TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DUC CHÍNH TRI
NGUYỄN THỊ PHONG THU
MỘT SÓ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN Lực ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH
QUẢNG NINH HIỆN NAY
KH ÓA LU ẬN TỐT N G H IỆP Đ Ạ I HỌC
Hà Nội, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DUC CHÍNH TRI
NGUYỄN THỊ PHONG THU
M ỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN N G UỒ N NH ÂN L ự c
ĐÁP Ứ NG YÊU CẦU CÔ NG N G H IỆP H Ó A , H IỆN ĐẠI
H Ó A Ở TỈNH Q U ẢNG NINH H IỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học
Th.s Trần Thị Hoa Lý
Hà Nội, 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Phong Thu
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
...... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN L ự c
VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA..................................................... 5
1.1. Một số vấn đề lí luận về nguồn nhân lự c.......................................................5
1.2. Một số vấn đề lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa............................... 8
1.3. Vai ưò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
.................................................................................................................11
Chương 2: THựC TRẠNG NGUỒN NHÂN L ự c TRONG s ự NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA_Ở TỈNH QUẢNG NINH................. 18
2.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh............................................. 18
2.2. Những ưu điểm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng ninh trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay................................................................ 21
2.3. Những hạn chế về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở tỉnh Quảng Ninh........................................................................................ 28
2.4. Nguyên nhân gây ra những hạn chế về nguồn nhân lực ừong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tính Quảng N inh..................................................... 31
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN Lực ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của huyện. Song nhìn chung chất
lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, trình độ phát triển chưa đồng đều, việc
quản lí, sử dụng và phân bố nguồn nhân lực ừong các vùng, ngành chưa họp lý,
chưa tận dụng và phát huy hết được tiềm năng và lợi thế của nguồn nhân lực. Do
vậy, cùng với quá trình đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1
thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Do đó tôi chọn đề tài “Một sổ giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay ” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là vấn đề được nghiên cứu ở những góc độ và mức độ khác nhau, nhiều
công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề nhân tố con người,
nguồn lực con người, về giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng và sử dụng
có hiệu quả nguồn nhân lực, đáng chú ý là những công trình sau:
- Bùi Thị Ngọc Lan: “Một số bổ sung, phát triển trong chiến lược phát triển
nguồn nhân lực Việt Nam” Tạp chí Lý luận chính tri, số 2/2007, tr.66-70. Tác
giả đưa ra một số những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ừong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Lê Xuân Đăng (2008), “Đào tạo lao động kỹ thuật cao cho doanh nghiệp”,
Báo Vĩnh Phúc, số (17). Tác giả bàn về thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh
Phúc, nguyên nhân và những vấn đề đạt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
- Vũ Bá thể: “Phát huy nguồn nhân lực con người để công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Kinh nghiệm quốc tể và thực tiễn ở Việt Nam”. Tác giả đề suất các giải
- Phạm vi nghiên cứu:
Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng
Ninh hiện nay.
5. Phưưng pháp nghiên cứu
Khóa luận lấy phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận của mình.
3
Ngoài việc sử dụng phương pháp chung của nghiên cứu khoa học, khóa luận chú
trọng vào phương pháp phân tích và tổng họp, phương pháp điều tra, thống kê,
trìu tượng hóa,...
6. Ý nghĩa đề tài
Tìm ra những vấn đề thuận lợi, khó khăn về nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh . Trên cơ sở đó đưa ra những
giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, phát huy tối đa những thuận lợi đó
để phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
tính Quảng Ninh.
7. Bố cuc đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được
trình bày với 3 chương
4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN
Lực VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Một sổ vấn đề lí luận về nguồn nhân lực
trình độ chuyên môn và kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề cập một cách đầy đủ
và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý - tinh thần,...
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực được hiểu: “là số dân và
chất lượng con người. Bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ năng
lực và phẩm chất” [10,tr.328].
Theo TS. Phạm Văn Đức thì nguồn nhân lực “chỉ khả năng phẩm chất của lực
lượng lao động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả
trình độ văn hóa, thái độ với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực
lượng lao động” [9,tr.l4].
Do vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn lực. Nhìn chung nguồn
nhân lực có thể hiểu như sau:
Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân
lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực
cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư ừong độ tuổi lao
động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá
nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí
lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực khi nghiên cứu cần được xem xét dưới hai mặt về số lượng
và chất lượng:
về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo
quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ.
về chất lượng khái niệm tổng họp về những người thuộc nguồn nhân lực thể
hiện ở các mặt sau đây: đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, trình độ chuyên
6
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa người ta quan tâm chủ yếu
đến:
- Lực lượng công nhân lành nghề: gồm những người có trình độ sơ cấp, trung
học trở lên, có bằng cấp, trình độ chuyên môn cao và chuyên môn nghiệp vụ
vững chắc, làm việc trong tất cả ngành nghề và lĩnh vực, trực tiếp điều hành
công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn.
- Nhân lực chuyên gia: gồm những người có trình độ rất cao, từ sau đại học
trở lên, gồm các chuyên gia kinh tế, chuyên gia công nghệ thông tin, chuyên gia
khoa học, công nghệ...
- Nhân lực cán bộ quản lí lãnh đạo: là những chính trị gia, cán bộ quản lí các
ngành, nghề, lĩnh vực, các cán bộ quản lí sản xuất kinh doanh.
1.2. Một số vấn đề lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở thế kỉ XVII, XVIII khi cuộc cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây
Ầu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao
động sự dụng máy móc. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và của
khoa học công nghệ, khái niệm công nghiệp hóa có sự thay đổi.
Đường lối công nghiệp hóa được Đảng ta xác định từ những năm 60 của thế
kỉ XX. Qua quá trình phát triển của lịch sử đường lối này ngày càng được hoàn
thiện. Tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa VII Đảng ta
xác định: “công nghiệp hóa đi đôi với hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm xuyên
suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Trên cơ sở kế thừa có chọn
lọc những tri thức nhân loại và kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở các nước trên thế giới cũng như từ thực tiễn công nghiệp hóa
ở Việt Nam, khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa được Đảng ta xác định
Đại hội đại biểu toàn quốc lần v in (1996) như sau: “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản suất kinh
8
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão, xu
thế giao lưu hội nhập ngày càng tăng, do vậy nhu cầu ứng dụng chuyển giao
công nghệ ngày càng nhiều. Khoa học công nghệ mới ngày càng tinh vi hơn góp
phần vào việc giải quyết tìm kiếm các vật thể mới, nâng cao năng lực quản lí và
lao động của con người. Khoa học công nghệ tham gia vào yếu tố của lực lượng
sản xuất, góp phàn làm phong phú thêm công cụ sản xuất, nâng cao kĩ năng sản
xuất, góp phàn vào sự phát triển của sản xuất nói riêng và sự phát triển xã hội
nói chung... Vì thế, Việt Nam tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa để có thể nắm bắt được những cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến trên thế giới góp phần phát triển lực lượng sản xuất và các linh
vực khác của đời sống xã hội.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn có tác dụng to lớn là:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phàn phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần. Khi kết thúc thời kì quá độ hình thành nền kinh tế công nghiệp với
cơ cấu công nghiêp, nông nghiêp, dịch vụ, phân công họp tác quốc tế sâu rộng,
cải tiến xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình
thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp, là nền nông nghiệp
lạc hậu. Vì vậy công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tạo ra những điều kiện
vật chất, kĩ thuật cần thiết về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để
không ngừng tăng năng suất lao động, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện công bằng xã
hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật làm biến
đổi về chất lượng sản xuất, nhờ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực- nhân tố
trung tâm cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đồng thời tạo ra điều kiện vật chất
11
chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
VIII, một quan điểm cơ bản được khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn
liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá
trình phát triển” [7,tr.l 13]. Quan điểm này là sự diễn đạt cụ thể hơn mục tiêu
phát triển của đất nước đã được nêu trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh. Đó là kết quả của một quá trình năng động tìm tòi, lựa chọn mô
hình thích họp để xây dựng đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “nếu nước được độc lập mà nhân dân không được
hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” [14,tr.56]. Với mô hình
đã được lựa chọn ngay từ đầu sự tăng trưởng kinh tế đi liền với tiến bộ và công
bằng xã hội, tạo những điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội, tìm
được động lực từ các nhân tố xã hội, lấy hiệu quả của sự tăng trưởng kinh tế làm
nảy sinh những nhân tố động lực xã hội cho sự tăng trưởng kinh tế. Mô hình
đồng thời đặt con người vào vị trí trung tâm như Đại hội làn thứ VIII đã khẳng
định: “lấy việc phát huy nhân tố con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững” [7,tr.85].
Đối với nước ta khi chiến lược phát triển đất nước được xác định là đẩy nhanh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đinh hướng chủ nghĩa xã hội nhằm
mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì vấn
đề xác định đúng và huy động có hiệu quả những nguồn lực vốn có và có thể tạo
ra trong tiến trình phát triển càng trở lên quan trọng. Khi xác định chiến lược
phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực
làm cơ sở cho việc thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
là: nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất, tiềm lực
khoa học- kĩ thuật vốn có, các nguồn lực ngoài nước và kinh nghiêm quản lí.
Khi xem xét vai trò của nguồn lực con người cần đặt nó trong quan hệ với các
đẩy sản xuất phát triển.
13
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sử dụng rất nhiều vốn đầu tư, vì vậy
với chính sách đàu tư đang được đổi mới thông thoáng hom nên Việt Nam đang
là nới rất thu hút được sự đầu tư của nước ngoài. Thực tế cho thấy rằng, chúng ta
có nguồn nhân lực rất đông đảo, lực lượng lao động của chúng ta trẻ, khỏe và
đang được đào tạo với kĩ thuật cao. Ở đâu có nguồn nhân lực rẻ và chất lượng
cao thì ở đó thu hút đàu tư đông đảo.
Ngày nay như phát triển như vã bão của các mạng khoa học- kĩ thuật và công
nghệ hiện đại đang đưa nền kỉnh tế của các nước công nghiệp phát triển, vận
động đến nền kỉnh tế tri thức, điều này đòi hỏi tất cả các nước phải có nguồn lực
đông đảo đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao để đảm bảo theo kịp thời
đại. Ở nước ta nguồn nhân lực chất lượng cao đang ngày càng được tăng cường
và nó là một ừong những yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực nước ta, là nhân tố
quan ừọng bậc nhất để nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học- công nghệ vào
đời sống kinh tế và đời sống xã hội.
Vai ừò quyết định của nguồn lực con người chỉ ừở thành hiện thực khi người
lao động có những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu mà quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đòi hỏi. Nguồn lực con người đang giữ
vai trò chủ động, trí tuệ, sáng tạo trong mọi lĩnh vực, ngành nghề. Mặt khác vai
trò của con người còn được thể hiện ở năng lực hoạch định chính sách, lựa chọn
giải pháp mà tổ chức thực hiện, biết quản lí, sản xuất kinh doanh trong điều kiện
nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra cũng cần thấy rằng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khó có
thể thành công nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao
động và sáng tạo, có tinh thần hợp tác, tự chủ, ý chí ươn lên và lòng ự trọng dân
tộc cao, tôn tọng pháp luật, đạo lí kết họp hài hòa yếu tố truyền thống và hiện
và tiến bộ.
Bằng trí tuệ của con người, mà trực tiếp nhất là nhân lực trong lĩnh vực giáo
dục, sẽ tác động và nâng cao chất lượng giáo dục. xã hội khoog có triển vọng
15
nếu xem nhẹ giáo dục và để cho giáo dục rơi vào tình trạng suy thoái xuống cấp.
Đảng ta cũng nhận thức được vấn đề đó và xác định quan điểm của chúng ta là
coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho thế hệ
tưomg lai. Việc phát triển giáo dục là việc của toàn xã hội, của tất cả các nguồn
lực, mà trực tiếp nhất là nhân lực trong lĩnh vực giáo dục.
Với những nội dung ừên cho thấy nguồn nhân lực đóng vai trò cơ bản quyết
định nhất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước yêu cầu đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay thì việc xác định vai ừò
của từng loại nguồn lực có ý nghĩa quan trọng để lấy đó làm cơ sở cho việc đề ra
các biện pháp phát triển phù hợp.
1.3.3. Vai trò của một sổ nguồn nhân lực đối vói sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiên đai hóa
•
•
Thứ nhất, vai trò của công nhân lành nghề: họ là những người trực tiếp quyết
định sự vận hành công cụ sản xuất, là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm lao
động có chất lượng cung cấp cho xã hội. Thêm nữa họ cũng là đội ngũ người
trực tiếp ứng dụng những thành tựu khoa học- kĩ thuật vào thực tiễn đời sống
sản xuất.
Thứ hai, đội ngũ các chuyên gia kinh tế, chuyên gia khoa học- kĩ thuật,
chuyên gia công nghệ thông tin... đây là lực lượng có trình độ chuyên môn sâu
trong một lĩnh vực, họ đưa ra những đánh giá chung và nhận xét về tình hình
Chương 2: THựC TRẠNG NGUỒN NHÂN Lực TRONG s ự NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH QUẢNG NINH
2.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ở tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh
được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi
núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng
kinh tế ừọng điểm phía bắcvừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tinh khai
thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên
nhiên thế giới.
Hệ thống giao thông của Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao
thông đường bộ, đường sắt, đường biển và cảng hàng không. Trong đó, hệ
thống đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ dài 381 km, đường tỉnh có 12 tuyến với
301 km, 764 km đường huyện và 2.500 km đường xã, toàn tỉnh có 16 bến
xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn họp. Đối với hệ thống đường thuỷ nội địa toàn
tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển thuộc Danh mục cảng biển ttong Quy
hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Các cảng biển lớn như Cảng Cải Lăn, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng
Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa.
Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa
nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.
Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên
đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú. Ảnh hưởng bởi hoàn lưu
gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm
với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô.
18
nghìn con giảm 2,1% so với chu kỳ và bằng 97,6% kế hoạch; lợn đạt 374,9
nghìn con, tăng 0,2% so với chu kỳ, bằng 89% kế hoạch). Sản lượng thịt lợn hoi
xuất chuồng đạt 68,4 nghìn tấn, tăng 3,9% so với chu kỳ.
Lâm nghiệp: Năm 2014 ước tính khai thác được 429.750 m3 gỗ tăng 12,6%
so với năm 2013 và trồng mới được 13.362 ha rừng tập trung tăng 5,4% so cùng
kỳ, vượt kế hoạch 16,6%.
Thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản ước 2014 giảm 554 ha so với năm
2013.Tổng sản lượng nuôi trồng và đánh bắt ước đạt 94.157 tấn tăng 3,6% so
cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng 38.266 tấn tăng 6% so cùng kỳ, sản lượng khai
thác 55.891 tấn tăng 2% so cùng kỳ. Toàn tỉnh hiện có 8.763 tàu cá lắp máy,
hoạt động ven bờ 6.664 tàu, vùng lộng 1.831 tàu, xa bờ 252 tàu, trong tổng số
loại tàu có công suất 90 cv trở lên là 262 tàu tăng 58 tàu.
Sản xuất công nghiệp
Theo Báo cáo Kinh tế Xã hội 2015, giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Quảng
Ninh đạt 38.142 tỷ đồng, bằng 105,5% kế hoạch, tăng 10,9% cùng kỳ. Chỉ số
sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tăng 106,5%, cao hom các năm trước (năm
2011: 103,46%; năm 2012: 92,05%; năm 2013: 100,27%; năm 2014: 104,4% ).
Khai khoáng đạt 101,38%, công nghiệp chế biến chế tạo đạt 114,55%, sản xuất
phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí đạt 139,15%.
Du lịch
Các hoạt động du lịch được đặc biệt quan tâm; nhiều chương trinh văn hóa
nghệ thuật được tổ chức, nhiều dự án đầu tư về du lịch của các nhà đầu tư lớn
được triển khai đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Tổng số khách du
lịch ước đạt 7,5 triệu lượt, đạt 97,5% kế hoạch, bằng cùng kỳ, trong đó khách
quốc tế 2,56 triệu lượt, đạt 93,1% kế hoạch, bằng 98% cùng kỳ. Khách lưu trú
3,6 triệu lượt, đạt 95% kế hoạch.Trong đó khách quốc tế đạt 1,26 triệu lượt, đạt
84,4% kế hoạch, bằng 96% cùng kỳ. Sau sự kiện phức tạp ở Biển Đông, khách du
20