MỤC LỤC
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Thứ tự Tên bảng biểu Trang
Bảng 2.1
Quy mô vốn nhân lực tại trung tâm điều độ hệ thống điện Miền
Bắc giai đoạn (2004 – 2008)
31
Bảng 2.2
Vốn nhân lực của trung tâm điều độ hệ thống điện Miền Bắc
theo giới tính giai đoạn (2004 – 2008)
33
Bảng 2.3
Vốn nhân lực của trung tâm điều độ hệ thống điện Miền Bắc
theo độ tuổi giai đoạn (2004 – 2008)
37
Bảng 2,4
Vốn nhân lực của trung tâm điều độ hệ thống điện Miền Bắc
theo vị trí công tác giai đoạn (2004 – 2008)
41
Bảng 2.5
Trình độ đào tạo của vốn nhân lực tại trung tâm điều độ hệ
thống điện Miền Bắc giai đoạn (2004 – 2008)
45
Bảng 2.6
Đội ngũ kỹ sư tại trung tâm điều độ hệ thống điện Miền Bắc giai
đoạn (2004 – 2008)
49
doanh của các doanh nghiệp.
Trung tâm điều độ hệ thống điện miền Bắc là một đơn vị hạch toán phụ
thuộc vào trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc Gia. Trong quá trình xây dựng
và trưởng thành, trung tâm cần đến nguồn tài nguyên quý giá nhất để phát triển
hơn trong nền kinh tế thị trường đang ngày càng cạnh tranh khốc liệt. Nhu cầu cả
về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực như thế nào đang là vấn đề đáng quan
tâm của trung tâm. Chính vì lý do đó em chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển
vốn nhân lực của trung tâm điều độ hệ thống điện miền Bắc trong nền kinh tế thi
trường’’ để làm đề tài thực tập tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng số lượng và chất lượng nguồn
nhân lực của trung tâm điều độ hệ thống điện miền Bắc và tìm ra các nguyên
nhân tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực của trung tâm.
Đề tài tập trung vài việc xác định những tồn tại, vướng mắc, cản trở và bất
hợp lý từ đó tính toán nhu cầu nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng từ
đó đưa ra phương hướng phát triển nguồn nhân lực.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ nguồn nhân lực của trung tâm, phạm vi
nghiên cứu là nội bộ trung tâm điều độ hệ thống điện miền Bắc.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng.
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra nghiên cứu trên cơ sở
kế thừa các kết quả nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu khoa học, sách báo về
nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
5. Dự kiến về những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá lý luận tổng quan về việc phát triển nguồn nhân lực.
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, có luận sứ khoa học về phát
47B
không cần có biên chế, nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành các
loại khả năng lao động, của những người giao kết, hợp đồng làm việc với doanh
nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào độc lập của bất kỳ quá trình nào
trong hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần và có nhiều loại nhân lực
(khả năng lao động) như: Lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực lượng chuyên môn,
nghiệp vụ, lực lượng công nhân viên… Mỗi một nhóm nhân lực đó đáp ứng một
nhu cầu riêng như: Đảm bảo việc làm ổn định, lo đảm bảo tài chính cho doanh
nghiệp, đảm bảo công nghệ, lo đảm bảo vật tư cho quá trình sản xuất… các nhu
cầu và chất lượng nhân lực cùng đáp ứng đến đâu thì làm cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thuận tiện và phát triển đến đó đáp ứng nhu cầu
phát triển mới của doanh nghiệp cho phù hợp với xu thế phát triển mới của xã
hội càng ngày càng phát triển như hiện nay.
Nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người
được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức
lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực hiện nay của doanh nghiệp còn
bao gồm tất cả phẩm chất tốt đẹp, kinh nghiệm sống, óc sáng tạo và nhiệt huyết
của mọi người lao động từ giám đốc đến các công nhân viên đang làm việc trong
doanh nghiệp. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình
trạng sức khỏe từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc
và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian
công tác, giới tính… Trí lực chỉ suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài
năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,… của từng con
người.Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm lực của
con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
như quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất xã hội, các thể chế, các quan hệ
xã hội, trình độ tổ chức và quản lí nhân sự trong doanh nghiệp, đặc điểm tâm
sinh lí, nhu cầu và động cơ cá nhân, hoàn cảnh và môi trường làm việc… Việc
khai thác và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải được xem xét trên
hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Nghĩa là việc sử dụng nguồn lực
này phải đem lại lợi ích kinh tế- xã hội cho doanh nghiệp. Vấn đề khai thác sử
dụng,đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không phải chỉ là vấn đề riêng của
mỗi doanh nghiệp mà còn là vấn đề của toàn xã hội.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không phải tự nhiên mà có, cũng không
phải tự thân nó đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của hoạt động sản xuất mà phải trải
qua một quá trình tuyển chọn, đào tạo và phát triển.
1.1.3. Vai trò vốn nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Theo giai đoạn của quá trình hoạt động của doanh nghiệp được tách lập
phân định thành ba nhóm chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Nhóm nghiên cứu đưa ra các ý tưởng, nhóm thiết kế và nhóm thi công. Khả năng
lao động của doanh nghiệp theo cách phân loại này phải có chất lượng đáp ứng,
phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại, tương lai. Ba nhóm người này phải có quan
hệ tỷ lệ (cơ cấu) hợp lý, có sức mạnh hợp thành lớn nhất và trong đó nhóm người
nghiên cứu đưa ra các ý tưởng đóng vai trò hết sức quan trọng nhất trong hoạt
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
động của một doanh nghiệp. Một ý tưởng đúng sẽ giúp cho doanh nghiệp đi
đúng hướng và sẽ tồn tại và phát triển bền vững, ngược lại một ý tưởng không
đúng đắn doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn thậm chí dẫn đến phá sản. Nhưng
bên cạnh đó, nhóm người hoạt động trong các lĩnh vực khác của doanh nghiệp
cũng đóng một vai trò trong hoạt động của doanh nghiệp nhằm đáp ứng các yêu
cầu phương hướng kinh doanh mà doanh nghiệp đưa ra.
hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm, dịch vụ, vai trò của nhân tố con người
ngày càng tăng lên. Trước đây, hàm lượng chất xám của lao động trong các sản
phẩm thấp, sản xuất không đòi hỏi lao động phải có trình độ cao, kỹ năng tốt, do
vậy mà lực lượng lao động không cần thiết phải qua các chương trình đào tạo
chuyên sâu mà đơn giản chỉ là các khoá học ngắn hạn trang bị kiến thức cư bản.
Trình độ của lực lượng lao động thấp chỉ thích hợp với trình độ phát triển thấp
của công nghệ, thiết bị và tất yếu là với sản xuất như vậy không thể có sản xuất
với năng suất cao, chất lượng tốt. Vì vậy, ta thấy được rằng nhằm đáp ứng được
các yêu cầu của doanh nghiệp không chỉ đáp ứng về số lượng mà còn phải đảm
bảo về chất lượng của lực lượng lao động trong doanh nghiệp.
Nhân lực là yếu tố cơ bản không thể thiếu quyết định tới thành công trong
kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu thiếu đi
yếu tố nguồn nhân lực thì việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể
thực hiện được. Nguồn nhân lực tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp, cũng
như cho toàn bộ xã hội. Nếu như không có yếu tố nguồn nhân lực thì không có
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Dù cho các nguồn lực khác như đất đai,
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
tài nuyên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ sẽ không được sử
dụng và khai thác có mục đích vì con người là yếu tố quyết định tới các yếu tố
khác do con người có thể sử dụng các yếu tố khoa học vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, chính con người sẽ sử dụng nguồn tào nguyên, nguồn vốn một cách
có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu con người và tạo ra của cải vật chất cho
doanh nghiệp và xã hội. Khi đó một doanh nghiệp có nguồn nhân lực dồi dào,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển
mạnh.
Nguồn nhân lực so với các yếu tố đầu vào khác không phải là yếu tố thụ
động mà là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực khác, chính vì vậy nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với quá trình
tưởng, tác phong làm việc và sinh hoạt của người lao động cùng với việc tạo ra
cơ cấu hợp lý cần thiết cho yêu cầu của sự phát triển doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng nhân lực là một lĩnh vực của sự phát triển nguồn nhân
lực. Ngày nay, khi nói đến phát triển nhân lực người ra thường quan tâm nhiều
đến việc phát triển về mặt chất lượng hơn là số lượng nhân lực vì chất lượng
nhân lực mới chính là nguồn gốc tạo ra giá trị của sức lao động, cũng chính là
nguồn gốc tạo ra hiệu quả kinh doanh, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, đặc biệt khi khoa học và công nghệ đã trở thành phương tiện chủ
chốt cho sự phát triển.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển vốn nhân lực của doanh nghiệp
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
1.2.2.1. Các yếu tố xã hội
Nguồn vốn nhân lực bao gồm số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn
nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực là khả năng lao động của người lao động.
Nguồn lao động chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố. Có thể phân loại
ảnh hưởng đến nguồn lao động theo các điều kiện cấu thành nguồn lao động,
hoặc kéo theo quá trình như quá trình tác động trước độ tuổi lao động trong thời
gian của độ tuổi lao động ,có thể phân nhóm nhân tố ảnh hưởng đến một số mặt
của nguồn lao động như sau:
- Nhóm nhân tố liên quan đến thể chất nguồn lao động như: di truyền, chất
lượng cuộc sống của phụ nữ, chăm sóc y tế, mức sống vật chất và cơ cấu dinh
dưỡng các điều kiện về môi trường sống, nhà ở, môi trường công tác thể dục thể
thao, ...
- Nhóm nhân tố liên quan đến nâng cao trình độ nghề nghiệp như: giáo dục ,
đào tạo… nhiều quốc gia đạt được những thành tựu khả quan trong phát triển
kinh tế chủ yếu bằng phát triển giáo dục đào tạo được ưu tiên và trở thành quốc
sách.
-Nhóm nhân tố liên quan đến các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế - xã
chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp. Đó bao gồm các nhân tố sau:
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
Thứ nhất, yếu tố công nghệ: Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật ngày
càng hiện đại thì việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cũng ngày càng thay
đổi nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu hiện nay của doanh nghiệp. Khi áp dụng
khoa học kỹ thuật vào công việc làm tăng năng suất lao động do đó tăng doanh
thu của doanh nghiệp, bên cạnh đó nó còn giải phóng sức lao động của con
người khỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại... Vì vậy ngày nay
khi chúng ta nghiên cứu về hiệu quả sử dụng lao động thì chúng ta phải chú ý tới
các yếu tố về mức trang bị khoa học công nghệ cho người lao động, mức cơ giới
hoá, tự động hoá của doanh nghiệp.
Đồng thời cùng với việc đưa công nghệ mới vào sản xuất thì trình độ tay
nghề và trình độ quản lý của lao động trong doanh nghiệp nhờ đó cũng được
nâng cao hơn. Bởi vì để tiếp thu công nghệ mới đòi hỏi người lao động phải
được đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ mới đáp ứng được yêu cầu của đổi
mới công nghệ, điều đó làm cho chất lượng lao động của doanh nghiệp được
nâng lên, nhờ đó hiệu qủa sử dụng lao động cũng được tăng lên.
Thứ hai, trình độ quản lý và tổ chức lao động: Bên cạnh yếu tố công nghệ
khoa học kỹ thuật thì trình độ quản lý và tổ chức lao động khoa học cho phép
nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất nhờ tiết kiệm lao động và sử
dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất hiện có. Trình độ quản lý và tổ chức lao động
khoa học là điều kiện không thể thiếu để nâng cao năng suất lao động và phân bổ
nguồn lực cho hiệu quả nhất với yêu cầu công việc của doanh nhiệp. Nếu thiếu
trình độ quản lý và tổ chức lao động không phù hợp với trình độ phát triển của
kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, thì chậm chí có công
nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến hiện đại cũng không thể đem lại hiệu quả cao.
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
nhân lực, phân công lao động và chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp cũng tác
động tới nguồn vốn nhân lực của doanh nghiệp. Trong giai đoạn đầu chuyển
sang kinh tế thị trường doanh nghiệp, nhà nước cần hỗ trợ đào tạo chuyển đổi
vốn nhân lực. Đáp ứng nhu cầu mở hoạt động mới của doanh nghiệp. Suất chi
cho hỗ trợ đào tạo, đào tạo chuyển đổi hơn trước và hơn của các đối thủ cạnh
tranh trong cùng thời gian thì mức độ hấp dẫn mới cao phải đủ lớn thì mức độ
hấp dẫn mới cao. Đào tạo chuyển đổi phải được tổ chức quy củ, khoa học. Đào
tạo nâng cao nguồn vốn nhân lực là nhu cầu, đòi hỏi thường xuyên. Khi chính
sách đào tạo nâng cao trình độ của doanh nghiệp hướng theo từng nhóm vốn
nhân lực theo mục tiêu đề ra thì suất chi toàn bộ phải hơn trước và hơn của các
đối thủ cạnh tranh trong cùng thời gian cho từng hình thức đào tạo trong nước
hoặc nước ngoài…là chính sách có mức độ hấp dẫn cao. Khi đó vốn nhân lực
của doanh nghiệp sẽ thực sự hứng khởi, có động cơ học tập đúng đắn và đủ
mạnh, tìm cách học khoa học nhất để thực sự nâng cao trình độ. Trong kinh tế thị
trường hoạt động của doanh nghiệp thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi đối với sự
tham gia của vốn nhân lực luôn mới về nội dung và phức tạp về tính chất. Cần tổ
chức đào tạo cho vốn nhân lực của doanh nghiệp một cách bài bản khoa học.
Phải tổ chức đào tạo cho những người nguồn vốn nhân lực của doanh nghiệp có
nội dung và cách thức phù hợp với công việc được phân công đảm nhận, ngược
lại nếu theo kiểu áng chừng, kinh nghiệm, hình thức, đối phó là có trình độ thấp.
Như vậy, chỉ khi đào tạo nguồn vốn nhân lực có nội dung, cách thức, bài bản thì
mới đảm bảo chất lượng cao, góp phần nâng cao thêm chất lượng nguồn nhân
lực của doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo đủ số lượng nguồn lao động phù hợp cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
Ngoài việc đào tạo vốn nhân lực ra cần có chính sách phân công lao động
hợp lý, đánh giá vốn lao động và chính sách đãi ngộ. Nếu chính sách sử dụng có
trọng tâm là được việc, là năng suất và chất lượng lao động của từng thành viên
hành tuyển chọn cẩn thận, sau đó là làm tốt công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn kỹ thuật cho nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Bên cạnh các yếu tố về đào tạo, phân bổ, tuyển chọn ngồn nhân lực, trình độ
nguồn nhân lực thì chính sách tiền lương, giá cả, và khuyến khích vật chất có
mối quan hệ đặc biệt tới nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Vì việc thực hiện
chính sách trả lương đúng nguyên tắc lao động, hợp lý, thoả đáng và có các
chính sách lương thưởng đối với những người có thành tích cao trong hoạt động
của doanh nghiệp sẽ có tác dụng tốt tới việc tăng năng suất lao động, khuyến
khích nguồn nhân lực của doanh nghiệp làm hết khả năng để lao động tạo ra của
cải vật chất cho doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo về số lượng lao động cần thiết
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.3. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp tác động đến việc phát triển nguồn vốn
nhân lực trong doanh nghiệp chính là cơ chế chính sách quản lý kinh tế và các
chính sách quản lý nhà nước về kinh tế, về lao động tác động đến chất lượng lao
động trong doanh nghiệp thông qua Bộ luật lao động.
Bộ luật lao động bảo vệ quyền lợi làm việc, lợi ích và các quyền khác của
nguời lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà, ổn định,
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng
suất, chất lượng và tiến bộ trong lao động, sản xuất dịch vụ, hiệu quả trong sử
dụng và quản lý lao động góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Thị trường
lao động cũng là một trong những nhân tố bên ngoài tác động vào nâng cao chất
lượng lao động. Thị trường lao động là nơi cung cấp một lực lượng lao động dồi
dào cho doanh nghiệp. Nếu thị trường này định hướng được chất lượng lao động
tốt đáp ứng được những yêu cầu của doanh nghiệp, sẽ cho doanh nghiệp một lực
xu hướng tăng trưởng nền kinh tế, lãi suất, lạm phát…
Chẳng han, khi chu kỳ nền kinh tế đi lên, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này làm cho nhu cầu các yếu tố
đầu vào tăng, trong đó bao gồm các yếu tố về nhu cầu nguồn nhân lực của doanh
nghiệp. Ngược lại trong thời kỳ suy thoái hoạt động sản xuất kinh doanh đình
trệ, các doanh nghiệp một mặt vẫn phải duy trì lực lượng lao động có tay nghề,
mặt khác phải giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có chi phí
lao động. Nhìn chung, trong giai đoạn suy thoái kinh tế nhu cầu nguồn nhân lực
giảm, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp không có nhu cầu tuyển dụng
thêm nguồn lao động mới, thậm chí còn sa thải lao động.
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải tuân thủ pháp luật
của nhà nước về thuế, lao động, cạnh tranh, giá, bảo hiểm. Những thay đổi của
các yếu tố này có thể tạo ra nhu cầu về nguồn nhân lực đối với doanh nghiệp
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
này, nhưng có thể làm cho nhu cầu nguồn nhân lực của doanh nghiệp khác giảm.
Việc phân tích các nhân tố thuộc môi trường chính trị và pháp luật có vai trò rất
quan trọng đối với quá trình dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của các doanh
nghiệp.
Các yếu tố chính trị và pháp luật ngày càng đóng vai trò to lớn tới hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tác động của các yếu tố này dễ dự đoán
hơn, nhưng mức độ ảnh hưởng của chúng lại ít khi thật rõ ràng. Chẳng hạn như
một sự thay đổi nào đó trong bộ luật hình sự có thể không có tác động trực tiếp
tới hoạt động của doanh nghiệp, tuy vậy một sự thay đổi trong bộ luật lao động
(độ tuổi lao động) hoặc trong chính sách xã hội (chế độ thai sản, chế độ trợ cấp)
chắc chán sẽ có tác động rất nhiều đến nhu cầu nguồn nhân lực của doanh
nghiệp.
Các nhân tố về văn hoá xã hội cũng là một trong các yếu tố tác động đến
nhu cầu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Các yếu tố văn hoá - xã hội có tác
quy mô sản xuất kinh doanh làm cho nhu cầu nhân sự tăng cao. Tuy nhiên, trong
môi trường cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải
có một đội ngũ nhân lực với tay nghề, trình độ chuyên môn cao, có khả năng
thích ứng được với môi trường cạnh tranh luôn biến đổi và khắc nghiệt như hiện
nay.
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Hoàng Trọng Nhân Lớp Kế hoạch
47B
Chiến lược kinh doanh xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp (tăng
trưởng, thị phần, sản phẩm mới…) và các mục tiêu này ảnh hưởng trực tiếp tới
số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực cần thiết trong tương lai. Các mục tiêu của
doanh nghiệp là các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp có tác
động rất lớn đến nhu cầu vốn nhân lực. Để xác định nguồn vốn nhân lực trong
doanh nghiệp chúng ta cần dựa vào các kế hoạch về nguồn nhân lực của doanh
nghiệp và các kế hoạch khác của doanh nghiệp có tác động gián tiếp tới nguồn
nhân lực của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp lập kế hoạch chiến lược cần phải
xem xét tất cả các nguồn lực, bao gồm cả nguồn nhân lực. Người phụ trách quản
lý nguồn nhân lực cộng tác chặt chẽ với các nhà quản lý khác, đưa ra các ưu tiên
chiến lược đối với các vấn đề về lực lượng lao động, thông báo và thảo luận với
họ về những phương pháp quản lý và nhu cầu về nhân sự của họ. Để thực hiện
các kế hoạch đó doanh nghệp cần phân bổ nguồn nhân lực một cách phù hợp, để
phân bổ được tốt nguồn nhân lực thì doanh nghiệp phải đảm bảo nguồn nhân lực
cho phù hợp. Chính vì lý do đó, các chiến lược và kế hoạch của doanh nghiệp là
nguyên nhân và yếu tố tác động tạo ra nhu cầu sử dụng vốn nhân lực trong doanh
nghiệp.
Để có thể thực hiện được các chính sách và các kế hoạch của doanh nghiệp
đề ra thì doanh nghiêp cần phải có ngân sách đó là nguồn cung cấp tài chính cho
mọi hoạt động của doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, các nhà lập kế hoạch phải tìm
cách sao cho kế hoạch chiến lược hoạt động của doanh nghiệp hoạt động trong