TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ NGỌC
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG CAO BÁ QUÁT, HÀ NỘI THÔNG QUA DẠY HQC
PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP
10
HIỆN NAY
KHÓA LUÂN
• • • TỐT
• NGHIÊP ĐAI HOC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
ở trường Trung học phổ thông
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Quang Thuận
HÀ NỘI, 2016
Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của thầy cô và bạn bè. Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
giảng dạy chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tói thầy giáo - ThS. Nguyễn Quang
Thuận, người đã định hướng cho em nghiên cứu đề tài, cung cấp cho em những kiến
thức lý luận, thực tiễn cùng với những kinh nghiệm quý báu, nhiệt tình hướng dẫn,
động viên khích lệ trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận.
HS
: Học sinh
KNS
: Kỹ năng sống
SGK
: Sách giáo khoa
THPT
: Trung học phổ thông
MỤC LỤC
Chương 3. THựC NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” TRONG CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CAO BÁ QUÁT, HÀ NỘI..........................................................................................45
3.1.........................................................................................................................
3.2...........................................................................................................................
3.3.
PHỤ LỤC
3.4.
gia đình, bạn bè, với xã hội, không thể ứng phó được với những áp lực trong cuộc
sống hay dễ bị lôi kéo, kích động vào những tệ nạn xã hội. Nhiều người có cuộc sống
khép kín với thực tại, sống chìm trong thế giới ảo, ít tham gia vào các hoạt động tập
thể, ít khám phá và thể hiện khả năng tiềm ẩn của mình, khó khăn trong việc hòa nhập
với cộng đồng xã hội... Do đó, việc giáo dục kỹ năng sống là một điều cần thiết, đặc
biệt là với thế hệ trẻ, là những học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường.
3.8.
Chính bởi vậy, giáo dục kỹ năng sống đã và đang được cả thế giới quan
tâm và bàn luận. Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi ngưòi họp tại Senegal
(2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói
rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo
dục kỹ năng sổng phù hợp”, còn mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo
dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học”. Giáo dục kỹ năng sống cho
người học là một nhiệm vụ quan ttọng đối với giáo dục các nước.
3.9.
Ở nước ta trong thòi gian gàn đây, giáo dục phổ thông đang đổi mói
mạnh mẽ theo hướng tiếp cận kỹ năng sống với bốn trụ cột đó là: “Học để biết, Học
để làm, Học để khẳng định mình và Học để chung sống”. Việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh phổ thông được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: giáo
dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống
HIV/AIDS, giáo dục phòng chống tai nạn thương tích... Ngoài ra, các nội dung giáo
dục kỹ năng sống cũng được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục có
xa rời cuộc sống hiện thực; những mối quan hệ với gia đình, thầy cô, bạn bè, mái
trường và quê hương đất nước chưa được thể hiện sinh động và sâu sắc. Chính những
hạn chế về nội dung và phương pháp dạy học đã kìm hãm, gây khó khăn cho việc
GDKNS cho HS.
3.12.
Bằng việc sử dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học thích hợp
trong giảng dạy phàn “Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD, GV có thể
giáo dục những KNS cần thiết cho các em hiệu quả hơn. Xuất phát từ ý tưởng trên, tôi
lựa chọn đề tài: ‘Giáo dục kỹ năng sắng cho học sinh trường trung học phổ thông
Cao Bá Quát, Hà Nội thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức”môn Giáo
dục công dân lớp 10 hiện nay”.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
3.13.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu của các tổ chức, học giả
trên thế giới và trong nước đã trình bày một cách khoa học cơ sở lý luận của vấn đề
KNS, GDKNS và các biện pháp, hoạt động GDKNS cụ thể như sau:
3.14.
Trên thế giới
3.15.
Trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, quan niệm về
Trong nước
3.19.
Có nhiều chuyên gia và các nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu từ
nhiều góc độ:
3.20.
Nguyễn Thanh Bình trong cuốn giáo trình “Giáo dục kỹ năng sống”
ngoài việc trình bày một số vấn đề chung về KNS và GDKNS còn đề cập đến thực
trạng GDKNS ở Việt Nam giúp cung cấp cho người đọc “cái nhìn tổng quan về quá
trình nhận thức về kỹ năng sống ở Việt Nam và thực hiện giáo dục kỹ năng sống trong
các bậc học qua đổi mới giáo dục và chương trình, dự án hàm chứa kỹ năng sổng do
các tổ chức trong và ngoài nước tiến hành. Qua đó có thể nhận thấy việc giáo dục kỹ
năng sống còn hạn chế và cần phải được quán triệt tiếp cận kỹ năng sổng trong quá
trình đào tạo ”[3,63]. Qua phần thực trạng mà tác giả trinh bày, người đọc có thể hình
dung một cách tổng quát về GDKNS ở Việt Nam và thấy được những hạn chế, thiếu
sót trong quá trình tiếp cận này.
3.21.
Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh phổ thông” cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm
những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ
chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học” [13,
26].
Mục đích nghiên cứu
3.25.
Khóa luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả GDKNS cho
HS THPT qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
3.26.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về KNS, và GDKNS
cho học sinh THPT qua dạy học môn GDCD.
-
Thực nghiệm sư phạm về giáo dục KNS cho HS phổ thông qua dạy học môn GDCD ở
trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội.
-
Đe xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho HS thông qua
dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GGCD 10.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1.
+ Các phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích và tổng
họp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp so sánh và hệ thống.
3.31.
+ Các phương pháp thực tiễn: phương pháp thực nghiệm sư phạm,
phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn, phương pháp thống kê toán học.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1.
Ỷ nghĩa lý luận
3.32.
Đề tài góp phần bổ sung, hệ thống hóa, làm rõ cơ sở khoa học và các
phương pháp dạy học đối với việc hình thành, phát triển những KNS cho HS.
6.2.
Ỷ nghĩa thực tiễn
3.33.
Thông qua việc dạy thực nghiệm một số bài giảng phần “Công dân vói
đạo đức” ở trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội, đề tài cung cấp một số tài liệu tham
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về
tiếp thu tri thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
3.40.
Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên họp quốc
(UNESCO), KNS gắn vói bốn trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to
know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định,
giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả...; Học làm người (learning to be) gồm các kỹ
năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,...;
Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như:
giao tiếp thương lượng, tự khẳng định, họp tác, làm việc nhóm, thể hiện sự cảm thông;
Học để làm (Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ
như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,... [7,7-8].
3.41.
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì KNS là năng lực tâm lý - xã hội
thể hiện khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những yêu càu và thách thức của
cuộc sống. KNS còn được xem như khả năng duy trì ừạng thái khỏe mạnh về mặt tinh
thần biểu hiện qua các hành vi phù họp khi tích cực tương tác với người khác và với
những người xung quanh cũng như nền văn hóa xã hội. KNS được hình thành chủ yếu
dựa trên những kỹ năng về mặt tinh thần trong đó những kỹ năng này thể hiện vai trò
điều tiết cuộc sống làm cho những kỹ năng hoạt động hay những kỹ năng thể chất
cũng được thực thi một cách có hiệu quả.
Gừio dục kỹ năng sắng
3.45.
Giáo dục KNS được áp dụng theo nhiều cách khác nhau và nhiều lĩnh
vực khác nhau, tùy từng địa phương. Ở một số nơi, KNS được hướng vào giáo dục vệ
sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nơi khác, giáo dục KNS nhằm giáo dục hành
vi, cách cư xử, giáo dục an toàn ừên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục
phòng chống HIV/AIDS hay giáo dục lòng yêu hòa bình.
3.46.
GDKNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ
thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những
hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống
cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.
3.47.
GDKNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân
cách toàn diện thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướng tới mục tiêu hình
thành khả năng tâm lý xã hội để người học có thể vượt qua những thách thức của cuộc
sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các
chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm, trí tuệ xã hội.
3.48.
-
Nguyên tắc trải nghiệm
3.51.
KNS chỉ được hình thành khi ngưòi học được trải nghiệm qua các tình
huống thực tế. HS chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc
đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng
giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế.
3.52.
GV cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ
học sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích
kinh nghiệm sống của chính mình và ngưòi khác.
-
Nguyên tắc tiến trình
3.53.
GDKNS không thể hình thành trong thời gian ngắn mà đòi hỏi phải có
quá trình: nhận thức, hình thành thái độ, thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà mỗi
yếu tố có thể là khởi đàu của một chu trình mới. Do đó, nhà giáo dục có thể tác động
Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kỹ
năng vào các tình huống “ thực” trong cuộc sống.
3.57.
GDKNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng.
Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, thầy cô, là bạn cùng học hay các thành
viên trong cộng đồng. Trong nhà trường phổ thông, GDKNS được thực hiện trong các
giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác.
1.1.4.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
3.58.
Có 21 nội dung GDKNS cho HS trong nhà trường phổ thông. Tuy
nhiên, trong giới hạn khóa luận tập trung làm rõ các kỹ năng như: kỹ năng hợp tác; kỹ
năng tìm kiếm và xử lý thông tin; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng thể hiện sự tự tin; kỹ
năng tư duy sáng tạo.
3.59.
3.60.
1.1.4.1. Kỹ năng giao tiếp
điều chỉnh giao tiếp một cách phù họp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ
nhưng không làm hại hay tổn thương cho người khác. Kỹ năng này giúp chúng ta có
mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với
các thành viên trong gia đình đồng thời biết cách xây dựng các mối quan hệ với bạn bè
mới tạo nên niềm vui cuộc sống.
3.64.
3.65.
1.1.4.2. Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân, tin rằng
mình có thể trở thành một ngưòi có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy
có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ. Tự tin trái ngược với sự hèn nhát, rụt rè, thiếu
niềm tin vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ. Sự tự tin
trong cuộc sống có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như tự tin thuyết
trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình cho tập thể lớp, cho
đến những việc làm lớn hơn như công bố phát minh của một nhà khoa học hay một
nhà văn cho ra đời tác phẩm của mình trước công chúng.
3.66.
Trong thời đại của sự hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, con người
luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh và những thách thức trong cuộc sống, chính bởi
vậy tự tin là điều rất quan trọng giúp chúng ta khẳng định bản thân và sẵn sàng đương
đầu với những khổ khăn.
3.70.
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam
kết và cùng làm việc hiệu quả vói các thành viên khác trong nhóm. Biểu hiện của
người có kỹ năng hợp tác là:
3.71.
+ Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm, tôn trọng
những quyết định chung, những điều đã cam kết.
3.72.
+ Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với
các thành viên khác trong nhóm và biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch
hoạt động của nhóm, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan
điểm của mọi người trong nhóm.
3.73.
+ Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt
nhiệm vụ đã được phân công, đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong
quá trình hoạt động, biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn,
vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung, có trách nhiệm về
những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra.
1.1.4.4.
3.77.
Kỹ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một
cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới, là khả
năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự
việc, độc lập trong suy nghĩ. Đó là kiểu giải quyết vấn đề nhờ sự động não tối đa nhằm
tạo điều kiện tìm ra phương án tối ưu dựa trên những phương án được nêu ra. Điều này
thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình phức tạp đòi hỏi sự nỗ
lực cao độ của hoạt động trí óc.
3.78.
Ở những người khác nhau thì có năng lực sáng tạo khác nhau không chỉ
do khí chất tâm lý, tri thức, vốn sống, cảm xúc mà còn do tác động của môi trường xã
hội, do trình độ và bản chất các nền kinh tế, văn hóa truyền thống ttong lịch sử dân tộc
và nhân loại. Mỗi dân tộc do vậy cũng có những khả năng và mức độ sáng tạo khác
nhau cao thấp hoặc loại hình thiên về lý thuyết hay thực hành, khoa học hay nghệ
thuật, công nghệ hay lý luận, khoa học tự nhiên hay xã hội.
3.79.
Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con
người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi
gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng
phó một cách linh hoạt và phù họp. Khi một người biết kết hợp tốt giữa kỹ năng tư duy
thông tin với nhiều thành tựu rực rỡ đã tạo ra những công cụ tìm kiếm thông tin tiện
ích hơn rất nhiều. Vói sự khám phá ra Internet, con người được tiếp cận với một kho
tàng sách khổng lồ của cả nhân loại và việc tìm kiếm thông tin về các vấn đề, lĩnh vực
trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc tìm kiếm này nếu không có những kỹ năng cần
thiết thì rất dễ dẫn đến tốn thòi gian và tràn lan mà không đạt được hiệu quả cần thiết.
Chính bởi vậy, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin trở thành một trong những KNS
quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ,
khách quan, chính xác, kịp thời.
3.82.
HS ở lứa tuổi THPT đã có sự phát triển và trưởng thành nhất định về
mặt tư duy so với ở lứa tuổi trước đó. Hơn nữa, ở các em có sự hứng thú tìm tòi và học
hỏi. Do đó quá trình học không chỉ dừng lại ở những kiến thức sách vở mà đã mở rộng
hơn thông qua việc tham khảo các nguồn thông tin khác nhau như sách, báo, internet,..
Chính bởi vậy, nếu rèn luyện được các kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin cho các
em, sẽ làm cho quá trình học tập trở nên hiệu quả và chủ động hơn, kích thích được
tính tự giác và sáng tạo trong học tập của các em.
1.1.5.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10
3.83.
-
Kỹ năng tư duy phê phán, so sánh các hành vi ừong một tình huống liên quan đến một
trong các phạm trù đạo đức.
-
Kỹ năng họp tác
3.88. Bài 12: Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình
3.89.
-
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
Kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định trong tình huống về những điều nên tránh
trong tình yêu.
-
Kỹ năng họp tác trong thảo luận về mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành
viên.
3.90. Bài 13: Công dân với cộng đồng
3.91.
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
Kỹ năng tư duy phê phán hành vi ảnh hưởng xấu đến an ninh đất nước.
-
Kỹ năng giải quyết vấn đề trong tình huống về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
3.94.
3.95.
-
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về những vấn đề cấp thiết của nhân loại (ô nhiễm
môi trường, bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo).
-
Kỹ năng tư duy phê phán đối với những hành vi gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch
bệnh hiểm nghèo.
-
Kỹ năng tư duy sáng tạo trong đề xuất những biện pháp góp phần giải quyết những
vấn đề cấp thiết của nhân loại.
3.96.
3.97.
-
Một số phương pháp, kỹ thuật dạy học được sử dụng trong giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trung học phổ thông
1.1.6.1.
Phương pháp giáo dục kỹ năng song
3.100. Phương pháp giáo dục KNS là các phương pháp tạo sự tương tác giữa
người dạy và người học, giữa người học với nhau và đề cao vai trò tham gia của HS
trong việc học và thực hành kỹ năng.
3.101. Các phương pháp này nhằm thực hiện mục đích cuối cùng của giáo dục
KNS là hướng đến xây dựng hành vi hoặc thay đổi hành vi chính bởi vậy chủ yếu bao
gồm các phương pháp học tập chủ yếu như động não, làm việc theo nhóm nhỏ, đóng
vai, kể chuyện, kịch, ừò chơi,...
3.102. * Phương pháp động não
3.103. Khái niệm: Động não là phương pháp giúp HS trong một thời gian ngắn
nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là phương
pháp có ích để phát hiện ra một danh sách các thông tin.
3.104. Để thực hiện phương pháp động não, GV có thể tiến hành bằng việc
nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc
trước nhóm, sau khi nêu câu hỏi GV nên khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến
càng nhiều càng tốt; đồng thời, GV cần liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to
không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường họp trùng lặp và làm sáng tỏ các ý kiến chưa
tiết dạy GDCD sẽ góp phàn hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng lắng nghe, kỹ
năng hợp tác - chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng
giải quyết vấn đề; kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tư duy,...
* Phương pháp đóng vai
3.109. Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, làm thử một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy
nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ
thể mà họ quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này
mà hơn thế, điều quan trọng nhất là việc thảo luận sau phần diễn ấy.
3.110. Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như: HS được rèn luyện, thực
hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực
hành trong thực tiễn; gây hứng thú và chú ý cho người học; tạo điều kiện phát triển óc
sáng tạo của ngưòi học; khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của ngưòi học theo hướng
tích cực.
3.111. Phương pháp đóng vai giúp HS phát huy óc sáng tạo, khả năng phân
tích, đánh giá và rèn luyện được cách ứng xử trong các hoàn cảnh khác nhau trong
thực tế. Đây là thước đo quan trọng hiệu quả của giáo dục KNS cho học sinh.
3.112. * Phương pháp nghiên cứu tình huống
3.113. Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay phương pháp nghiên cứu các
trường hợp điển hình): nghiên cứu tình huống thường là tình huống có thật hoặc là một
câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề
hay nhiều vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay
một băng cát - sét mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên
nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các
khan, nhàm chán; HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng
thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng
trong học tập. Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS vói HS, giữa
HS vớiGV...
3.119. Trên đây là một số phương pháp nhằm giáo dục KNS tiêu biểu. Các
phương pháp này là sự kế thừa các phương pháp dạy học nói chung, tuy nhiên đã được
bổ sung những chủ đề, nội dung giáo dục KNS phù họp với thực tiễn nhằm phát huy