
- về hành lang pháp lý xây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt Nam: Hiện nay,
một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng, hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, tạo môi trường pháp lý đầy đủ,
minh bạch cho hoạt động sở hữu trí tuệ nhằm phát triển kinh tế của đất nước, hội nhập
quốc tế.
Đe thực hiện được nhiệm vụ trên, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì, phối hợp với các
cơ quan hữu quan soạn thảo và trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành 03 bộ
Luật, 01 Pháp lệnh, 16 Nghị định hoặc Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, 19 Thông tư hoặc các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành ban hành [2,
tr.6]. Đặc biệt, trong năm 2005, Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và hoàn thiện dự
thảo Luật Sở hữu ưí tuệ - một đạo luật chuyên ngành đầu tiên về sở hữu trí tuệ của Việt
Nam với phạm vi điều chỉnh rộng lớn và toàn diện, đã được Quốc hội chính thức thông
qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Có thể nói rằng, hệ thống
pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam từ khi Luật Sở hữu trí tuệ và một loạt các văn
bản dưới luật được ban hành, đã tạo ra một nền tảng pháp lý tương đối hoàn chỉnh, đầy
đủ và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động xây dựng thương hiệu
hiện nay.
Quy định mới về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp:
Ngày 26/6/2015, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 11/2015/TTBKHCN

duyệt. Đây là động lực cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản phát
triển thương hiệu. Với sự thành công này sẽ giúp hàng hóa Việt Nam trên thị trường thé
giới có tên tuổi hơn, có giá trị hơn.
Trong hai ngày từ 17 đén 18 tháng 3 năm 2016 tại Hà Nội, Cục Sở hữu trí tuệ đã
phối hợp với Dự án tăng cường năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt


Nam, tài trợ bởi Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cùng với các cơ quan chức
năng của Việt Nam tổ chức Hội nghị “Tăng cường phối hợp thực thi quyền sở hữu trí
tuệ”. Hội nghị là diễn đàn để các cơ quan chức năng cùng chia sẻ thông tin về tình hình
thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian qua, đặc biệt là thảo luận, chia sẻ kinh
nghiệm về những vấn đề cần phối hợp giữa các cơ quan thực thi cũng như với các chủ
thể quyền để nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian tới.
Liên quan đến chỉ dẫn địa lý và xuất xứ hàng hóa, ủy ban Châu Âu đã thực hiện
một chương trình mang tên ECAP nhằm bảo hộ các sản phẩm xuất khẩu của các nước
Asean .Trong chương trình này hàng loạt sản phẩm có chất lượng cao, mạng đậm truyền
thống văn hóa, xuất xứ nguồn gốc cụ thể và có những phẩm chất đặc thù của từng quốc
gia trong khu vực Asean được bảo hộ. Đặc biệt Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam đã được két
nạp vào Hiệp hội hồ tiêu thế giới (IPC) và hiện đang giữ chức chủ tịch (IPC).
Nhà nước phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức đào tạo, tập huấn, tuyên
truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, trong đó chú trọng công tác đào
tạo ngắn hạn và dài hạn nhằm tạo nguồn nhân lực có trình độ cơ bản và chuyên sâu bổ
sung cho hệ thống, nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ
cán bộ quản lý, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cán bộ nghiên cứu và triển khai... thuộc các
ngành, địa phương trong cả nước. Công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp đối
với doanh nghiệp, nhà nông được quan tâm và bước đầu được ữiển khai trên nhiều lĩnh
vực. Cùng với việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp, các hoạt
động hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt
là thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý) được tăng cường. Các chương trình này giúp doanh
nghiệp có cái nhìn khách quan để đưa ra các ý tưởng cho doanh nghiệp mình, đồng thời

trên thế giới. Xây dựng tốt thương hiệu nông sản Việt Nam tại các thị trường quốc gia
này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quá trình xuất khẩu nông sản Việt Nam,
mở rộng tiềm lực kinh té, hội nhập quốc té.
- Hoạt động cụ thể của doanh nghiệp cho xây dựng thương hiệu hàng nông sản:
Không chỉ có sự chuyển biến trong nhận thức mà hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam
đã có những hoạt động cụ thể đẩy mạnh quá trình cho xây dựng thương hiệu. Cụ thể:
về nhân lực, theo điều tra toong 500 doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thì có
26% doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách về thương hiệu, số còn lại thuộc ban giám
đốc 11%, thuộc phòng Marketing 29% hay phòng kinh doanh 12% và còn lại 13%


doanh nghiệp không có bộ phận thương hiệu, số liệu này được thể hiện ở biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1. Điều tra nhân lực doanh nghiệp đầu tư cho thương hiệu

(Nguồn Xây dựng và Phát triển thương hiệu, NXB Lao động và Xã hội )
Từ số liệu trên cho ta thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề
đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu. Trong đó đã phân thành các bộ phân
chuyên trách theo nội dung công việc rõ ràng. Qua đây có thể thấy kiến thức của doanh
nghiệp về vấn đề thương hiệu ít nhiều đã có thay đổi rõ rệt, cách hoạt động cũng thể
hiện được tính khoa học sáng tạo, chủ động và có chiến lược kinh doanh rõ ràng.
Quy mô cho xây dựng thương hiệu cũng bắt đầu có sự chuyển biến. Các doanh
nghiệp xuất khẩu đấy mạnh xây dựng, quảng bá thương hiệu qua tham gia hội chợ triển
lãm, đã có một số bộ phận chi cho hoạt động quảng cáo ưên báo, tạp chí, và thiết kế các
yếu tố thương hiệu. Khi tiến hành nghiên cứu ưên Internet ở Đắc Lắc với 113 doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê, có 19 doanh nghiệp (16,81%) đã có website quảng bá
thương hiệu cho sản phẩm, thương hiệu của mình.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status